RSS

Tag Archives: Ẩm thực

LÀNG RAU TRÀ QUẾ

PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT

“Ai về Trà Quế thì về
Trà Quế có nghề nấm giá đậu xanh
Sớm mai đi bán rau hành
Chiều về tưới nước suốt canh chưa nằm
Khuya thì dậy sớm cắt rau
Sáng lo đi bán suốt năm không nhàn”

Làng Trà Quế, nay thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một trong những vùng đất khai phá từ rất sớm. Theo đó, tộc Mai và tộc Phạm là những tộc đến trước và đã trải qua nhiều đời con cháu nối nghiệp sinh sống trên vùng đất này. Tương truyền, thuở sơ khai, ông bà tổ tiên của cư dân Trà Quế vốn là những ngư dân thực thụ. Họ sinh sống bằng nghề lưới bén, chuyên đánh bắt cá tôm trên sông Đế Võng kiếm ăn qua ngày. Thế rồi, càng về sau, việc đánh bắt cá tôm ngày càng khó khăn. Cuộc sống của ngư dân làng vạn rơi vào chỗ lao lao đao. Nhiều gia đình bữa đói, bữa no. Trong lúc bị dồn vào chân tường, một số bà con mới nghĩ đến việc thử khai phá thêm đất. Thôi thì nếu không thể trồng lúa, ta trồng thứ khác. Như rau chẳng hạn. Trước mắt là có rau ăn. Dư thừa bán cũng có tiền.
Từ suy nghĩ đơn giản ấy, họ bắt tay vào thực hiện. Những vạt ngò, rau húng rồi đến rau é, hành, cải, hẹ… lần lượt mọc lên trên vùng đất mới khai phá. Và cũng thật bất ngờ, các loại rau kể trên không những lên xanh tốt mà còn có hương vị đặc biệt thơm ngon. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, cây rau Trà Quế từng bước nổi danh dần. Chẳng mấy chốc, các chợ lớn, chợ nhỏ trong vùng Hội An và lân cận trở thành thị trường tiêu thụ chính của rau Trà Quế. Thấy có thể sống được từ nghề mới mẻ này, những hộ còn lại bắt chước làm theo. Chẳng ai đủ sức trụ lại với nghề đánh bắt cá tôm bấp bênh, bữa đực bữa cái nữa. Từ một làng thuở ban đầu, Trà Quế dần dần biến thành một làng rau.

Theo các bô lão, danh xưng của làng gắn liền với nghề nghiệp của người dân địa phương. Danh xưng đầu tiên của Trà Quế là Nhà Quế với ý nghĩa nhà nào cũng trồng rau thơm cả. Đến khi cây rau trở thành loại cây chủ lực, được trồng đại trà, làng mới cải sửa tên lại là Trà Quế. Ước đoán danh xưng Trà Quế ra đời cách nay khoảng 200 năm trong lịch sử, tức vào cuối thế kỷ XVIII. Từ lúc bấy giờ, người dân địa phương đều lấy nghề trồng rau làm nghề sinh sống chính. Chuyện kiếm cá trên sông hay tác ít đất lúa ngập mặn vụ đông xuân hằng năm chẳng qua chỉ góp phần cải thiện đời sống gia đình mà thôi. Hơn nữa, trồng lúa nước ngập mặn không dễ ăn và không phải ai cũng có ruộng để làm. Cho nên, với cư dân Trà Quế, chắc ăn nhất vẫn là trồng rau. Mà đã trồng rau, giàu thì khó như mò kim đáy biển nhưng đủ ăn, đủ mặc, chẳng nói làm gì. Chỉ cực một điều là phải thức khuya, dậy sớm, cần mẫn, kiên trì như con ong làm tổ.

Bên cạnh những hộ trồng rau thì vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tại Trà Quế đã xuất hiện một số hộ vừa trồng rau vừa buôn rau. Đó là hộ các ông Nguyễn Trí, Nguyễn Trì, Võ Lang, Mai Phiến… Họ đều có ghe riêng, sẵn sàng chở rau qua sông Đế Võng rồi gánh bộ tỏa đi các chợ xa gần. Trong đó, người có máu mặt nhất là ông Võ Lang. Ngôi nhà ngói ba gian hai chái to đùng của ông là điều mơ ước của nhiều gia đình thời bấy giờ. Ngoài nhà ngói, ông còn nuôi một lúc bảy, tám con trâu để cày ruộng lúa nước mặn. Nói chung, đã đi buôn, dù là buôn rau đi nữa thì cuộc sống cũng đỡ. Nghĩa là có đồng ra đồng vào. Còn chỉ chuyên trồng rau để bán, giỏi lắm cũng chỉ đắp đổi qua ngày.

Tuy nhiên, làng rau Trà Quế phát triển mạnh nhất từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Đó là thời điểm cư dân Đà Nẵng biết tiếng và chuộng các loại rau có nguồn gốc từ Trà Quế. Theo các cụ già cao tuổi trong làng thì bấy giờ, ngày nào cũng như ngày nào, dân Trà Quế thức dậy từ lúc hai, ba giờ sáng, ăn uống qua loa rồi gánh gánh rau đi bán. Mà bán tận Đà Nẵng chứ chẳng chơi. Họ nhắm hướng đường biển mà đi. Người nọ nối tiếp người kia, lặng lẽ đi trong bóng đêm, khi mọi người còn say nồng trong giấc điệp. Ra tới An Hải, họ qua đò Hà Thân rồi bán sỉ ngay tại chợ Hàn. Xong, cũng theo đường biển mà về. Cùng với hàng chục hộ Trà Quế gánh bộ gánh rau nặng ì ra Đà Nẵng để bán thì cũng có hàng chục chị em ở Đà Nẵng lặn lội vào tận Trà Quế mua rau về bán lại. Hành trình của họ cũng vào lúc ba giờ sáng làm sao đến Trà Quế mua xong gánh bộ ra Đà Nẵng để kịp sáng hôm sau có mặt tại các chợ nội thành. Tiêu biểu như các bà Lệ, bà Tâm, bả Hảo… đều quê gốc An Hải. Và, trong suốt hai mươi năm trường, từ năm 1945 đến năm 1965, theo cách ấy, rau Trà Quế kịp thời cung cấp nhu cầu cho thị trường Đà Nẵng. Sau đó, khi tuyến đường Đà Nẵng Hội an có xe đò chạy thường xuyên, họ mới chuyển qua đi xe đò.

Cũng như nhiều ngành nghề truyền thống khác, làng rau Trà Quế cũng có những bước thăng trầm. Đặc biệt, nhà văn Chu Cẩm Phong khi về công tác ở vùng thị xã Hội An vào năm 1968 có ghi lại nhật ký về làng rau Trà Quế như sau: “Đất Trà Quế (hay Nhà Quế?) nổi tiếng về trồng rau. Ở đây có nhiều giống rau ngon và thơm, quanh năm đều có. Trồng rau trở thành một nghề nghiệp rất chuyên môn, một thứ gia truyền. Người ta sinh sống, phát đạt bằng những mảnh vườn thẳng tắp, ngăn nắp và xinh đẹp như một vườn hoa. Khắp các ngõ lối, chỗ nào cũng ngào ngạt hương thơm quyến rũ kích thích của rau. Nhất là về buổi chiều, khi gió ngoài sông thổi lộng vào, các cô gái và bà già gánh những gánh rau đầy ắp từ ngoài vườn về để đầy sân, chuẩn bị cho chuyến chợ phố ngày mai. Rau ở đây ngon nhờ chất đất, cũng cây hành, xà lách, cũng rau húng, rau quế, cũng cây ngò, cây cải đó, một khi đem ra khỏi cái làng nhỏ bé ngửa ra mặt sông này, đem cấy xuống mảnh đất lạ khác, chẳng hạn ở Trường Lệ, rau như vì nhớ đất mà kém sút đi, và cái hương vị đặc biệt của Trà Quế mất hẳn.”
Sau 1975, người dân không những phục hồi nghề cũ mà còn từng bước khai phá cánh đồng lác ngập mặn để trồng thêm cây lúa nước. Mạnh nhất là vào đầu thập kỷ 1980, khi rau Trà Quế tiêu thụ gặp nhiều khó khăn. Thành quả thật đáng tự hào: sau hàng bốn, năm trăm năm phải mua gạo quanh năm, giờ đây người dân Trà Quế đã tự túc được lương thực. Đời sống dân làng cải thiện đáng kể.

Thời trước trồng được cây rau không dễ. Ngày lại ngày, họ phải thức khuya, dậy sớm để tưới rau, chăm sóc rau. Sự cực khổ, vất vả ấy khiến trai gái các làng rất ngại… kết duyên với trai gái làng rau Trà Quế:

“Muốn về Trà Quế trồng rau
Sợ e gánh nước hai gàu không quen”.

Còn nay, nhờ đến lưới quốc gia kéo về từ năm 1991, nhiều hộ dành dụm mua sắm máy bơm để tưới. Công việc trở nên nhẹ nhàng hơn nhiều. Khác xưa, hiện nay, cư dân Trà Quế trồng rau quanh năm. Đất rau dĩ nhiên chẳng có thời gian ngơi nghỉ. Ngoài phân chuồng, người ta chuộng lấy phân từ rong vớt tại sông Đế Võng và dọc các ao hồ ở Trà Quế nhằm giữ hương vị đặc trưng của cây rau truyền thống quê mình.

Đã hàng mấy trăm năm nay, rau Trà Quế theo chân bà con tỏa đi các nơi phục vụ nhu cầu ẩm thực của người dân các địa phương khác. Trong đó, chợ Hội an luôn luôn là địa điểm chính của rau Trà Quế. Ngày nào cũng có hàng chục chị em gánh rau hoặc chở rau trên xe đạp ra ngồi bán. Xong xuôi, họ mới thu dọn quang gánh, đồ đoàn về nhà. Thỉnh thoảng, lại có đôi chuyến xe tốc hành từ Sài Gòn ra Đà Nẵng nhân tiện ghé chợ Hội An mua rau chính gốc Trà Quế. Về thị trường tiêu thụ, ngoài những thị trường truyền thống như Hội An, Đà Nẵng, thời gian gần đây, rau Trà Quế vào đến Tam Kỳ, vươn ra Huế. Nhiều chị em nhờ buôn rau mà khá lên như các chị Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Nhiều, Nguyễn Thị Thơ, Nguyễn Thị Bẻo, Nguyễn Thị Thơm… Nhưng với người dân làng nghề, thu nhập vẫn thấp. Giá các loại rau hạ dần. Nguyên nhân là các xã vùng cát xưa bỏ hoang nay sẵn máy bơm, họ đẩy mạnh việc trông rau theo thời vụ. Mặc dù vậy, dân làng Trà Quế vẫn trung thành với cây rau. Rau luôn là nguồn thu nhập đáng kể. Cho nên cả làng có 216 hộ thì cả 216 hộ đều trồng rau. Kể cũng lạ, các loại rau Trà Quế từ rau é, hành ngò, rau húng, xà lách… tuy không xanh tốt bằng rau các nơi nhưng hương vị lại vượt trội, thơm ngon, đậm đà không đâu sánh bằng. Và đó cũng chính là những ưu điểm nổi bật tạo nên nét đặc trưng của làng rau truyền thống Trà Quế xưa nay.

(Trích Chuyện Làng Nghề – Đất Quảng của Phạm Hữu Đăng Đạt)

Advertisements
 
 

Nhãn: ,

Những loại hoa có thể ăn được

Rất nhiều loại hoa có thể ăn được như bông bí, hoa chuối, bông điên điển, bông lục bình, hoa sen, hoa thiên lý, hoa ban… Mỗi vùng miền lại có cách chế biến độc đáo.

Vô vàn món ngon từ hoa ban

Loài hoa bừng sáng núi rừng Tây Bắc những ngày xuân không chỉ tô đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên nơi đây mà còn là dịp để những người mẹ, người chị dân tộc Thái trổ tài nấu các món ăn ngon từ lá và bông hoa ban tuyệt đẹp.

Món phổ biến nhất hoa ban hấp. Những người phụ nữ Thái chọn bông hoa ban mới nở, rửa sạch bằng nước trong khe suối, rồi mang hấp cách thủy. Chỉ khoảng 15-20 phút là xôi hoa ban chín. Món này châm với chéo-một món chấm truyền thống của người Thái gồm muối trắng giã nhuyễn trộn với hạt dổi, mắc khén, mùi tàu, tỏi, ớt.

Món hoa ban xào có vị rất đặc biệt, bùi bùi của những chiếc lá bánh tẻ, ngọt thanh của bông hoa chớm nở. Người Thái xào món hoa ban như xào rau cải, cho ít mỡ lợn, đun nhỏ lửa, xào vừa chín tới, không nên cho thêm gừng để không mất vị thơm tự nhiên của hoa.

 

 

Hấp dẫn thực khách khi ghé qua Tây Bắc mùa hoa ban nhất chính là món nộm. Vẫn dùng cả hoa và những chiếc lá bánh tẻ, nhưng món nộm được làm rất cầu kỳ. Đầu tiên, hoa ban và lá cũng được hấp cách thủy, sau đó trộn với gia vị chính là chéo cho vừa miệng ăn. Nêm chút giấm tự nhiên hoặc chanh cho vị thanh mát. Món này ai ai cũng ưa bởi hương vị quyến rũ của lá, quyện cùng với gia vị tự nhiên của núi rừng. Đặc biệt, với những người thích nhậu, món ăn này đủ làm bạn “say” dù mới chỉ uống vài chén rượu…

Trong mâm cỗ đãi khách của người Thái, món canh hoa ban chiếm một vị trí khá quan trọng. Cũng giống như món xào, canh hoa ban được xào sơ qua, thêm nước vừa sôi là được.

Bạn có thể đặt những món ăn từ hoa ban tại các khách sạn, nhà hàng tại Điện Biên, Sơn La. Hoặc nếu ghé qua những bản người Thái, bạn sẽ được thưởng thức những món ngon từ hoa ban đậm đà hương vị dân tộc.

Đậm đà hoa chuối

Không lạ như hoa ban, hoa chuối là món ăn rất phổ biến và có từ lâu đời ở khắp mọi miền Tổ quốc. Hoa chuối hay được dùng để chế biến các món gỏi, nấu canh chua, hoặc dùng làm rau ăn kèm bún bò cũng rất ngon.

 

 

Món nộm hoa chuối có lẽ là thân quen nhất với nhiều người. Tùy từng nơi mà món nộm này được gia giảm thêm thịt gà, thịt bò khô hay hải sản.

 

 

Nhiều người còn rán hoa chuối lên để dùng như một món chay. Trong hoa chuối chứa nhiều thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khỏe và lợi tiểu.

Hoa thiên lý

Hoa thiên lý còn gọi là Dạ ly hương, không chỉ là nguyên liệu để chế biến món ăn dinh dưỡng mà còn được xem là một bài thuốc. Có rất nhiều món ăn từ hoa thiên lý. Vị ngọt của hoa thiên lý rất hợp để nấu các món canh đơn giản với thịt lợn, xương hay hầm với giò lợn rất ngon.

 

 

Mùa hè, bạn cũng có thể cho thêm vào nồi canh cua nấu với rau đay, mồng tơi để tăng thêm vị ngọt. Hoa thiên lý nấu cua cũng là một món ăn khá lạ miệng. Ngoài ra, hoa thiên lý xào thịt bò hay dùng chung với các món lẩu cũng rất đặc sắc.

Hoa hẹ

 

 

Phổ biến ở trong miền nam, vừa để trang trí, vừa làm món xào với hương vị hấp dẫn. Hoa hẹ có màu trắng, món ăn ngon và dễ chế biến nhất hoa hẹ nấu đậu phụ, thêm ít thịt nạc băm, ăn mát và giải nhiệt trong ngày nóng bức.

Hoa Atisô

 

 

Là một món ăn “đặc sản” và khá đắt khi bạn ghé thăm thành phố mộng mơ Đà Lạt. Khi nhắc đến Atiso, mọi người thường nghĩ ngay đến đấy là một vị thuốc, một loại trà thanh nhiệt, giải độc. Hoa Atisô khi nấu chín có tác dụng bổ dưỡng, tăng cường sinh lực, kích thích tiêu hóa, làm ngon miệng, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa cho sản phụ (khi hầm với chân giò).

Hoa bí

Hoa bí là món ăn dân dã, phổ biến khắp cả nước. Hoa bí có thể ăn được là hoa bí đực của cây bị rợ, không ra quả. Bông bí lớn, màu vàng tươi rất vui mắt. Bông bí được cắt chừa cuống dài, bó thành bó nhỏ đem ra chợ bán. Tuy nhiên, mùa hè, bông bí mới có nhiều.

Người miền Bắc thường luộc hoa bí vì có vị ngọt thanh, phần cuối bí có vị giòn dai, ăn rất thú vị. Món canh mùa hè cũng thường được nấu cùng với hoa bí, nêm thêm ít vị chua, cùng với thịt băm.

Riêng ở miền Nam, bông bí cũng như các loại bông khác như điên điển, bông so đũa làm thành món “lẩu hoa” đầy màu sắc và ngon miệng. Người miền Nam luộc bông bí chấm nước kho cá, kho thịt hay tương dầm ớt. Bông bí còn dùng để nấu canh, xào tỏi, xào thịt bò, xào nghêu…xào bông bí phải canh cho vừa chín mới còn giòn.

 

 

Món đặc sắc nhất của bông bí là “bông bí dồn thịt chiên“ hay còn gọi là chả bông bí. Muốn bông bí ngon, phải hái ngay từ khi bông mới chớm nở, tước sơ qua ở cuống, rửa qua nước để ráo. Sau đó, các thứ như tôm, mực, thịt nạc vai heo quết nhuyễn, trộn tiêu hành, mắm muối, bột năng làm nhân. Để những bông hoa không bị nát khi chiên, bẻ gập các cánh hoa úp đè lên nhau, nhẹ tay bỏ vào chiên với lửa nhỏ để bông bí còn màu vàng tươi, không bị cháy xém.

Ngoài ra, ở Huế còn có món chả bông bí beo béo, thơm thơm, chấm nước tương dầm ớt. Món ăn này thường được làm trong những ngày giỗ, tết của gia đình hay tụ họp

Bông điên điển

Hoa điên điển còn được người dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ gọi bằng cái tên rất dân dã: hoa mùa lũ, hoa cứu đói. Loại hoa này nở theo mùa nước lũ tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Mùa lũ cũng là mùa đói của nhiều người dân ở đây, lúc này ngoài cá thì các loại rau củ quả khá hiếm hoi. Giữa mênh mông nước, chỉ có bông điên điển nở rực. Với nhiều người, bông điên điển có thể làm món dưa chua, món canh, món nộm, kho cùng với cá linh…

 

Ngoài ra, để có thêm thu nhập, nhiều người dân đã đi hái điên điển để bán cho nhà hàng làm món ăn, đổi gạo với những người khác…

Bông lẻ bạn

Cây lẻ bạn có nguồn gốc từ các nước Trung Mỹ, được trồng rộng rãi ở Việt Nam. Cây trồng trong chậu làm cây cảnh, trồng ngoài vườn để làm thuốc. Cây có thân rất ngắn, lá mọc gần như sát đất.

 

 

Lá không cứng, có bẹ, đầu thuôn dài, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu đỏ tím. Cụm hoa nhỏ, mọc ở nách lá, ngoài có hai mo úp vào nhau, giống như vỏ con sò, nên còn được gọi là bông sò huyết (oyster plant). Hoa màu trắng, dùng làm thuốc trị ho, hay nấu canh với xương heo ăn cho mát, bồi bổ cơ thể suy nhược.

Bông so đũa

Cây so đũa hoặc mọc hoang, hoặc được trồng nhiều ở các vùng bờ quanh ruộng của đồng bằng sông Cửu Long. Cây so đũa thon cao, thẳng, vỏ nham nhám, xù xì, nứt nẻ. Trái so đũa nhỏ dài , hình dáng như chiếc đũa.

 

Bông so đũa mọc ở trên cao, kết thành từng chùm, có 2 màu: trắng và tím. Bông so đũa có vị nhân nhẫn đắng, nhưng ngọt hậu. Đầu tháng 10 âm lịch trở đi, cây so đũa đồng loạt ra hoa, cùng lúc với mùa cá linh để có món ăn nức tiếng là cá linh nấu canh chua bông so đũa.

Cũng gần giống với điên điển, bông so đũa được hái xuống, rửa sạch. Bông so đũa khá “mong manh”, vì vậy, khi nấu hay xào, kho, cũng chỉ cho vào một lúc, vài phút rồi bỏ ra thì mới giữ được vì giòn giòn của hoa.

Còn có một vài món ngon khác phải kể tới đó là món canh chua so đũa với tôm he hoặc tôm nõn, món cá lóc bọc bông so đũa hấp cách thủy… cũng dậy hương vị đồng quê, dân dã, thơm ngon khó tả!.

Thanh Phong

http://phorum.vietbao.com

 

Nhãn:

Cơm muối Huế

Đại Dương

(Dân trí) – Lần đầu tiên tại Festival nghề 2011, món cơm muối Huế đặc sắc gần như thất truyền từ lâu đã xuất hiện trở lại với sự kỳ công của đầu bếp, nghệ nhân Huế.
Người “thổi hồn” để tái sinh lại món cơm muối Huế tại gian hàng cùng tên trong không gian ẩm thực Huế là cô giáo, Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm ẩm thực Pháp – Hoàng Thị Như Huy với vai trò cố vấn, đầu bếp Đặng Văn Sơn, ca trưởng bếp KS Festival (TP Huế) cùng những phụ bếp và phục vụ thuộc trường CĐ Nghề Du lịch Huế và trường Âu Lạc.


Đầu bếp Đặng Văn Sơn với mâm cơm muối Huế

Rất cầu kỳ, một thực đơn 200.000đ cho một người ăn gồm 5 món hoàn toàn đều được ăn với muối. Thứ nhất là tôm rang muối ăn với muối ớt xanh. Thứ hai là cháo ngũ sắc được làm từ 5 loại ngũ cốc thiên nhiên là: đậu đỏ, đậu đen, kê, gạo trắng và gạo tím (món này được ăn kèm với muối trắng được ủ trong ché 10 năm). Thứ ba là món xôi 3 màu Phượng Hoàng ăn với muối mè vàng. Thành phần xôi gồm xôi trái gấc, xôi khoai tía, xôi lá dứa – mỗi miếng xôi là hình một chiếc lông chim Phượng Hoàng giữa có nhân đậu xanh vàng.
Thứ tư là món chính: cơm trắng ăn với một lúc 9 loại muối như: muối tiêu, muối cá thu, muối tôm, muối mè, muối ruốc bò…. và món cuối tráng miệng gồm bưởi da xanh, dưa hấu, xoài được chấm với muối mơ làm từ muối và trái mơ từ Hà Nội.

Khách cùng lúc với dùng cơm muối phải uống thêm nước chè gừng mát để làm dịu đi vị mặn của muối.
Theo bà Huy, nguồn gốc của bữa cơm muối xuất phát từ Huế. Ăn cơm muối không phải là người hèn ăn mà xuất phát từ những gia đình danh gia vọng tộc. Nhà giàu hay ăn sơn hào hải vị, có lúc họ bị cơ hàn, kinh tế không đầy đủ mà trúng lúc bạn đến chơi nhà, người chồng bèn bảo vợ có món gì ăn vẫn sang mà phải rẻ nhưng phải làm được thật nhiều món ăn để bữa ăn phong phú.

Người vợ Huế vốn giỏi nấu ăn bèn nghĩ ra muối là thứ gia vị thiết yếu nhất, nếu kết hợp được với các loại ngũ cốc, rau dưa và một ít cá thịt, hải sản là có thể làm ra được rất nhiều món ăn mà không tốn tiền là bao. Từ đó, cơm muối Huế ra đời với hàng chục món ăn từ muối hấp dẫn.


Cô Hoàng Thị Như Huy (áo dài đỏ) giới thiệu đến du khách bữa cơm muối Huế

Theo đầu bếp Sơn, món cơm muối ăn mùa hè khác với mùa đông khi người nấu phải chọn những món nào mang tính hàn (mát) để phù hợp với cái nóng. Như các món muối cá thu, muối tôm, muối mơ rất dễ ăn bắt buộc phải có trong thực đơn đãi khách.

“Để nấu được cơm muối, phải kỳ công khoảng 3 ngày với sự trợ giúp 5 bếp phụ, hay 5 ngày nếu như một đầu bếp nấu, nhanh lắm cũng chỉ hơn 2 ngày. Vì vậy khi khách đặt ăn cơm muối thì phải báo trước nếu không phải chờ” – anh Sơn chia sẻ.
Hiện tại, bà Huy đã làm được tổng cộng 27 món ăn từ muối. Bà Huy tiết lộ “muối nếu để lâu sẽ là 1 vị thuốc, có tác dụng bồi bổ sức khỏe khi nấu ăn. Toàn bộ loại muối tôi nấu đều là muối loại 1 từ Phan Rang. Trong đợt Festival này, tôi có mong muốn là đem lại cho du khách những nét đặc trưng nhất về món ăn độc đáo này và cũng để gìn giữ, bảo lưu món cơm muối Huế không bị mất đi trong kho tàng ẩm thực xứ Huế”.

Được biết, hiện ở Huế chỉ còn dưới 5 nghệ nhân có thể nấu được món cơm muối này.
Rất thú vị, 5 món ăn từ muối của bà Huy bày cho khách cũng được bà thi vị hóa bằng thơ ca như sau:

“Rồng con ngậm muối biển khơi
Sum vầy chén ngọc rạng ngời lúa ơi!
Phượng hoàng tung cánh thảnh thơi
Cơm lành cửu vị mặn mòi chân quê
Quà thơm cuối buổi tiễn chào
Ngọt cay chua mặn đậm tình tri ân”

Dưới đây là cận cảnh những món ăn từ muối của bữa “Cơm muối Huế”: 

 

Món tôm rang muối chấm với muối ớt tươi

Cháo ngũ sắc ăn với muối trắng ủ 10 năm

Xôi 3 màu ăn với muối mè vàng

Một mâm cơm muối với cơm trắng và 9 món muối

Muối cá thu

Muối đậu với thịt

Muối mè đậu

Muối đậu khuôn

Muối ruốc bò

Trái cây ăn với muối mơ

Phải uống với chè xanh ngâm gừng mát mới hạ được khát khi ăn cơm muối

Du khách thích thú khi ăn cơm muối Huế

Đại Dương

(Dân Trí online)

 
 

Nhãn: ,