RSS

Tag Archives: Địa danh

Tình yêu, hạnh phúc trong ca dao – dân ca Quảng Nam

thaonguyenbt2010

Là một bộ phận cấu thành của văn học dân gian, ca dao – dân ca xứ Quảng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền,đồng thời, cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời hạnh phúc, tri thức mới. Ca dao – dân ca xứ Quảng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của ca dao dân ca Việt Nam.

Ca dao – dân ca xứ Quảng thường được sáng tác dựa theo cái khung có sẵn. Dù vậy,câu ca dao -dân ca mới sáng tác vẫn hay. Những tình cảm mới được lồng vào trong những khung chung có tình chất tiêu chuẩn mà mọi người đã thừa nhận làm cho câu ca dao dân ca dễ trở thành “của chung”. (Đặng Văn Lung, trong Văn học Dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo Dục, TP.HCM, 1999, tr. 298)

Ca dao – dân ca xứ Quảng có tính dị bản. Đây là một hiện tượng lạ lùng, độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ địa phương nào khác.

Ca dao – dân ca xứ Quảng mang đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Truyền tải tâm tư, tình cảm, tình yêu – hạnh phúc… của những con người nơi đây.

2. Quan niệm về tình yêu hạnh phúc của người dân xứ Quảng:

Những con người xứ Quảng – khúc ruột miền Trung, xứ sở của nắng mưa và gió bão. Những con người tưởng chừng như chỉ ngoi ngóp mãi trong cái bể khổ của cuộc đời. Vậy mà không, thật bất ngờ khi những câu ca dao – dân ca của họ ngân lên thì kiếp người đau khổ đã tan biến đi chỉ còn lại những gì thiêng liêng và cao quý. Họ bỏ qua những trắc trở, khó khăn, tìm đến niềm vui, tình yêu, hạnh phúc…

Người xứ Quảng quan niệm tình yêu – hạnh phúc của mình phải do chính mình lựa chọn hạnh phúc, họ chủ động đi tìm tình yêu – hạnh phúc của mình chứ không phải do ai sắp đặt cả. Tình yêu hạnh phúc được tìm thấy từ chỗ sợ cái lạ đến chỗ chủ động đi tìm cái lạ, khát khao, nhạy cảm với cái mới…

Tình yêu – hạnh phúc của những con người xứ Quảng ở trong chính những điều bình dị của cuộc sống hằng ngày của họ như một đặc sản, miếng ăn đậm chất Quảng cũng làm lòng người xứ Quảng xích lại gần nhau hơn, hay như chính những câu ca dao – dân ca nói về địa danh của quê hương cũng làm những người con đất Quảng tìm thấy tình yêu – hạnh phúc của mình trong đó khi xa quê,hoặc có thể là lời nhắn gửi nhớ thương, chờ đợi người đi được thổ lộ cũng làm người xứ Quảng có niềm tin hơn trong tình yêu – hạnh phúc của mình.

3. Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao dân ca xứ Quảng:

a. Tình yêu – hạnh phúc ở ngay trên chính hành trình đi tìm:

Dù phải lên non cao ,dù phải vượt qua tam tứ núi người xứ Quảng vẫn đi tìm. Vất vả là thế mà họ chỉ đi tìm cái bình thường giản dị nhất:

‘Lên non tìm hòn đá trắng
Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?
Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu
Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời.”

“Lên non tìm hòn đá trắng” – Ô hay! Không phải tìm vàng hay tìm trầm mà chỉ tìm hòn đá trắng! Thật là kỳ diệu cái màu trắng thanh bạch,trong ngần vô giá. Nhưng nếu hiểu ở câu chữ không thì chưa đủ. Đọc xong ngẫm lại ta thấy giai điệu không nhẹ nhàng êm ái chút nào bởi hai thanh trắc (đá trắng) ở cuối câu lục thì thật là lạ. Phải chăng đó là nghịch lý của cuộc đời dù chỉ đi tìm điều đơn giản nhất. Nhưng rồi khi đọc câu tiếp theo:

“Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?”

Ta như vỡ lẽ: À, thì ra con người xứ Quảng mượn hình ảnh bình thường nhất là hòn đá. Nhưng điều họ muốn gửi gắm lòng mình ở đây không phải là vật chất. Vì họ lại đi trách con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu. Phải chăng con người đất Quảng luôn nuôi dưỡng tình người. Họ nói đến chim phượng hoàng là nói đến hình bóng của tình nhân quân tử, của nhơn tình nhơn ngãi trong tâm hồn họ. Dù phải vượt qua mọi gian lao vất vả để đến với con chim phượng hoàng nhưng tiếc cái âm thanh mong đợi mà họ cần tìm lại lịm tắt. Nếu thả hồn tận hưởng khúc nhạc ca dao thì ta như bắt gặp nỗi lòng người thương, bắt gặp tình cảm dặn dò tha thiết luôn ngân nga:

“Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng
Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em”

Hay:

“Yêu nhau chẳng lọ bạc vàng
Tình thân nghĩa thiết xin đừng chớ quên”

Thế mới hiểu rằng đời người biết bao cảnh ngộ éo le trắc trở để khi yêu nhau họ phải dặn dò, than thở. Nhưng rồi cái thâm thuý của bài ca dao không dừng ở đó. Nó khẳng định một điều trở thành chân lý:

“Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu”

Vậy là dù hòn đá trắng – màu trắng trinh nguyên nhưng rồi nó cũng phải bị rêu xanh bao phủ bởi tháng năm, bởi mưa nắng. Thì ra bài ca dao đã nhắc nhở, cảnh báo rằng nếu ai không giữ được lòng mình thì thời gian sẽ làm cho ta không còn là ta nữa. Thần tình quá! Sự thay đổi sắc màu hay sự thay lòng đổi dạ của con người? Bài ca dao khép lại mà trong ta phải luôn suy nghĩ:

“Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời”

Thật là một sự bao dung và nhân hậu. Con người xứ ‘mía ngọt đường thơm’ không nguyền rủa đứa nào ăn ở bạc sẽ bị thế này hay thế khác… mà chỉ có tiếng dế não nùng thấu tận trời xanh. Nhưng thâm thuý lắm đấy! Tiếng dế réo rắt suốt đêm trường, liệu lương tâm con người bội bạc không day dứt, không dày vò, không nhức nhối trong hối hận trong đau khổ? Mà chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ở tâm hồn!

Vậy là bài ca dao hồn nhiên nhưng đặc quánh cốt cách của con người xứ Quảng mà cũng rất Việt Nam: Con người trọng nhân nghĩa, chung tình và ghét thói bội bạc vong ơn . Dù năm tháng có trôi xa, nhưng những lời ca cứ mãi ngân vang trong ta. Nói như Nguyễn Đình Thi thì theo dòng ca dao càng làm cho ta thêm yêu. Yêu là để sống. Là để thêm mạnh mẽ trong lao động, trong đấu tranh. Một tình yêu chất phác mà cao thượng, bình dị mà sâu sắc biết bao!

Là thế đó, dù rằng giai điệu bài ca dao cất lên có vẻ buồn, nhưng không thế,ẩn sâu bên trong đó vẫn có những cái mà người Quảng luôn tự khẳng định, họ nói ra để quên đi cái khổ, quên đi nỗi lòng và cảm thấy hạnh phúc vì những gì giấu kín đã được bộc bạch, họ nói ra để biết mình cần phải vượt qua những thử thách ,trở ngại đó. Và vì thế, người Quảng vẫn cứ thấy được tình yêu – hạnh phúc mà người đọc cứ ngỡ như rằng họ đang than thở.

b. Tình yêu – hạnh phúc ở sự chủ động, lựa chọn:

Chủ thể trữ tình trong ca dao – dân ca xứ Quảng nói về tình yêu đôi lứa đa phần là phụ nữ. Có lẽ tình trường họ hứng chịu khổ đau nhiều hơn nam giới, do vậy mà nhu cầu bộc lộ giãi bày bằng tiếng hát lời ca ở họ cũng lớn hơn chăng. Quả là khi yêu, người phụ nữ phải đối mặt với bao nhiêu bất trắc:

‘Thương chàng thiếp phải đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm không đau
Không đau ơi hỡi không đau
Té xuống năm trước năm sau chưa lành’

hoặc:

“Ba với ba là sáu
Sáu với bảy mười ba
Bạn nói với ta không thiệt không thà
Như cây đủng đỉnh trên già dưới non
Khi xưa bạn nói với ta chưa vợ chưa con
Bây giờ ai đứng đầu non đó bạn tề
Bạn nói với ta bạn chưa có hiền thê
Bây chừ hiền thê mô đứng đó bạn trả lại lời thề cho ta’

hoặc:

‘Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ
Bạn phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán sấm dật dờ quán sen’…

Cả khi hai người cùng chung cảnh ngộ, thì phụ nữ thường cũng thiệt thòi hơn:

‘Thiếp thương chàng đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng lộ tiếng ai hay
Miệng thế gian nhiều kẻ thày lay
Cực chàng chín rưỡi khổ thiếp đây mười phần’

hay:

‘Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya’

… Thế nhưng vượt lên tất cả, người phụ nữ đất Quảng vẫn thể hiện rõ bản lĩnh của mình trong tình yêu:

‘Thiếp không thương chàng thì ra chỗ dở
Cho nên thiếp phải thương đỡ vài ngày
Thiếp có chồng rồi thiên hạ đều hay
Sợ nước lui về đông hải càng ngày càng xa’
*
‘Liệu bề thương được thì thương
Đừng trao gánh nặng giữa đường cho em’,
‘Xa xôi chi đó mà lầm
Phải hương hương bén phải trầm trầm thơm’…

Cũng không ai khác ngoài họ đã chủ động dung hoà kiểu hôn nhân theo sắp đặt với kiểu hôn nhân có tình yêu – một mô hình hôn nhân đến nay và trong nhiều thập niên tới xem ra vẫn còn phù hợp. Người phụ nữ đất Quảng không đồng tình với kiểu hôn nhân sắp đặt:

‘Đôi ta tuổi lứa đang vừa
Trách cho cha mẹ kén lừa nơi mô’,
cũng không muốn bị làng xóm cười chê rằng:
*
‘Gái đâu gái hỗn gái hào
Trai chưa vô làm rể gái đã vào làm dâu’.

Họ tự đến với nhau, yêu nhau và cùng nhau thề non hẹn biển, sau đó tranh thủ sự đồng thuận của hai bên gia đình:

‘Trai mười bảy gặp gái mười ba
Trai anh hăm sáu gái em đà hăm hai
Lời nguyền với bạn không sai
Bữa mô có rảnh cậy ông mai đến nhà’

*
‘Con gà trống tía cái lông cũng tía
Ngọn khoai lang giâm ngọn mía cũng giâm
Thương nhau không dễ thương thầm
Thương thời rượu cỗ trầu mâm đến nhà
Em còn thừa lệnh mẹ cha
Còn có cô chú bác chứ không phải mình ta với chàng’…

Hay như:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Em thương anh cha mẹ không hay
Như ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Kể từ ngày đó đã xa đây
Sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn’

Khi cô gái Quảng dám tự chọn lựa hạnh phúc ‘thương anh cha mẹ không hay’ thì dẫu có ‘nghi binh’ sánh mình với ‘ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào’, thực chất cô cũng đã khẳng định cái hướng mà đời cô nhằm đến. Tính khẳng định của sự lựa chọn càng hai năm rõ mười hơn ở những cách nói: ‘kể từ ngày đó đã xa đây – sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn’, hay ‘lòng ta như chén rượu đầy – lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi’, hay ‘thương nhau chưa đặng mấy ngày – đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi’, rồi ‘hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày – chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương’. Có lẽ tính khẳng định của sự lựa chọn đạt đến đỉnh điểm khi chủ thể trữ tình – dường như vẫn chính là cô gái Quảng – tự đặt bản thân trong quan hệ với người thứ ba: ‘ai’, ‘nơi mô’, từ đó mở ra cho người mình yêu khả năng lựa chọn:’coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em’, ‘nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo’.

c.Tình yêu-hạnh phúc ở sự thay đổi cách nghĩ, cách nhìn:

Cuộc sống khắc nghiệt luôn đặt ra cho người dân xứ Quảng nhiều câu hỏi lớn,chẳng hạn cam chịu nhớ thương mà chấp nhận ở lại với cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, hay tìm sự bằng an để giũ bỏ quay về với cái-quen-xưa-bao-đời-vẫn-vậy. Và câu trả lời của người Quảng là:

‘Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thời về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thời đừng’

Không phải đừng về mà đừng quay về, đừng hồi hương, bởi giờ đây đã có thêm một quê hương!

Chính nhờ sống trong thế giới những cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, người Quảng xưa có nhu cầu và điều kiện đổi mới cách nhìn, cách nghĩ. Câu ca dân gian:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say’

Cực tả sự khát khao cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng.

‘Ra đi mẹ có dặn dò
Sông sâu chớ lội đò đầy đừng qua’

Kinh nghiệm sống khôn ngoan ấy giờ đây cơ hồ không còn thích hợp nữa. Cuộc sống giờ đây đòi hỏi con người phải biết tư duy kiểu khác:

‘Sông sâu không lội thì trưa
Đò đầy không xuống ai đưa một mình’…

Và nhờ biết tư duy kiểu khác mà thái độ ứng xử với cái lạ ở người Quảng lúc này không giống khi vừa mới đến:

‘Tay ta cầm cần câu trúc ống câu trắc lưỡi câu thau
Muốn câu con cá biển chứ cá bàu thiếu chi’

Hay:

‘Lên non tìm con chim lạ
Ở dưới phố phường chim chạ thiếu chi’.

Từ chỗ sợ cái lạ – ‘con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng’ – tới chỗ chủ động đi tìm cái lạ, đó là cả một bước tiến dài trong tư duy người xứ Quảng xưa. Họ cảm thấy hạnh phúc trong kiểu tư duy mới. Tình yêu – hạnh phúc của người xứ Quảng được truyền tài vào ca dao một cách thông minh là thế đó.

d.Tình yêu – hạnh phúc thể hiện qua những đặc sản, món ăn đậm chất Quảng:

Ngoài những lúc làm việc mệt nhọc,người Quảng ngồi lại cùng nhau,chia sẻ cho nhau tình yêu-hạnh phúc qua những món ăn đạm bạc quê mình,vừa ăn,vừa ngâm lên những câu:

“Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”

Hay:

“Ai về đất Quảng làm dâu
Ăn cơm ghế mít hát câu ân tình”

Rồi tiếp đó lại là:

“Tay cầm bánh tráng mỏng nương nương
Miệng kêu tay ngoắt,bớ người thương uống nước nhiều”

Ở xứ Quảng, ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng. Đúng thế, đem bánh tráng xúc với mít trộn là một cách ăn điệu nghệ. Tuyệt lắm! Hạnh phúc lắm thay!

Không chỉ thế, vào xứ Quảng còn được tận hưởng cái khoảnh khắc hạnh phúc hòa cùng với hạnh phúc của người Quảng qua các món ăn được ý nhị nhắc nhở qua những câu như:

“Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ”.

*
“Ai đi cách trở sơn khê,
Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng ”

Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu, mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. Hoặc:

‘Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…”

*
“Lụt nguồn trôi trái bòn bon ,
Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi .
Mồ côi ba thứ mồ côi.
Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường”

Bòn bon là môt loại trái cây, ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại Lộc – Quảng Nam, mùa mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái bòn bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha, nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

“Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường…
Xứ Quảng còn là đất mía đường:
Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền”

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

“Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh…

*
“Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương…”

Hoặc:

“Có duyên lấy đặng chồng nguồn
Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui
Nhón chân kêu bớ họ nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”

Bài ca dao quen thuộc trên trong kho tàng ca dao xứ Quảng không chỉ bày tỏ niềm hãnh diện, sung sướng của những cô gái miền xuôi được lấy chồng và ở trên miền ngược mà còn nhắn gởi trông đợi của họ đến với người miền xuôi về sự đối lưu, trao đổi sản phẩm, mít non, cá chuồn giữa hai vùng miền cách trở.

Rõ ràng, người xứ Quảng tự hào lắm chứ, hạnh phúc lắm chứ khi đưa những món đặc sản quê mình vào những câu ca dao – dân ca để khi ngân lên thì ôi hạnh phúc xiết bao cái chất Quảng ngọt ngào đã hòa chung vào cái tinh tế của ca dao – dân ca Việt Nam để giới thiệu đến bạn bè cả nước.

e. Tình yêu – hạnh phúc của người xứ Quảng ẩn chứa trong những câu ca dao – dân ca nói về địa danh quê hương mình:

Mỗi người dân xứ Quảng đều mang trong mình chút lưng vốn ca dao – dân ca. Có lẽ vì thế mà mỗi khi ai đó hỏi đến xứ Quảng thì dường như họ tuôn trào mọi cảm xúc yêu-nhớ-tự hào với cái tình quê vốn luôn được họ nuôi dưỡng hằng ngày, hằng giờ và cứ thế họ sẽ cất lên những câu ca dao – dân ca có những địa danh xứ Quảng bằng cái chất gọng đặc sệt Quảng, thì không thể trộn lẫn vào đâu được:

“Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,
Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say
Ðối với ai ơn trọng, nghĩa dày ,
Một hột cơm cũng nhớ ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên …”

Câu này đồng thời còn diễn tả rõ tánh tình người dân đất Quảng,bộc trực, bén nhạy, nhớ ơn, trọng nghĩa đối vơí các ân nhân của mình. Hay:

“Hội An đất hẹp, người đông,
Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu”

Phố Hội An nhỏ hẹp, nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi, khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

“Hội An bán gấm, bán điêù
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành’

Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp, còn Kim Bồng, Trà Nhiêu là vùng ngoại ô, chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

“Ai đi phố Hội, Chùa Cầu,
Ðể thương, để nhớ, để sầu cho ai,
Ðể sầu cho khách vãng lai,
Ðể thương, để nhớ cho ai chịu sầu”

Những người dân Hội An, vì sinh kế phải đi làm ăn xa, tuy nhiên vẫn thương và nhớ phố Hội.

“ Ðưa tay hốt nhắm dăm bào,
Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công,
Không mai thì mốt, hồi công,
Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân”

Kim Bồng là một xã bên kia sông, đối diện với Hội An, sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc, hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp, bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

“Năm hòn nằm đó không sai,
Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui,
Ngó về Cửa Ðại, than ôi,
Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình”.

Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình, không chen vơí các hòn đảo khác. Hoặc có thể là những câu:

“Trà My sông núi đượm tình,
Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà”

*
“Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt ,
Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,
Phân du, bạch chỉ rành rành ,
Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân”.

Trà My là huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam, có cả Thượng Kinh chung sống, chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

“Gập ghềnh Giảm thọ, Ðèo Le .
Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai”

Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt lè lưỡi.

“ Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông.
Thấy nước xanh như tàu lá,
Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn,
Thấy phố xá nghinh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,
Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu,
Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,
Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh”

Hàn tức là tên cũ của Ðà Nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðà Nẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ, chờ chàng về.

“Kể từ đồn Nhứt kể vô,
Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô, xuống Hàn,
Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang .
Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra.
Ngó lên chợ Tổng bao xa,
Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu
Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu.
Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm.
Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm ,
Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ”

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

“Kể cầu Ông Bộ kể ra,
Cây Trâm ,Trà Lý, bước qua Bàu Bàu,
Tam kỳ, Chợ Vạn bao lâu,
Ngó qua đường cái, thấy lầu Ông Tây,
Chiên Ðàn , Chợ Mới là đây,
Kế Xuyên mua bán, đông, tây rộn ràng
Hà Lam gần sát Phủ Ðàng,
Phiá ngoài bãi cát , Hương An nằm dài ,
Cầu cho gái sắc, trai tài .
Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng”

Các địa danh trên đây, kể từ trong kể ra, Lầu ông Tây tức là nhà lầu của Viên Ðại lý Hành Chánh Pháp đóng ở Tam Kỳ, còn Chợ Mới, Chợ Vạn, Kế Xuyên, Chiên Ðàn là những tụ điểm thương mãi quanh Tam Kỳ.

Vậy đó, dù rằng không nói trực tiếp cái tình yêu quê hương, cái hạnh phúc trong lòng mình nhưng mỗi người đọc ca dao – dân ca xứ Quảng tinh ý, nhạy bén sẽ cảm nhận được tình yêu – hạnh phúc được truyền tải qua những lời ca ấy.

g. Niềm tin tình yêu – hạnh phúc:

Những con người xứ Quảng có một niềm tin vững chắc, vô điều kiện:

“Thương nhau chớ quá e dè,
Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be
Thiếp nói thì chàng phải nghe,
Thức khuya, dậy sớm, làm che 1 ngày 12 xu,
Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo ,
Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,
Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,
Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau,
Lạy trời, mưa xuống cho mau.
Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng”

Hoặc có thể là câu ca dao – dân ca của lòng thủy chung, chờ đợi:

‘Ngó lại quê mình
Bởi em chèo thuyền
Trên sông cái
Em ngó lại quê mình
Chim trên cành còn đủ cặp huống chi mình lẻ đôi
Vì đâu đây với đó đã hai nơi
Chiếc đò ngang bằng chiếc đũa không lời nhắn đưa
Cây đa bến cũ đò xưa Người thương có nghĩa nắng mưa ta vẫn chờ’

Hay câu:

‘Sớm mai chàng hoá con chim trống đứng dựa bìa núi
Chiều lại thiếp hoá con chim mái đứng dựa bìa rừng
Nỉ non ba tiếng cho có chừng
Dầu xa muôn dặm biểu bạn đừng có xa’…

Câu ca dao thấm nhuần tình tự dân tộc, xuất phát từ tình yêu giữa đôi trai gái, có tính chất mộc mạc,chân tình, nói lên bản chất của người dân đất Quảng vẫn luôn tồn tại, không đổi thay, qua thời gian và không gian, giữa những dòng đổi thay của đất nước.

4. Nghệ thuật của người xứ Quảng trong ca dao – dân ca:

Nhìn chung ngôn ngữ ca dao – dân ca xứ Quảng nói chung thô mộc song không phải không có những nét đặc sắc.

a. Nghệ thuật chơi chữ:

‘Thương nhau trường đoạn đoạn trường
Lụy lưu lưu lụy dạ dường kim châm’.

Một câu lục bát mười bốn chữ mà đa phần là từ Hán – Việt, trong đó đáng chú ý là cách đảo từ ‘trường đoạn’ thành ‘đoạn trường’, ‘lụy lưu’ thành ‘lưu lụy’ nhằm khai thác sức mạnh biểu cảm của những từ đồng âm dị nghĩa. Khi cần ‘chữ nghĩa’, người Quảng cũng rất chi là ‘chữ nghĩa’, đấy chứ. Ở đây, nghệ thuật chơi chữ đã được vận dụng một cách triệt để, hay ví dụ như câu

‘Anh từ trong Quảng ra thi
Leo lên đèo ải chữ chi mập mờ’

hoặc câu:

‘Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Áo vắt vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chi chàng mà lấn lướt vô thi
Tiền năm quan ngủ quán mất đi
Trai nam nhơn mô đối đặng
Gái nữ nhi xin kết nguyền’…

Hay câu:

‘Con gái La Qua
Qua đường qua chọc

Qua biểu em rằng
Đừng có la qua’

Cái tên ‘La Qua’ vốn chỉ là một địa danh trong câu:

‘Dù xa cửa ngõ cũng xa
Dù gần Bến Điện, La Qua cũng gần’

đến đây bỗng trở thành ngữ động từ ‘la qua’ – tức ‘mắng anh’ (vì anh đã trêu chọc em). Ngay chữ ‘qua’ cũng rất đa nghĩa: vừa là thành tố của địa danh La Qua, vừa là anh (qua chọc, qua bảo, la qua), lại vừa là bước sang (qua đường). Rõ ràng nghệ thuật chơi chữ của người Quảng trong câu ca dân gian này khá là độc đáo.

b. Tính truyền thống và cách tân :

– Người Quảng thường sáng tác dựa theo kết cấu có sẵn: Có những câu ca dao sau:

Nước Thổ Hà vừa trong vừa mát
Đường Vạn Vân lắm cát dễ đi
(Hà Bắc)

*
Nước Trịnh Thôn vừa trong vừa mát
Đường Trịnh Thôn lắm cát dễ đi
(Thanh Hóa)

*
Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mát
Đường Nam Giang lắm cát dễ đi
(Nghệ An)

Nhưng với cái khung có sẵn ấy, bài ca ở vùng đất Quảng cũng vẫn có phần sáng tạo riêng:

Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát dễ đi
Em ơi má thắm làm chi
Để anh thương nhớ mấy con trăng ni không về..

Đấy là cách sáng tác truyền miệng phổ biến khắp nước ta…Người xứ Quảng đã cảm thụ truyền thống chung trong nghệ thuật ca dao – dân ca dân tộc.

– Tính dị bản trong ca dao – dân ca xứ Quảng:

Có lẽ câu ca dao truyền thống và tiêu biểu nhất của người xứ Quảng có nhiều dị bản nhất là:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Theo cuốn Văn học dân gian Quảng Nam(miền biển), tập III, năm 2001 thì đã có 14 dị bản. 10 dị bản thuộc loại trữ tình và 4 dị bản thuộc loại tự sự lịch sử. Có thể kể đến một vài dị bản như sau:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày
Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo’…

Tính chất trữ tình của bài ca này đã được chuyển hóa thành tính chất tự sự lịch sử, nhưng vẫn không đi ra ngoài mô típ của một câu cao dao cổ. Đây chính là hình thức vừa ổn định của yếu tố truyền thống vững bền, vừa biến đổi nhờ yếu tố cách tân, để bài ca đi sát với thực tế xã hội và tình trạng lịch sử…

c. Hiện tượng chính trị hóa ca dao – dân ca trữ tình:

Người Quảng nhạy cảm với chính trị, cho nên bên cạnh những câu ca dao – dân ca có nội dung chính trị hẳn hoi, chẳng hạn câu ca dao:

“Ai lên chín ngã sông Con
Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không’

hay câu hát:

‘Đứng bên ni Hàn
Ngó bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê Hà Thân
Ngó về Hàn phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí bòn vàng Bông Miêu
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau’

Rõ ràng hai chữ ‘nghênh ngang’ đã công khai bày tỏ thái độ chính trị của nhân dân Đà Nẵng đang phải chung sống với kẻ thù), còn khá phổ biến trong thơ ca dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng hiện tượng chính trị hoá ca dao – dân ca trữ tình.

Câu ca dao trữ tình quen thuộc :

“Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em’

được người Quảng chính trị hoá trở thành những câu trữ tình – chính trị:

Ra đời vào thời gian đất nước bị chia cắt sau Hiệp định Genève 1954.Ta thấy rằng trongnhững cảnh ngộ không thể nói thẳng được điều cần nói, người Quảng vẫn có thể kín đáo vận động chính trị đồng thời gián tiếp tự bộc lộ sự lựa chọn chính trị của mình. Điều đó đã được dễ dàng đưa vào ca dao – dân ca một cách khéo léo,tài tình.

d. Hiện tượng tách từ,nói lái:

Hiện tượng tách từ được người Quảng dùng khá thuần thục trong ca dao – dân ca :

‘Nhìn xem nam bắc tây đông
Thấy thiên thấy hạ mà không thấy chàng
Về nhà đứng thở ngồi than
Cơm ta ăn không đặng nhớ đến nghĩa chàng đó chàng ơi’

Hay:

‘Xa làm chi mà xa quanh xa quất
Xa làm chi mà xa tức xa tối xa vội xa vàng
Không cho thiếp thở chàng than đôi lời’.

Đến chữ nghĩa cũng chia rời, xa cách, huống chi đôi lứa đang yêu! Sở trường nói lái thường được tận dụng:

‘Một chữ anh cũng thi
Hai chữ anh cũng thi
May thời đậu trạng dẫu rớt đi cũng ông nghè hồi’.

Ông ‘nghè hồi’ ở đây không phải là ông tiến sĩ vinh quy (nghè: tiến sĩ; hồi: trở về), mà là ông ‘ngồi hè’ – vì đã thi hỏng tức vẫn còn là anh học trò nghèo kiết xác, không ngồi ngoài hè thì ngồi vào đâu được!

Với những câu ca dao – dân ca không chỉ ở mảng đề tài tình yêu – hạnh phúc, chúng ta đã có thể thấy được nghệ thuật của ca dao – dân ca xứ Quảng. Từ đó hiểu được những điều người xưa Quảng xưa muốn nói .

5. Kết luận:

Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao – dân ca xứ Quảng với lối nói mộc mạc đơn giản, đậm chất Quảng được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu, ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng đã nói lên được cái tình yêu – hạnh phúc rất riêng của người xứ Quảng.

Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao – dân ca xứ Quảng xuất phát từ những cái bình dị hằng ngày .Bằng những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ, ca dao – dân ca xứ Quảng đã thể hiện tâm tư, tình cảm mộc mạc, trong sáng, đậm đà tình nghĩa của những con người xứ Quảng chịu thương chịu khó. Họ bất chấp mọi trắc trở để tìm thấy niềm vui, lạc quan trong cuộc sống, tình yêu hạnh phúc.

Ca dao – dân ca xứ Quảng là một phần hồn về đề tài tình yêu – hạnh phúc trong nội dung ca dao – dân ca Việt Nam. Cho dù đi bất cứ nơi đâu,chúng tôi – những con người xứ Quảng vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao – dân ca xứ Quảng quê mình.

Có dịp nhìn lại ca dao – dân ca xứ Quảng để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng ca dao – dân ca vốn có rất nhiều những nội dung sắc sảo cần được giữ gìn, phát huy. Mà một trong những nội dung có thể kể đến là đề tài tình yêu – hạnh phúc. (Hết)

@ thaonguyenbt2010

Tài liệu tham khảo:

1. Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, tập I, Nguyễn Văn Bổn, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng chủ trì biên soạn, xuất bản năm 1983 và tái bản đầu năm 1986.
2. Huỳnh Ngọc Trảng và Vu Gia với phần biên khảo về văn học dân gian huyện Đại Lộc trong Địa chí Đại Lộc (NXB. Đà Nẵng – 1992).
3.Thạch Phương trong tiểu luận Ca dao của một vùng đất (Ca dao Nam Trung Bộ – NXB. Khoa học xã hội – 1994) bàn về ca dao và những thể loại có liên quan đến thơ ca dân gian của Quảng Nam – Đà Nẵng)
4 . Báo Quảng Nam
5. Báo Quảng Ngãi
6. Báo Đà Nẵng
7. Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiếng….

Advertisements
 

Nhãn: , , , ,

NGÔI CHÙA THIÊN MỤ QUÊ TÔI

Bài và ảnh Võ Quang Yến

Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò,
Em đi : cảnh vắng hẹn hò cùng ai ?

Tôi còn nhớ hôm nhà tôi bảo vệ luận văn trên đề tài ngôi chùa Thiên Mụ, nghe các giáo sư trong ban giám khảo và thí sinh vui vẻ tranh luận về mấy chữ “anh đi”, “em đi”, ai đi, ai đợi, ai hẹn, ai buồn trong câu ca dao quen thuộc, có lẽ là người đi lại nhiều nhất ngôi chùa nầy trong số các thính giả ở giảng đường hôm ấy, tôi thầm lặng thú vị thấy ngôi chùa thân thương tuổi trẻ của mình nay được trình bày trong viện đại học giữa kinh thành ánh sáng Paris. Nói cho đúng, chùa Thiên Mụ không đồ sộ như đài Borobudur bên Java, bí ẩn như kim tự tháp Ai Cập, mỹ miều như đền Taj Mahal xứ Ấn Độ, lâu đời như nhà thờ Đức Bà Paris, … nhưng thiền tự duyên dáng nầy âm thầm quyến rũ khách lại xem, luôn gây ra một ấn tượng nhớ nhung dạt dào trong lòng người đến viếng. Đừng nói đến những trai thanh gái lịch đã từng dắt nhau lại vãn cảnh sân chùa, đạp lá vàng khô, hay ngắm nhìn sông núi, tình tự thề ước, chùa Thiên Mụ luôn vẫn là nơi chứa đầy kỷ niệm êm đềm, suốt đời khó quên.

Về mặt lịch sử, ngôi chùa nầy là một cơ sở quan trọng của thành Huế và từ năm 1993, cùng với thành phố, chùa đã được Cơ quan Văn hóa Liên hiệp quốc công nhận làm Di sản Nhân loại. Thật vậy, được xây dựng trên đồi Hà Khê năm 1601, từ thuở Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, năm 34 tuổi, vài năm sau từ ngoài Bắc vào đây trấn thủ, chùa trở thành nhà thờ chính thức của triều Nguyễn. Liên tục chứng kiến những bước thăng trầm, những thời thịnh suy của vương triều cuối cùng nước ta, góp phần vào cuộc phát triển Phật giáo ở Việt Nam, chùa Thiên Mụ đã để lại nhiều tài liệu trong sách sử, tuy ngày nay lắm nhà học giả đang còn suy luận, bỏ công tìm hiểu nhiều chi tiết ngay tại chỗ. Ngay tên ngôi chùa đã là một huyền thoại có ý nghĩa. Từ lâu, năm 1719, Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1736) đã có viết trong cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí : ” ….Đêm hôm ấy bỗng có một người đàn bà trông thể sắc thì còn trẻ, nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh ngồi dưới chân đồi than vãn, rồi cất tiếng to : đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không có gì phải lo…Người đàn bà ấy nói xong liền biến mất….” Non 200 năm sau, năm 1910, ..trong bộ Đại Nam nhất thống chí, cũng có kể lại sự tích nầy. Tuy lời của người đàn bà có phần khác ” …Sau sẽ có vị chân chúa đến sửa sang dựng lại chùa nầy, tụ linh khí để giữ vững long mạch cho được bền vững. Nói xong thì biến mất, nhân đó mà núi nầy được gọi là Thiên Mụ sơn . Chúa thượng cho rằng đất nầy có linh khí, bèn dựng chùa gọi là Thiên Mụ tự….” nhưng không ngoài mục đích của các vua chúa Nguyễn dựa vào thiên nhiên, thần thánh để hợp pháp hóa bá quyền của mình, tin tưởng ở lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) : Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.

Đồi Hà Khê nằm về phía tây thành phố Huế, khoảng 6km, trên bờ tả ngạn sông Kim Trà hay Linh Giang tức là sông Hương bây giờ, hướng về dãy Trường Sơn hùng vĩ, còn mang những tên Hương Oản, Uyển Sơn huyền bí, được xem như điểm sơn triều thủy tụ giữa sông và núi, nơi phát xuất một nền văn hóa Phú Xuân phong phú lưu truyền mấy trăm năm. Tục truyền Cao Biền (821-887), thuở làm tiết độ sứ Giao Châu, đi ngang qua đây thấy cánh đồi giống như một đầu rồng trong thế long hồi cố tổ khoa địa lý phong thuỷ, bèn cho đào núi cắt đứt long mạch, cố ý yểm phá một sự nghiệp lớn có thể bột khởi trong tương lai. Dân địa phương trước kia đã có dựng trên nền một tháp Chăm cũ một thảo am thờ tự mang tên chùa Thiên Mỗ, nóc ở đỉnh núi chân gối dòng sông. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) nắm cơ hội tự xưng mình là chân chúa, liền cho lấp núi, dựng lên nền cũ thảo am ấy một ngôi chùa đặt tên chùa Thiên Mụ, trên bản viết Thiên Mụ Tự, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi nầy để bảo toàn long mạch, phúc dân giúp nước. Hành động khôn ngoan của Nguyễn Hoàng không những đem lại an cư lạc nghiệp cho dân quanh vùng Hóa Châu mà còn làm thành điểm phát xuất một vương triều Nguyễn trước 13 đời chúa, sau 9 đời vua, thống nhất đất nước thu về một mối. Chỉ một đời sau, trong thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1614-1635), dân cư đã đến đông đúc quanh vùng. Nhưng phải đợi đến đời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) mới lại nghe nói đến chùa với kỳ trùng tu năm 1665, vào lúc thiền sư Tạ Nguyên Thiều dòng Lâm Tế từ Quảng Đông đến hoằng dương Phật pháp ở Đàng Trong và qua trù trì chùa Hà Trung ở huyện Phú Lộc dưới đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1650-1691).

Phật giáo chỉ phát triển mạnh mẽ từ đời Quốc Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là người có tiếng mộ đạo. Năm 1695 chúa mời Thạch Liêm Hòa Thượng tức Đại Sán Hán Ông lại ở chùa tám tháng. Theo miêu tả của hòa thượng, chùa Thiên Mụ hồi ấy là đã là điện đài tuy lợp tranh, tường vách ván đố, nhưng kèo, cột, rui, mè bằng gỗ quý, chạm trổ hoa văn theo phong cách mỹ thuật truyền thống, quanh vườn trồng cây cổ thụ. Năm 1710, chúa cho đúc chuông lớn cung phụng Tam Bảo, nhân tứ nguyệt Đản nhật, tức lễ Phật đản tháng tư năm Canh Dần. Năm 1714, chúa cho san bằng đỉnh đồi Hà Khê, huy động quan chức, tuyển chọn quân lính, tìm gỗ đá ở các tỉnh về chạm trổ, sửa chữa chùa rộng đẹp trong hơn một năm. Chính ngay chúa đã thống kê những điện lầu xây dựng sau thời kỳ trùng tu trong một tấm bia đá cẩm thạch đặt trên lưng tượng một con rùa : ” Từ cửa núi đi vào có đìện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, bảo điện Đại Hùng, nhà thuyết pháp, lầu Tàng Kinh. Hai bên là lầu Chuông và lầu Trống, rồi điện Thập Vương, nhà Vân Thủy, nhà ăn, nhà tọa thiền, rồi điện Đại Bi, điện Dược sư, nhà ở của chư tăng, nhà trọ cho khách, không dưới vài mươi sở. Bên sau là vườn Tì Da, trong vườn có nhà Phương trượng, và các chỗ cũng không dưới vài chục sở. Tất cả đều sáng chói rực rỡ, khiến cho người xem phải kinh ngạc sợ hãi. Thật là một tòa Quang Minh trong thế giới toàn sắc vàng rực vậy.” Chúa đổi tên chùa thành Thiên Mụ Thiền Tự. Tuy là quốc tự và là nơi thừa tự dòng họ các chúa Nguyễn, sau chúa, chùa bị bỏ hoang, gỗ hư mọt, ngói lỡ sụt, và qua năm 1775, lúc Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) chạy trốn vào nam, kinh thành Phú Xuân bị quân Trịnh tàn phá thì chùa hoàn toàn đổ nát, kinh luận hủy hoại tiêu tán. Thời Tây Sơn (1786-1801), Phan Huy Ích (1750-1822) đã từng đau lòng trước cảnh hoang tàn lạnh lẽo (1788) : Am xưa nay biển tế đàn, Chùa xưa thờ Phật nay toàn để xe.

Khi Gia Long (1762-1820) lên ngôi (1802), nhà vua đợi đến năm 1815 mới cho sửa chữa chùa. Bửu điện Đại Hùng được xây lại nhưng vẫn giữ chổ cũ từ thời Nguyễn Hoàng, vua cho xây thêm các điện Di Lặc, Quán Âm, Thập Vương, Tàng Kinh Lâu, Lôi Gia, lầu Chuông, lầu Trống hai bên Nghi Môn. Năm 1825, vua Minh Mệnh (1791-1841) lại cho sửa chữa tiếp rồi nhiều lần cho thiết trai đàn. Việc làm đáng kể của vua Thiệu Trị (1807-1847) là cho xây tháp Phước Duyên năm 1844-1845 “Ta vốn chẳng phải kẻ sùng đạo, chỉ vì sủng nguyện của dân nên cho lập chùa mà thôi”. Ngày nay, tháp thờ Phật nhưng nghe theo di chiếu của vua Minh Mệnh thì phải là một công trình hỗn hợp hài hòa tam giáo và tín ngưỡng dân gian. Ngoài ngôi tháp, nhà vua đã cho sửa chữa nhiều, xây điện đài mới vào thay thế những sở nhà hư sập. Trước ngôi tháp được dựng đình Hương Nguyện trên nóc có pháp luân luôn quay theo chiều gió, hai bên có hai bi đinh hình tứ giác, từ bến sông đi lên có bốn trụ hoa biểu rất cao. Nói chung kiến trúc chùa đã thật hoàn hảo và gần giống như ngày nay trừ vài thay đổi. Đồng thời vua cũng cho tổ chức nhiều lễ lớn, Lạc thành, Đảo vũ, Vu lan. Trong bảng kê 20 thắng cảnh đất Thần Kinh kèm theo 20 bài thơ ca tụng, chùa Thiên Mụ qua bài Thiên Mụ chung thanh được sắp số muời bốn. Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Mỗi lần lên chùa với con, em, gia đình, vua hay làm nhiều bài thơ, cho khắc vào bia đá. Năm 1862, vua Tự Đức (1829-1883) sợ chữ Thiên phạm đến Trời nên cho đổi tên Thiên Mụ Tự ra Linh Mụ Tự, hy vọng có con nối dõi, từ đấy dân gian có hai danh từ để gọi chùa. Năm 1899, vua Thành Thái (1879-1947) lại cho sửa chữa, năm 1920 cho dựng bia ghi bài thơ ca tụng vẻ đẹp của chùa. Nói chung, người nhiều kẻ ít, phần lớn các vua chúa nhà Nguyễn đều có lo chăm sóc ngôi quốc tự nầy.

Ngày nay, đi bộ từ thành phố lên chùa, khách hết còn phải len lóc cây cối hoang rậm như thuở trước, gần đây cũng hết được dạo xem những quán hàng dọc lòng sông được giải tỏa, chỉ còn ngắm nhìn phong cảnh sông nước bao la, xa xa những dãy núi Xước Dũ, Kim Phụng yên lặng soi bóng sông Hương. Tuy nhiên, nếu tò mò tìm thì còn thấy đuợc cổng vào ngôi nhà-vườn truyền thống An Hiên của bà Lan Hữu nay được ghi làm Di tích quốc gia, viếng thăm trong khu Đại Chủng viện Kim Long ngôi mộ của cha Léopold Cadière (1869-1955), người đã khảo cứu sâu rộng văn hóa Phú Xuân và đóng góp nhiều trong hội Đô thành Hiếu cổ Association des Amis du vieux Hué. Lại gần thì từ xa đã thấy bóng tháp chùa thấp thoáng sau mấy hàng cây. Rõ ràng hơn là đến chùa bằng đò, nhìn từ sông tháp không bị che. Chỉ khi cập bến, nếu khách lại mùa hè thì mục kích được những cánh hoa phượng đỏ chói làm tăng vẽ cổ truyền của ngôi tháp rêu phong. Leo lên mấy tầng cấp, sau hai trụ đá, khách bước vào khuôn viên chùa qua bốn trụ biểu cao gần 8m, có gắn gạch hoa tráng men, với bốn vế đối của vua Thiệu Trị đánh dấu “ngự chế” phát huy tinh thần Phật giáo “dạy dỗ cho muôn loài biết đạo”. Sau những trụ biểu một sân cỏ có viền mép đá thanh là nền cũ đình Hương Nguyện được dựng vào những năm 1844-1845 nghĩa là đồng thời với bửu tháp Phuớc Duyên nhưng bị trận bảo năm Thìn (1904) đánh đổ, sau nầy được cất lại phía sau điện Đại Hùng. Gọi là đình vì không phải nhà thờ, cũng không phải đình làng mà là nơi nghỉ chơi của nhà vua. Hai bên nền là hai bi đình, nhà vuông xây gạch, nền ghép đá thanh : bia phía đông kể chuyện dựng tháp Phước Duyên, bia phía tây khắc thơ của vua Thiệu Trị vịnh chùa Thiên Mụ. Toàn khuôn viên nầy là một nơi dạo chơi thoải mái, trước mặt có sông Hương êm đềm, những con đò nhỏ lướt nhẹ trên sóng, vào chiều in bóng trong nước, trước dãy núi hùng vĩ bao la, không khỏi gợi trong lòng khách một trạng thái thảnh thơi, nhẹ nhàng nơi chốn Tiên Phật.

Đứng ngay sau nền Hương Nguyện là bửu tháp Phước Duyên, lúc đầu mang tên Từ Nhân, (người Pháp gọi “tháp Khổng Tử” ?) bảy tầng bên ngoài hình bát giác (tám góc), bên grong hình tròn, cao hơn 20m, kể từ mặt nước sông Hương thì cao gấp đôi. Ngó lên ngọn tháp bảy tầng, Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông… Tháp có tường bằng gạch nung già để trần không tô, dùng mạch vôi hồ kết dính, xây trên nền đá thanh cứng với một lớp móng chôn vùi dưới đất không biết dày bao nhiêu, trông tương tự tháp Chăm. Cả tám mặt đều có lan can, hai cửa trước và sau, trang trí bằng gạch hoa tráng men Long Thọ hay pháp lam. Mỗi tầng tháp có cửa tò vò cho ánh sáng lọt vào, cửa tròn thông gió không hoàn toàn cân đối, lại có hoa văn khác nhau : chữ thọ (tầng dưới cùng), chữ vạn (tầng tư và tầng trên cùng), hoa thị 4 cánh (các tầng năm và sáu) hay 6 cánh (tầng ba). Muốn lên tầng trên, khách phải trèo một cầu thang xoắn ốc hướng tay mặt chứ không phải hướng tay trái như thường lệ. Lên càng cao, tháp càng nhỏ lại nhưng kiến thiết các tầng đều giống nhau. Cầu thang xoắn ốc không đưa lên đến tầng chót, muốn lên phải dùng một cái thang gỗ bắc trong một ô cửa và di động được. Nghe nói lúc trước tầng nầy được bảo vệ chặt chẽ, có ổ khóa do bộ Lễ quản lý ! Vậy mà tượng Phật bằng vàng (nếu có) đặt ở đây vẫn bị mất ! Trên cửa tò vò có bức hoàng phi đề Tự Tại Thiên xác định đây là cõi Trời. Qua cửa tò vò khách được chiêm ngưỡng vừa một quang cảnh sông núi hùng vĩ chốn đế đô, vừa một bức tranh hữu tình của đất nước Hương Bình, nơi gặp gỡ sông nước và non cao.

Đứng ngay sau nền Hương Nguyện là bửu tháp Phước Duyên, lúc đầu mang tên Từ Nhân, (người Pháp gọi “tháp Khổng Tử” ?) bảy tầng bên ngoài hình bát giác (tám góc), bên grong hình tròn, cao hơn 20m, kể từ mặt nước sông Hương thì cao gấp đôi. Ngó lên ngọn tháp bảy tầng, Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông… Tháp có tường bằng gạch nung già để trần không tô, dùng mạch vôi hồ kết dính, xây trên nền đá thanh cứng với một lớp móng chôn vùi dưới đất không biết dày bao nhiêu, trông tương tự tháp Chăm. Cả tám mặt đều có lan can, hai cửa trước và sau, trang trí bằng gạch hoa tráng men Long Thọ hay pháp lam. Mỗi tầng tháp có cửa tò vò cho ánh sáng lọt vào, cửa tròn thông gió không hoàn toàn cân đối, lại có hoa văn khác nhau : chữ thọ (tầng dưới cùng), chữ vạn (tầng tư và tầng trên cùng), hoa thị 4 cánh (các tầng năm và sáu) hay 6 cánh (tầng ba). Muốn lên tầng trên, khách phải trèo một cầu thang xoắn ốc hướng tay mặt chứ không phải hướng tay trái như thường lệ. Lên càng cao, tháp càng nhỏ lại nhưng kiến thiết các tầng đều giống nhau. Cầu thang xoắn ốc không đưa lên đến tầng chót, muốn lên phải dùng một cái thang gỗ bắc trong một ô cửa và di động được. Nghe nói lúc trước tầng nầy được bảo vệ chặt chẽ, có ổ khóa do bộ Lễ quản lý ! Vậy mà tượng Phật bằng vàng (nếu có) đặt ở đây vẫn bị mất ! Trên cửa tò vò có bức hoàng phi đề Tự Tại Thiên xác định đây là cõi Trời. Qua cửa tò vò khách được chiêm ngưỡng vừa một quang cảnh sông núi hùng vĩ chốn đế đô, vừa một bức tranh hữu tình của đất nước Hương Bình, nơi gặp gỡ sông nước và non cao.

Ở mỗi tầng, một bức hoành phi đặt giữa hai vế đối. Hoành phi tầng dưới cùng đề tên của tháp : Phước Duyên Bảo Tháp. Lần lượt sáu bức hoành phi khác cũng có ba hay bốn chữ : Phúc bị quần sinh, Hóa thông vạn loại, Thiện căn hữu khế, Phước quả thường viên, Cực lạc cảnh, Tự Tại Thiên. Mỗi tầng thờ một Kim thân Thế tôn, theo bia đá Ngự chế Thiên Mụ Tự, từ trên xuống dưới : đệ nhất QuáKhứ Tỳ Bà Thi Phật (Vispasin) ; đệ nhị Thi Khí Phật (Sikhin) ; đệ tam Ty Xá PhúPhật (Vessabhu); đệ tứ Câu Lưu Tôn Phật (Krakuchanda) ; đệ ngũ Câư Na Xá Mâu NiPhật (Kanakamuni) ; đệ lục Ca Diếp Phật (Kashyapa) ; đệ thất Trung Thiên Điền Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật (Sakyamuni), Tây Phương Cực Lạc Pháp Vương (Amitabha), bồi chi hữu A Nan (Ananda), Ca Diếp (Kashyapa) tôn giả. Vậy thì có tất cả 9 hay 10 pho tượng. Dù sao, những tượng nầy bằng vàng (theo tiếng đồn ít nhất cũng có một pho và bị mất) hay bằng đồng sợ bị trộm cắp nên một dạo được thỉnh vào thờ ở điện Đại Hùng và thế vào tháp những tượng bằng thạch cao sơn màu đồng. Hình dạng và y phục các vị Phật quá khứ nầy không mấy khác nhau, tất cả tóc đen trừ một vị tóc vàng, chỉ phân biệt ở ấn quyết nơi hai tay. Năm 1999 tôi chỉ chụp được ảnh 8 pho tượng nầy. Từ năm 2007, những tượng bằng đồng đã được thỉnh về lại tháp.

Ngang hàng với tháp, hai bên có hai nhà lục giác xây sớm hơn và cũng lớn hơn bia đình tứ giác Thiệu Trị. Vách tường bằng gạch, kết dính với mạch vôi hồ như ngôi tháp, sáu măt nhà có sáu cửa tò vò. Nhà phía đông chứa đựng tấm bia chúa Nguyễn Phúc Chu kể chuyện xây cất chùa, chạm trổ điêu khắc có mỹ thuật, được dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch trắng đẽo gọt sinh động. Viền bia có chạm ngọn lữa vươn lên và bốn con rồng năm móng chạm trổ tỉ mỉ, toàn thân uyển chuyển. Đầu bia cũng có chạm mây rồng có đuôi uốn lượn trên làn sóng. Nhà phía tây là gác treo chiếc chuông lớn gọi Đại Hồng Chung, một kiệt tác về trình bày mỹ thuật cũng như kỹ thuật đúc đồng thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Cao 2,50m, chu vi trung bình 4m, chuông có quai mang hình mãng xà, chim phụng hoàng, rồng năm móng. Thân chuông có vành rồng, những ô mang chữ thọ, khắc những chữ Hoàng đồ cũng cố, Đế dạo hà xương, Phật nhật tăng huy, tên người dựng chuông, mục đích dựng chuông. Phía dưới có hình mặt trời tròn là nơi vồ gỗ đánh vào khi thỉnh chuông, hai bên có ngọn lửa tóe ra, xa lưỡi gần vầng. Dưới cùng trang trí tám quẻ bát quái trước miệng chuông chạm trổ hoa văn thủy ba sóng nước trình bày tinh hoa nên rất linh động. So về cả hai mặt mỹ nghệ và kỹ thuật, Đại Hồng Chung hơn xa chuông Gia Long trong lầu Chuông cạnh Nghi Môn. Tiếng chuông lại ngân nga, thanh thoát dễ gợi buồn nơi người nghe. Nghe chuông Thiên Mụ lại buồn, Ngó về Thành Nội khói tuôn lại sầu…

Sau lưng bảo tháp Phưóc Duyên, vua Khải Định (1885-1925) có cho dựng năm 1919 một tấm bia nhỏ lộ thiên kể sơ lược sự tích chùa. Ngay sau bia là một tam quan gọi là Nghi Môn, phía đông có lầu Chuông, phía tây có lầu Trống. Rộng gần 5m, dài gần 15m, cao gần 4m, trần bằng gỗ, cửa chính vào chùa nầy gồm có ba gian, có vách phân cách, trong mỗi gian có tượng hai vị Hộ pháp Dharmapala rất sinh động, dáng điệu, bộ mặt , xiêm áo, giáp trụ khác nhau. Phía trên bên kia cửa là ba tò vò, ở chính giữa có biển gỗ đề Linh Mụ Tự, chạm hoa văn rồng, nét sơn son thấp vàng nay đã phai màu, hai biển phía đông đề Đại Từ Bi, biển phía tây đề Đại Trí Tuệ, đều đắp vôi nổi. Một cái thang dẫn lên lầu, mặt trước đóng đố gỗ, phiá sau xây vào chùa để trống, nhìn từ dưới chẳng thấy rõ, lên trên lầu khách ngạc nhiên phát hiện được một tượng Ngọc Hoàng, mặc dầu nghe nói chùa chỉ giữ lai những hình tượng Phật giáo, bảo vệ đằng sau là một vị Hộ Pháp to lớn, chống kiếm, uy nghi nghiêm nghị.

Qua khỏi Nghi Môn, khách đạt đến một khoảng trống với ba lối đi và hai bên hai nhà Lôi Gia, loại miếu thờ đối diện xây năm 1815 dưới đời Gia Long. Mỗi Lôi Gia chứa ba pho tượng Kim Cương có nhiệm vụ bảo vệ Đạo pháp, đuổi dẹp ác quỷ. Được đắp bằng đất sét trộn với trấu và rơm, mỗi tượng lớn bằng người thật, có một thế ngồi, một cách để chân, một ấn quyết hay dụng cụ ở hai tay khác nhau. Tuy là những vị thần lúc trước mang chùy kim cương Vajrapanis, áo, mão, hia, giáp trụ, vũ khí, vòng quanh thiên thần, màu sắc tô vẽ sặc sỡ biệu lộ một sắc thái Trung Quốc. Như để khuyến khích khách gạt bỏ mọi ưu phiền, ác tính trước khi vào chùa, mỗi vị được trình bày đạp chân lên một con thú nhỏ : cóc, rắn, khỉ, hổ, rùa, lân tượng trưng cho thú tính. Như vậy, trước lúc bước vào điện Đại Hùng tất là cõi Phật, đi ngang trước nhà Lôi Gia, khách mang một đầu óc thư thái, thanh thảng rũ sạch mọi bụi trần.

Lối giữa từ Nghi Môn dẫn thẳng vào Bảo điện Đại Hùng (người hùng là đức Phật, có quyền lực chế ngự mọi quỷ sứ), một tòa nhà lớn gồm có hai phần : tiền đường năm gian hai chái và chính đường, ba gian hai chái họp lại thành bốn mái, hai mái chồng nhau, nóc chính điện cao hơn nóc tiền đường. Trên nóc tiền đường có hai con rồng chầu một Pháp Luân trong có chữ Phật. Trên nóc chính điện cũng có hai con rồng chầu một mặt trời giữa bảy ngọn lửa sắp dọn thành búp hoa sen trong có chữ Vạn. Hai đầu chái chính điện và tiền đường có hình con dơi gắn sành mảnh sứ. Trong thiền đường trang trí giản dị, có hai vế đối 12 chữ của vua Thiệu Trị và hai vế đối 21 chữ của triều đình vua Bảo Đại (1913-1997). Ở chính giữa, một tượng đồng rất lớn đức Phật Di Lặc Maitreya, tai lớn dài, cao 0m80, đặt trên một bệ lớn bằng gạch cao hơn 1m. Ngài ngồi vui thích, chân mặt co lên, chân trái xếp bằng, áo trạc ra cho lòi cặp vú và cái bụng phệ, miệng cười thoải mái. Treo trên pho tượng là bức hoành phi sơn son chữ lớn Linh Thứu Cao Phong (đỉnh núi nơi đức Phật chuyển pháp lần thứ hai, giảng bộ Kinh Diệu pháp liên hoa), thủ bút của chính chúa Nguyễn Phúc Chu, lúc trước treo trong chính điện. Một bảo vật còn xưa hơn trong tiền đường là cái khánh đồng dài 1m60, rộng 0m55, treo trên một cái giá gỗ, đúc ở Phường Đúc, trang trí hai mặt : một mặt đề tên Bình Trung Quán Khánh và niên hiệu Vĩnh Trị nhị niên tuế Đinh Tỵ (tức là 1677) trọng thu tạo ; mặt kia đề tên người phụng cúng Hội chủ Trần Đình Ân đạo hiệu Minh Hồng, pháp danh Tịnh Tín, Thập phương công đức và hình sao Bắc Đẩu nằm giữa nhị thập bát tú, trên một mặt trời với bốn ngọn lửa. Đông Triều Hầu Trần Đình Ân (1626-1707) là nhạc gia của Nguyễn Khoa Chiêm, cả hai đều làm quan to trong triệu Minh Vương. Có thể tin là khánh đã được đúc cho chùa Bình Trung và sau đưa qua chùa Thiên Mụ.

Chính đường hay thượng điện chiếm toàn chiều dài ba gian của điện, dài 30m, rộng 12m, lúc trước cột, kèo, xuyên, trếnh đều làm bằng gỗ lim, gỗ sao, nền lát gạch Bát Tràng, từ ngày trùng tu năm 1958, được thay bằng xi măng cốt sắt. Ở tiền đường khách thấy ngay một bức hoành phi mang ba chữ Đại Hùng Điện. Trên bàn thờ Phật đặt trong cùng có ba tượng Tam Thế thể hiện Tam Thân, bằng đồng, giữa là đức Thích Ca Mâu Ni Sakyamuni, bên trái có đức A Di Đà Amitabha, bên mặt có đức Di Lặc Maitreya, tất cả đều ngồi thiền trên hộp sơn đỏ, hai chân chéo nhau, mỗi vị một ấn quyết khác nhau. Cơ thể dỏng cao, dáng đầu thanh trên một cổ dài, những nếp áo che lấp vai chỉ để lộ những nút giây giữ vạt áo dưới,… nhiều chi tiết kê sắp các tượng nầy trong số hình tượng Phật giáo đẹp nhất ở Việt Nam. Năm 1999, trước bàn thờ nầy có bảy vị Phật nhỏ cũng bằng đồng, khó thấy, lúc trước đặt trong tháp Phước Duyên, nay đã được thỉnh về lại tháp. Trước các vị nầy năm 1999 còn có một tượng đồng Di Lặc tương đối nhỏ hơn và trong tủ kính tượng đức Thế Tôn Sakyamuni. Hai bên bàn thờ, hai vị bồ tát nắm hoa sen Phổ Hiền Samantabhadra cỡi con thanh sư bên mặt, vị Đại Thế Chí Manjushri cỡi con sư tử bên trái, đều được đặt trong tủ kính. Hậu điện chỉ có một bàn thờ Thạch hòa thượng. Theo các sách xưa, thượng điện còn chứa nhiều hình tượng khác, không thuộc về Phật giáo như các thần Nam Tào, Bắc Đẩu đã được loại ra. Tượng Ngọc Hoàng ở Nghi Môn là một tàn tích còn sót.

Sau bảo điện Đại Hùng là điện Địa Tạng Kshitigarbha dài hơn 28m, rộng gần 20m, xây năm 1815 trên nền điện Di Lặc, với bộ sườn đình Hương Nguyện dời vào. Dấu tích xưa, gồm có mười sáu cột, bốn cột mệ ỡ giữa, bốn mái, bốn kèo mái, trần hình bát quái, điện là một lầu vuông, chạm trổ hoa lá hay hình bát bửu (cây đàn, bầu rượu,…). Khoảng đố giữa các cột được chia thành hộc hình chữ nhật và ô vuông khắc dưới 96, trên 32 câu thơ bằng chữ Hán của vua Thiệu Trị, chạm hoa lá mai, lan, cúc, trúc, bút lông, ống sáo, gươm, khánh, đàn,… Điện nầy lúc trước được thiết kế để thờ đức Quan Công tức Quan Võ, Quan Vân Trường hay Quan Thánh (thường kèm theo Trương Phi và Quan Bình), không hẳn phải thần Phật giáo, vì vậy vào khoảng thập niên 50 đức Quan Công được dọn đi và điện được đổi thờ Địa Tạng là vị bồ tát tự nguyện xuống Âm phủ để cứu khổ cứu nạn những âm hồn đang bị quỷ sứ đày đọa. Năm 1999, khi chúng tôi viếng chùa, điện để trống không, chỉ thấy hai chú tiểu ngồi học trên hai cái bàn nhỏ.

Nhà thờ sau cuối khu Thiên Mụ là điện Quán Âm Avalokitesvara, xây trong lùm cây, từ đời Gia Long. Sân, tầng cấp lọt gạch Bát Tràng, điện dài gần 20m, rộng 13m rưởi, ba gian, hai chái với ba cửa ra vào, hai cửa nách, trang trí giản dị không có hoa văn. Tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát lớn, bằng đồng, ngồi trên tòa sen, nét mặt dịu dàng, đặt trước bức hoành phi Quán Âm Điện. Còn có một tượng Quan Âm bằng đá, thế đứng, đặt trước tượng kia, trong tủ kính, cũng không kém phần nghệ thuật nữ phái, ngón tay thon dài, tay mặt để thỏng xuống, tay trái đưa lên ngang ngực, đều có ấn quyết. Hai bên có hai bàn thờ Thập Điện Vương, mỗi bên 10 vị, 5 vị ngồi trước bằng đất nung sơn vàng, nhỏ, cũ hơn, 5 vị ngồi sau bằng đất sét nhiều màu, có râu cằm và trêu mép. Áo, mũ giống nhau, mỗi vị có một bộ măt khác nhau nhưng đều nghiêm nghị như những ông quan ra tòa. Những tượng nầy có thể thỉnh từ hai dãy Thập Vương ở cạnh và bị phá đổ cùng lúc với điện Di Lặc. Phía sau điện thờ Địa Tạng, một tượng lớn bằng đồng vàng chói, ngồi trên ghế, tay trái đặt trên thành ghế, tay mặt một ấn quyết. Rất có thể tượng nầy lúc trước được đặt thờ trong điện Địa Tạng xây lại trên nền điện Di Lặc .

Vị trù trì sau cùng của chùa lãnh đạo Phật giáo Huế có tiếng tăm là Hòa thượng Thích Đôn Hậu có phần mộ và ngôi tháp sau cuối khu chùa, núp bóng dưới nhiều cây yên tĩnh. Một vị tu hành có tiếng khác là Hòa thượng Thích Quảng Đức, tự thiêu ở Sài Gòn ngày 11 tháng sáu năm 1963, hiện có mặt qua bảng giải thích bằng hai thứ tiếng Việt và Anh đặt trước một chiếc xe hơi đã chở Ngài. Trong khuôn viên chùa còn có nhà bếp, vườn rau. Con Rùa Mốc thường được nhắc đến, ngày nay chỉ còn những đám gạch sụp đổ ngoài tường chùa. Sau cuối chùa còn có hai ngôi nhà xưa thấp thoáng trong lùm cây gợi lên ý nghĩ quang cảnh của ngọn đồi khi chùa mới được xây dựng thành. Với một kiến trúc tuyệt diệu, những báu vật mỹ thuật, chùa Thiên Mụ thật là một kiệt tác nghệ thuật tinh vi vùng Phú Xuân hài hòa giữa môi trường êm dịu đất Thần Kinh. Tôi rất mừng khi nhà tôi chọn ngôi chùa quê tôi làm đề tài luận văn vì là một dịp để cô ta tìm hiểu sâu xa hơn tâm hồn Phật giáo nói chung, phong cách xứ Huế nói riêng, từ đấy tôi cũng hưởng lây được kiến thức mà cô ta đã gom góp. Khi luận văn được in thành sách (*) bà Hội trưởng Hội Những Người Bạn Viễn Đông AFAO không ngần ngại cho in dấu của Hội lên bìa sách với lời giới thiệu cho khách chỉ biết tiếng Pháp cần có cuốn sách nầy trong tay khi đến viếng Huế !

 Võ Quang Yến
Mừng Phật Đản 2555
Xô thành tiềt Thanh minh 2011

Tham khảo

– (*) Vo Quang Liliane, Le temple de la Dame Céleste (Chùa Thiên Mụ) à Hué � sanctuaire bouddhique et miroir de l’ancienne capitale du Vietnam, Université de Paris VII 1998, Cahiers de Péninsule 6 2004
– Nguyễn Đắc Xuân, Bốn trăm năm chùa Thiên Mụ, nxb Thuận Hóa Huế 1998
– Hà Xuân Liêm, Chùa Thiên Mụ, nxb Thuận Hóa Huế 1998
– Hà Xuân Dương, Kiến trúc chùa Thiên Mụ, nxbĐà Nẵng 1998
– Phanxipăng, Leo tháp Phước Duyên, Tc Nghiên cứu và Phát triển 3(80) 2010 ; Chim Việt Cành Nam 42 2011

 

Nhãn: , ,

VIẾNG ĐỒ BÀN

VÂN ĐÌNH

Phật Thệ là đây
Đồ bàn hay Trà bàn cũng là đây.
Vijaya đất Chiêm Thành.
Hoa gấm nhiều phen, phế hưng mấy độ.

Hơn ngàn năm lịch sử, tự thân nó chứa đựng một quá khá dày.

Chùa Thập Tháp nằm trong thành Đồ Bàn về phía Bắc

Đồ Bàn được hình thành đâu khoảng thế kỷ thứ 10 sau Tây lịch kỷ nguyên dưới triều Indravarman II. Người Chiêm dùng làm kinh đô từ năm 988.

Đời Lý, năm 1044, vua Lý Thái Tông thân chinh, giết vua là Sạ Đẩu rồi tiến quân vào thành bắt Vương Phi Mỵ Ê cùng các cung nữ biết múa hát điệu Tây Thiên đem về Bắc. Đến phủ Lỵ Nhân(tỉnh Năm Định) vương phi trầm mình. Đời sau có thơ cảm thán:

Thuyền rồng không dựa, dựa thuyền chài
Gắn bó vì chưng trót một hai
Tiết nghĩa mảnh chiên trời ấm lạnh
Cương thường giọt lệ nước đầy vơi

Chứng minh đã có mười phương Phật
Sống thác cùng nhau một giống Hời
Sử sách ngàn năm ghi chép đó
Thương ai mà lại thẹn cho ai

(Hoàng Cao Khải)

Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông thân chinh, bắt được vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ dâng đất 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc mạng.

Qua đời Trần, năm 1301 Thượng Hoàng Nhân Tôn sang chơi Chiêm Thành, ước gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. 6 năm sau (1306) vua Anh Tông mới đưa nàng về Chiêm sau khi nhận 2 châu Ô, Lý làm sính lễ. Nàng công chúa nước Việt về làm dâu Chiêm Thành:

Chiều Chiều mây kéo Ải Vân
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn

Tuy nhiên mối duyên Chiêm Việt không kéo dài được lâu. Chưa đầy năm Chế Mân chết và tướng Trần Khắc Chung được phái cử vào lấy cớ điếu tang rồi tìm cách đưa nàng về Việt.

Tiếp sau nữa, giữa Chiêm Việt thường xảy chiến tranh, đánh phá lẫn nhau. Nước Việt đem quân vào tận Trà Bàn, vua Trần Duệ Tông mạng vong, đến vua Chiêm Chế Bồng Nga cũng kéo quân ra tận Thăng Long đánh Việt, rốt cuộc bỏ mạng.

Đời Lê, năm 1470, vua Lê Thánh Tông cất quân đánh Trà Bàn, bắt vua là Trà Toàn và sát nhập Chiêm Quốc và Việt. Phủ Hoài Nhơn có tên từ đây.

Khi Nguyễn Hoàng tổng trấn Thuận Quảng đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn (1602). Thái Tông Nguyễn Phước Tần đổi làm Quy Ninh phủ(16?). Thế Tông Nguyễn Phước Khoát phục lại tên cũ là Quy Nhơn(1742).

Đời Duệ Tông Phước Thuần, năm 1773 Nguyễn Tây Sơn chiếm cứ, củng cố thêm…Nơi đây anh em Tây Sơn vì xảy ra chuyện bất hòa đến nỗi Nguyễn Huệ kéo quân vây hãm: Nguyễn Nhạc đã phải than thở: “Sao nỡ nồi da nấu thịt”.

Hoàng đế Thành dưới triều Thái Đức Nguyễn Nhạc. Thời kỳ lưỡng Nguyễn tranh hùng, năm Kỷ Mùi(1799) Chúa Nguyễn Phúc Ánh tức sau này là vua Gia Long đánh lấy thành đổi tên làm Bình Định thành sau hậu quân Võ Tánh và lễ bộ Ngô Tùng Châu trấn giữ.

Tháp Cánh Tiên nằm ngay trung tâm Đồ Bàn

Năm sau (1800) Tây Sơn do tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vây thành. Trong hơn một năm vậy chặt, trong thành hết cả lương thực, hai ông Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đều tuẫn tiết: ông Châu dùng thuốc độc, còn ông Tánh tự thiêu. Ấy là vào tháng 5 năm Tân Dậu 1801. Cái chết bi tráng của hai ông bậc quốc sĩ văn chương có tác phẩm truyền đời:

Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan hậu thủ thiền ba năm
Ba năm quan hậu thủ thiền
Thành cô lửa dậy tôi hiền gởi thân.

(Ca Dao)

Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vì mà tìm tới quân vương
Bởi rằng thương muôn mạng tì hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn quang minh un mát tấm trung can
Chỉ non Tây thề với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ân tín xưa người bộ khúc thương tâm,
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ…

(Đặng Đức Siêu)

Kịp khi nghe tin Phú Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc tháng 7 năm Nhâm Tuất 1802, tướng Trần Quang Diệu bỏ thành Quy Nhơn, lên đường thượng đạo ra Bắc. Bình Định thành lại về tay chúa Nguyễn.

Từ ấy đến giờ, suýt soát đã 200 năm.

Ôi! Cùng một nơi mà từng là kinh đô hai nước, cuốn theo với nó bao nhiêu cuộc biến đổi đau tang thương.

Ta từ thuở trẻ đến giờ đến nơi đây kể đã ba lần, mỗi lần cách nhau tính ra trên dưới vài mươi năm. Và lần nào cũng nhận ra cảnh vật tiêu sơ thêm nhiều ít, khiến lòng xúc cảm bồi hồi bèn trộm mượn đôi vần lưu niệm

Trà Bàn Hoàng đế cô đô thành
Cựu tích duy tổn sổ đoạn khuynh
Lầm thương cao khâu chiêm nhất vọng
Bồi hồi suy thán đối thương thanh.

Viếng Trà Bàn

Đô kỳ hai nước dấu còn đây
Dâu bể bao lần cuộc đổi thay
Tiên Tháp đồi cao ngơ ngẩn bóng
Song Trung miếu quạnh thẫn thờ cây

Mưa sa há quản lòng voi đấy
Nắng dãi nài chi dạ nghễ này
Thành quách ngàn năm trời man mác
Bùi ngùi dạ khách bước khôn nguôi.

VÂN ĐÌNH
(Lê Văn Đích)
(Trích Đặc San Lại Giang)

 
 

Nhãn: ,

LÀNG RAU TRÀ QUẾ

PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT

“Ai về Trà Quế thì về
Trà Quế có nghề nấm giá đậu xanh
Sớm mai đi bán rau hành
Chiều về tưới nước suốt canh chưa nằm
Khuya thì dậy sớm cắt rau
Sáng lo đi bán suốt năm không nhàn”

Làng Trà Quế, nay thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một trong những vùng đất khai phá từ rất sớm. Theo đó, tộc Mai và tộc Phạm là những tộc đến trước và đã trải qua nhiều đời con cháu nối nghiệp sinh sống trên vùng đất này. Tương truyền, thuở sơ khai, ông bà tổ tiên của cư dân Trà Quế vốn là những ngư dân thực thụ. Họ sinh sống bằng nghề lưới bén, chuyên đánh bắt cá tôm trên sông Đế Võng kiếm ăn qua ngày. Thế rồi, càng về sau, việc đánh bắt cá tôm ngày càng khó khăn. Cuộc sống của ngư dân làng vạn rơi vào chỗ lao lao đao. Nhiều gia đình bữa đói, bữa no. Trong lúc bị dồn vào chân tường, một số bà con mới nghĩ đến việc thử khai phá thêm đất. Thôi thì nếu không thể trồng lúa, ta trồng thứ khác. Như rau chẳng hạn. Trước mắt là có rau ăn. Dư thừa bán cũng có tiền.
Từ suy nghĩ đơn giản ấy, họ bắt tay vào thực hiện. Những vạt ngò, rau húng rồi đến rau é, hành, cải, hẹ… lần lượt mọc lên trên vùng đất mới khai phá. Và cũng thật bất ngờ, các loại rau kể trên không những lên xanh tốt mà còn có hương vị đặc biệt thơm ngon. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, cây rau Trà Quế từng bước nổi danh dần. Chẳng mấy chốc, các chợ lớn, chợ nhỏ trong vùng Hội An và lân cận trở thành thị trường tiêu thụ chính của rau Trà Quế. Thấy có thể sống được từ nghề mới mẻ này, những hộ còn lại bắt chước làm theo. Chẳng ai đủ sức trụ lại với nghề đánh bắt cá tôm bấp bênh, bữa đực bữa cái nữa. Từ một làng thuở ban đầu, Trà Quế dần dần biến thành một làng rau.

Theo các bô lão, danh xưng của làng gắn liền với nghề nghiệp của người dân địa phương. Danh xưng đầu tiên của Trà Quế là Nhà Quế với ý nghĩa nhà nào cũng trồng rau thơm cả. Đến khi cây rau trở thành loại cây chủ lực, được trồng đại trà, làng mới cải sửa tên lại là Trà Quế. Ước đoán danh xưng Trà Quế ra đời cách nay khoảng 200 năm trong lịch sử, tức vào cuối thế kỷ XVIII. Từ lúc bấy giờ, người dân địa phương đều lấy nghề trồng rau làm nghề sinh sống chính. Chuyện kiếm cá trên sông hay tác ít đất lúa ngập mặn vụ đông xuân hằng năm chẳng qua chỉ góp phần cải thiện đời sống gia đình mà thôi. Hơn nữa, trồng lúa nước ngập mặn không dễ ăn và không phải ai cũng có ruộng để làm. Cho nên, với cư dân Trà Quế, chắc ăn nhất vẫn là trồng rau. Mà đã trồng rau, giàu thì khó như mò kim đáy biển nhưng đủ ăn, đủ mặc, chẳng nói làm gì. Chỉ cực một điều là phải thức khuya, dậy sớm, cần mẫn, kiên trì như con ong làm tổ.

Bên cạnh những hộ trồng rau thì vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tại Trà Quế đã xuất hiện một số hộ vừa trồng rau vừa buôn rau. Đó là hộ các ông Nguyễn Trí, Nguyễn Trì, Võ Lang, Mai Phiến… Họ đều có ghe riêng, sẵn sàng chở rau qua sông Đế Võng rồi gánh bộ tỏa đi các chợ xa gần. Trong đó, người có máu mặt nhất là ông Võ Lang. Ngôi nhà ngói ba gian hai chái to đùng của ông là điều mơ ước của nhiều gia đình thời bấy giờ. Ngoài nhà ngói, ông còn nuôi một lúc bảy, tám con trâu để cày ruộng lúa nước mặn. Nói chung, đã đi buôn, dù là buôn rau đi nữa thì cuộc sống cũng đỡ. Nghĩa là có đồng ra đồng vào. Còn chỉ chuyên trồng rau để bán, giỏi lắm cũng chỉ đắp đổi qua ngày.

Tuy nhiên, làng rau Trà Quế phát triển mạnh nhất từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Đó là thời điểm cư dân Đà Nẵng biết tiếng và chuộng các loại rau có nguồn gốc từ Trà Quế. Theo các cụ già cao tuổi trong làng thì bấy giờ, ngày nào cũng như ngày nào, dân Trà Quế thức dậy từ lúc hai, ba giờ sáng, ăn uống qua loa rồi gánh gánh rau đi bán. Mà bán tận Đà Nẵng chứ chẳng chơi. Họ nhắm hướng đường biển mà đi. Người nọ nối tiếp người kia, lặng lẽ đi trong bóng đêm, khi mọi người còn say nồng trong giấc điệp. Ra tới An Hải, họ qua đò Hà Thân rồi bán sỉ ngay tại chợ Hàn. Xong, cũng theo đường biển mà về. Cùng với hàng chục hộ Trà Quế gánh bộ gánh rau nặng ì ra Đà Nẵng để bán thì cũng có hàng chục chị em ở Đà Nẵng lặn lội vào tận Trà Quế mua rau về bán lại. Hành trình của họ cũng vào lúc ba giờ sáng làm sao đến Trà Quế mua xong gánh bộ ra Đà Nẵng để kịp sáng hôm sau có mặt tại các chợ nội thành. Tiêu biểu như các bà Lệ, bà Tâm, bả Hảo… đều quê gốc An Hải. Và, trong suốt hai mươi năm trường, từ năm 1945 đến năm 1965, theo cách ấy, rau Trà Quế kịp thời cung cấp nhu cầu cho thị trường Đà Nẵng. Sau đó, khi tuyến đường Đà Nẵng Hội an có xe đò chạy thường xuyên, họ mới chuyển qua đi xe đò.

Cũng như nhiều ngành nghề truyền thống khác, làng rau Trà Quế cũng có những bước thăng trầm. Đặc biệt, nhà văn Chu Cẩm Phong khi về công tác ở vùng thị xã Hội An vào năm 1968 có ghi lại nhật ký về làng rau Trà Quế như sau: “Đất Trà Quế (hay Nhà Quế?) nổi tiếng về trồng rau. Ở đây có nhiều giống rau ngon và thơm, quanh năm đều có. Trồng rau trở thành một nghề nghiệp rất chuyên môn, một thứ gia truyền. Người ta sinh sống, phát đạt bằng những mảnh vườn thẳng tắp, ngăn nắp và xinh đẹp như một vườn hoa. Khắp các ngõ lối, chỗ nào cũng ngào ngạt hương thơm quyến rũ kích thích của rau. Nhất là về buổi chiều, khi gió ngoài sông thổi lộng vào, các cô gái và bà già gánh những gánh rau đầy ắp từ ngoài vườn về để đầy sân, chuẩn bị cho chuyến chợ phố ngày mai. Rau ở đây ngon nhờ chất đất, cũng cây hành, xà lách, cũng rau húng, rau quế, cũng cây ngò, cây cải đó, một khi đem ra khỏi cái làng nhỏ bé ngửa ra mặt sông này, đem cấy xuống mảnh đất lạ khác, chẳng hạn ở Trường Lệ, rau như vì nhớ đất mà kém sút đi, và cái hương vị đặc biệt của Trà Quế mất hẳn.”
Sau 1975, người dân không những phục hồi nghề cũ mà còn từng bước khai phá cánh đồng lác ngập mặn để trồng thêm cây lúa nước. Mạnh nhất là vào đầu thập kỷ 1980, khi rau Trà Quế tiêu thụ gặp nhiều khó khăn. Thành quả thật đáng tự hào: sau hàng bốn, năm trăm năm phải mua gạo quanh năm, giờ đây người dân Trà Quế đã tự túc được lương thực. Đời sống dân làng cải thiện đáng kể.

Thời trước trồng được cây rau không dễ. Ngày lại ngày, họ phải thức khuya, dậy sớm để tưới rau, chăm sóc rau. Sự cực khổ, vất vả ấy khiến trai gái các làng rất ngại… kết duyên với trai gái làng rau Trà Quế:

“Muốn về Trà Quế trồng rau
Sợ e gánh nước hai gàu không quen”.

Còn nay, nhờ đến lưới quốc gia kéo về từ năm 1991, nhiều hộ dành dụm mua sắm máy bơm để tưới. Công việc trở nên nhẹ nhàng hơn nhiều. Khác xưa, hiện nay, cư dân Trà Quế trồng rau quanh năm. Đất rau dĩ nhiên chẳng có thời gian ngơi nghỉ. Ngoài phân chuồng, người ta chuộng lấy phân từ rong vớt tại sông Đế Võng và dọc các ao hồ ở Trà Quế nhằm giữ hương vị đặc trưng của cây rau truyền thống quê mình.

Đã hàng mấy trăm năm nay, rau Trà Quế theo chân bà con tỏa đi các nơi phục vụ nhu cầu ẩm thực của người dân các địa phương khác. Trong đó, chợ Hội an luôn luôn là địa điểm chính của rau Trà Quế. Ngày nào cũng có hàng chục chị em gánh rau hoặc chở rau trên xe đạp ra ngồi bán. Xong xuôi, họ mới thu dọn quang gánh, đồ đoàn về nhà. Thỉnh thoảng, lại có đôi chuyến xe tốc hành từ Sài Gòn ra Đà Nẵng nhân tiện ghé chợ Hội An mua rau chính gốc Trà Quế. Về thị trường tiêu thụ, ngoài những thị trường truyền thống như Hội An, Đà Nẵng, thời gian gần đây, rau Trà Quế vào đến Tam Kỳ, vươn ra Huế. Nhiều chị em nhờ buôn rau mà khá lên như các chị Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Nhiều, Nguyễn Thị Thơ, Nguyễn Thị Bẻo, Nguyễn Thị Thơm… Nhưng với người dân làng nghề, thu nhập vẫn thấp. Giá các loại rau hạ dần. Nguyên nhân là các xã vùng cát xưa bỏ hoang nay sẵn máy bơm, họ đẩy mạnh việc trông rau theo thời vụ. Mặc dù vậy, dân làng Trà Quế vẫn trung thành với cây rau. Rau luôn là nguồn thu nhập đáng kể. Cho nên cả làng có 216 hộ thì cả 216 hộ đều trồng rau. Kể cũng lạ, các loại rau Trà Quế từ rau é, hành ngò, rau húng, xà lách… tuy không xanh tốt bằng rau các nơi nhưng hương vị lại vượt trội, thơm ngon, đậm đà không đâu sánh bằng. Và đó cũng chính là những ưu điểm nổi bật tạo nên nét đặc trưng của làng rau truyền thống Trà Quế xưa nay.

(Trích Chuyện Làng Nghề – Đất Quảng của Phạm Hữu Đăng Đạt)

 
 

Nhãn: ,