RSS

Category Archives: Địa danh

Điểm mặt những ngôi chùa Khmer độc đáo

Điểm mặt những ngôi chùa Khmer độc đáo

Những ngôi chùa của người Khmer Nam Bộ có kiến trúc vô cùng độc đáo không nơi nào có được. Chính vì thế, không chỉ là nơi sinh hoạt tinh thần của đồng bào, những ngôi chùa này ngày càng được đông đảo du khách đến thăm quan, chiêm ngưỡng.

Hiện khu vực ĐBSCL có khoảng 600 ngôi chùa Khmer. Trong số đó có rất nhiều chùa cổ vài trăm tuổi được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia và trở thành điểm đến hấp dẫn với nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Đất Việt xin giới thiệu một số ngôi chùa nổi tiếng dưới đây:

Chùa Dơi

Chùa Dơi được xây dựng năm 1569 với tên khai sinh theo ngôn ngữ Khmer Sêrây Têchô Mahatúp, còn được gọi theo tiếng Việt là Chùa Mã Tộc. Chùa nằm trên địa phận tỉnh Sóc Trăng. Cái tên chùa Dơi được nhân dân quen gọi hơn cả vì có một đàn dơi hàng vạn con cư trú trong vườn chùa.

Chùa Dơi nổi tiếng với kiến trúc đẹp và đàn dơi lạ hàng vạn con trú trong vườn chùa.

Chùa Dơi còn nổi tiếng là một quần thể kiến trúc đẹp vào bậc nhất với mái hai lớp ngói mầu. Phía đầu hồi, bốn đầu mái được chạm trổ tinh xảo hình rắn Naga cong vút. Trên đỉnh chùa có một ngọn tháp nhọn. Hàng cột đỡ bao quanh chùa, mỗi cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực như đang cất lời đón chào khách thăm viếng…

Ngay từ cổng vào cho đến kiến trúc mái chùa đã toát lên nét tinh xảo đặc trưng. Những họa tiết vẽ trên cột, trần, khu nhà có tượng Phật nằm tuy không có nhiều tiểu tiết, nhưng cũng đủ mô phỏng tín ngưỡng của người Khmer. Những bức họa lớn do các Phật tử từ nhiều nơi thực hiện gần kín hết các bức tường phía ngoài.

Chùa Tổng Quản

Chùa thuộc xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, có tuổi đời trên 300 năm. Nơi đây không chỉ là nơi sinh họat văn hóa tinh thần gắn liền với lịch sử cộng đồng dân cư, mà ghi dấu lịch sử cách mạng suốt  2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Cuối thế kỷ thứ 17, dưới sự trụ trì của hòa thượng Danh Hoàng (Tà Hoang), đồng bào người Khmer và phật tử ở đây đã khai phá rừng hoang, đuổi thú dữ, dựng lên một ngôi chùa thờ Phật. Khi mới dựng, ngôi chùa có tên gọi theo tiếng Khmer là KOMPÔNG KROBÂY (Chùa Bến Trâu). Đến năm 1948, chùa Tổng Quản được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố (chỉ giữ cột kèo cũ) với lối kiến trúc đặc sắc của ngôi chùa khmer truyền thống.

Từ năm 1952, chùa được gọi là WATT SARÂY SUASĐÂY (Chùa Tự do – Hạnh phúc) đồng bào địa phương cũng quen gọi là chùa Tổng quản.

Chùa Chén Kiểu

Chùa có tên tiếng Khmer làWath Sro Loun, hay Wath Chro Luông, là một ngôi chùa nằm trên Quốc lộ 1A, cách thị xã Sóc Trăng 12km về hướng Tây, hướng từ thị xã Sóc Trăng đi Bạc Liêu.

Chùa đeoh và đặc sắc bởi được trang trí từ những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường. 

Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1815. Theo những người già kể lại, địa điểm xây dựng chùa Sà Lôn đã được dời chỗ 3 lần và đến lần thứ 3 ở ngay địa điểm hiện tại.

Tên của chùa được lấy tên từ một tên của một con sông chạy dọc theo đường làng trước kia, có tên Chro Luong (lối), nên lúc đầu mới xây dựng, chùa được gọi là Wath Chro Laung, về sau đọc chại thành Sro Lôn, hay Sà Lôn.

Sở dĩ chùa Sà Lôn có tên gọi là Chén Kiểu docó nét đặc sắc là những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường để trang trí.

Trong Chiến tranh Việt Nam, ngôi chánh điện của chùa bị sập do bom đạn. Năm 1969, chùa được trùng tu, đến năm 1980 thì hoàn thành. Trong khi trùng tu lại phần sau ngôi chánh điện, do thiếu kinh phí nên các vị sư sãi cùng ban quản trị chùa đã nảy ra sáng kiến lấy những mảnh vỡ chén kiểu đắp vào. Khi du khách thập phương đến chùa tham quan, đã thấy được sự khác biệt trong việc sáng tạo phong cách xây dựng chùa nên gọi chùa Sà Lôn là Chén Kiểu.

Chùa Ghôsitaram

Chùa thuộc ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu. Hòa thượng Hữu Hinh, trụ trì Ghôsitaram, cho biết chùa được xây dựng năm 1860, là cái nôi của phong trào tu học. Đến nay, đã đào tạo thành danh hơn 3.500 tăng sinh và học sinh. Chùa không chỉ là nơi tu học, rèn đức luyện tài cho giới tăng sinh, mà còn tổ chức các lớp học bổ túc văn hóa cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Ngoài những ngọn tháp cao chót vót, chùa còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc

Năm 2001, chùa được trùng tu và xây mới phần chính điện theo kiến trúc cổ kết hợp với kiến trúc hiện đại, hài hòa giữa kiến trúc truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer với tinh hoa văn hóa dân tộc.

Ngoài những ngọn tháp cao chót vót còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc. Bên ngoài và phía trong của chánh điện được điêu khắc tỉ mỉ với hàng trăm hình tượng khác nhau theo truyền thuyết Tam tạng kinh của Phật giáo. Khắp nơi trong chánh điện đều được chạm trổ, đắp đường nét hoa văn phức tạp và độc đáo bằng bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Khmer, tạo thành một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Để hoàn thành chạm trổ hoa văn cho ngôi chánh điện, nghệ nhân Danh Sà Rinhông đã mất khoảng 4 năm.

Công trình sẽ trường tồn để làm nơi tu hành, làm lành, lánh dữ theo con đường thiện pháp của Phật giáo. Ngoài chánh điện, nhiều hạng mục phụ khác cũng được xây dựng như đôi cột phướn, hai nhà tháp thờ hài cốt tập thể, đài hỏa táng, nhà để ghe ngo.

Chùa Vàm Ray

Chùa Vàm Ray khánh thành năm 2010 tại tỉnh Trà Vinh. Đây là ngôi chùa Khmer đến thời điểm hiện tại là lớn nhất Việt Nam do ông Trầm Bê tài trợ phục chế và cải tạo, trong thời gian 3 năm với tổng kinh phí hơn 1 triệu USD.

Chùa Vàm Ray mang đặng trưng kiến trúc Angkor và hiện là ngôi chùa Khơ me lớn nhất Việt Nam.

Chùa Vàm Ray mang đặng trưng kiến trúc Angkor của người Campuchia với hai cấp sân rộng bao quanh ngôi chánh điện, được tráng xi măng. Mái  có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có tháp nóc.

Chi tiết, hoa văn được chạm khắc tỉ mỉ bằng đất sét, đặt trên 1 bàn lớn, xong họ áp vữa – bê tông vào để đổ thành khuôn, họ dùng những khuôn này để tạo nên những chi tiết, hoa văn trên công trình.

Đỉnh cao nghệ thuật ở chùa thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang, như tượng đầu vị thánh bốn mặt Maraprum là tiền thân của Brahma, vị thần sáng tạo ra thế giới, nữ thần Kayno nửa người nửa chim, chim thần Marakrit. Trên những hàng cột là phù điêu các tiên nữ và quái vật; thánh bốn mặt Maraprum “đội đèn” ở chi tiết lan can; những hàng cột phía ngoài chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc cổ Cô-ranh, phía trên tiếp giáp giữa đầu cột với mái chùa có tượng thần Krud mình người đầu chim, mỏ ngậm viên ngọc với hai tay đỡ mái chùa…

theo Đất Việt

Advertisements
 

Bức huyết thư của một công chúa

Việc một công chúa dùng máu viết câu đối tặng ngôi chùa mà mình từng đáo qua thuở còn nguy nan, bất trắc quả là chuyện xưa nay hiếm trên đời. Bút tích ấy càng trở nên có giá trị vì những lời trong câu đối ấy như soi rọi, minh chứng cho cái tâm của người xuất gia.

Nằm trên đất Trấn Biên xưa (nay là thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), nhắc đến chùa Đại Giác, khách hành hương và người mộ đạo phương xa thường liên tưởng đến ngôi cổ tự u tịch hơn 300 năm tuổi còn giữ nguyên dáng kiến trúc xưa cùng bản “lý lịch” nhuốm màu thăng trầm, hư hư thực thực.

 Theo bước chân của những người lòng đang hướng về đất Phật đến vãn cảnh Đại Giác tự, bên cạnh những hiểu biết sơ sài ấy, chúng tôi may mắn được nhiều bậc cao niên bật mí rằng không chỉ từng lưu dấu bước chân quân vương, Đại Giác tự còn sở hữu những bảo vật vua ban, đặc biệt là câu đối được viết bằng máu của công chúa Ngọc Anh, con gái vua Minh Mạng. Đâu là sự thật?
 Cách thành phố Biên Hòa khoảng 1km và cách TP HCM khoảng 30km về hướng Đông Nam, theo các bậc cao niên, xưa kia chùa Đại Giác thuộc địa phận thôn Bình Hoàng, xã Hiệp Hòa, tổng Trấn Biên (nay thuộc ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa). Bên dòng Đồng Nai chở đầy phù sa đang ngày đêm tắm mát Cù Lao phố (tên gọi xưa nơi phát tích chùa Đại Giác), bà Hà Thị Hải, pháp danh Chơn Nguyên, Phật tử chùa Đại Giác, bật mí: “Nghe các bậc cha chú truyền kể, chùa Đại Giác lúc ban sơ có kiến trúc nhỏ hẹp với vách ván, cột gỗ lợp ngói âm dương. Sau này chùa bề thế, được nhiều người tìm đến hương khói nhờ lệnh kiến tạo, trùng tu của 2 đời vua Gia Long, Minh Mạng và công chúa Ngọc Anh”. 
Theo tư liệu xưa còn lưu tại Giáo hội Phật giáo Đồng Nai, vào giữa thế kỷ XVII có 3 nhà sư đến Đồng Nai hoằng hóa Phật giáo. Men theo vùng đất ven sông Đồng Nai, nhà sư Thành Nhạc cùng một số Phật tử dựng lên chùa Long Thiền vào năm 1664 (nay là xã Bửu Hòa). Nhà sư thứ 2 có pháp danh Thành Trí theo đoàn di dân làm nghề khai thác đá trên núi Bửu Long và tạo dựng nên chùa Bửu Phong (1679). Vị sư cuối cùng là Thành Đẳng và một số người chèo ghe đến Cù Lao Phố khẩn hoang và dựng nên chùa Đại Giác vào năm 1665.
Pho tượng Phật vua ban ở chùa Đại Giác.

Bên tượng Phật bằng đá cẩm thạch dưới gốc cây bồ đề cổ thụ cao hơn 30m, cội rễ u nần ước hơn 200 năm tuổi gắn với truyền khẩu “vào những đêm trăng sáng tượng phát ra ánh hào quang huyền hoặc, những ai được thấy luồng ánh sáng ấy thì bao dã tâm, toan tính sẽ lắng đọng, một lòng hướng thiện, từ bi, những tham-sân-si từ đây chỉ là khái niệm xa lạ”, cụ bà ngoài 80 tuổi pháp danh Nguyên Sa bật mí, chùa Đại Giác còn được dân gian gọi là “chùa Phật Lớn”. Căn nguyên của tên gọi này bắt nguồn từ bảo vật vua ban cho chùa là một tượng Phật khổng lồ vào năm 1802.

Để minh chứng lời nói của mình có cơ sở, bà cụ gửi tặng chúng tôi quyển kỷ yếu về chùa do Ban quản lý Di tích danh thắng Đồng Nai xuất bản. Theo nội dung của quyển sách này, vào năm 1779, trên đường trốn chạy sự truy kích của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh cùng công chúa thứ 3 là Nguyễn Thị Ngọc Anh đã đến trú ngụ tại chùa. Khi lên ngôi vua lấy niên hiệu Gia Long, nhớ ơn xưa, vào năm 1802 (Gia Long nguyên niên), Nguyễn Ánh đã ban chiếu trùng tu ngôi chùa và cho tạc pho tượng A Di Đà bằng gỗ quý cao 2,25m.

Để cận cảnh bảo vật vua ban, chúng tôi lần bước vào chánh điện và ngay lập tức bị vóc dáng thư thái, gương mặt nhân từ, siêu linh cùng ánh vàng huyền bí của pho tượng khổng lồ hơn 200 năm tuổi, hút chặt. Tượng với gương mặt nhân từ, mắt nhắm nghiền thoát tục, đầu tỏa hào quang, toàn thân toát nên vẻ thanh thoát, bình yên, với màu vàng huyền bí, được bố trí ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất của chánh điện, phía dưới là hàng chục tượng cổ bằng các chất liệu đất nung, gỗ quý được tạc từ gỗ nguyên khối của các loài danh mộc như lim, sến, gụ, trắc… như tượng các vị Ngọc Hoàng, Thiên Bồng, Tiên Tướng, Nam Tào, Bắc Đẩu…

Kiến trúc cổ kính của chùa Đại Giác là điểm dừng chân của biết bao tao nhân mặc khách.

Theo tâm tình của các bậc cao niên, qua bao biến chuyển của thời cuộc và ánh mắt cú vọ của những kẻ săn tìm vàng mà pho tượng còn được bảo vệ nguyên vẹn đến hôm nay là cả kỳ công của bao thế hệ sư trụ trì chùa và người dân vùng đất Trấn Biên. Các cụ xưa kể lại khi thôn tính Nam Kỳ, thực dân Pháp tổ chức vơ vét nhiều của cải, đặc biệt là các cổ vật ở các đình-đền-chùa-miếu. Để bảo vệ pho tượng vua ban tránh nạn bị mang đi hoặc đập phá để xem trong thân tượng có giấu vàng, lúc bấy giờ lớp sơn vàng của pho tượng đã được tiền nhân thay bằng màu xanh, đỏ nhìn cứ như tượng được đắp bằng bê tông. Cũng từ tâm tình của bà Hải, chúng tôi được biết người đời đồn đại rằng sở dĩ tượng A Di Đà vua ban cho chùa Đại Giác luôn toát ra mùi thơm thoang thoảng dễ chịu là nhờ ẩn trong thân tượng có trầm và kỳ nam. Chẳng biết thực hư chuyện này như thế nào nhưng điều mà bất kỳ cư dân cựu trào nào ở vùng đất Trấn Biên đều rành rẽ chuyện, tượng vua ban là bảo vật đặc biệt trong nhiều bảo vật khác của chùa Đại Giác.

Còn chưa hết ngỡ ngàng trước phong thái vô ưu và những tình tiết ly kỳ của pho tượng từng một thời được người đời râm ran là “tượng Phật vàng khổng lồ”, chúng tôi rất đỗi xúc động khi được một sư cô ở chùa cho biết chùa còn đang lưu giữ 2 di vật quý báu khác liên quan đến Công chúa Ngọc Anh. Báu vật đầu tiên là tấm hoành phi Đại Giác Tự dài khoảng 2m, chữ vàng nổi bật trên nền vải đỏ, được Công chúa Ngọc Anh phụng cúng vào năm 1820. Ni sư Thích Nữ Diệu Trí, trụ trì chùa, cho biết, vào năm 1820, vua Minh Mạng ban lệnh tu sửa lại chùa. Nhân dịp này, công chúa Ngọc Anh đã cúng chùa bức hoành phi treo trước chánh điện từ đó đến nay. Công chúa cũng cắn ngón tay dùng máu viết trên lụa tặng chùa câu đối. Hiện bút tích ấy của công chúa vẫn được nhiều thế hệ sư trụ trì trân trọng lưu giữ.

Bức hoành phi “Đại Giác tự” do công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh dâng cúng.

Không chỉ chúng tôi mà nhiều người khi biết được bí mật về bức huyết thư của công chúa Ngọc Anh, cảm giác bồi hồi, xao xuyến pha lẫn niềm xúc động cứ thế trào tuôn. Bức huyết thư được lồng trong khung kính, được tiền nhân phiên ngữ và tạm dịch với nội dung như sau:

Ưng-Ngọc Anh công chúa mệnh đề-Biên Hòa, Đại Giác cổ tự.

Đại than nguyên chính đạo, quán danh lợi vị phong trần bào ảnh đáo đầu, vô đắc vô minh, chư bàn thị huyễn.

Giác ngộ hóa huyền cơ, chiếu tham sân si sắc tướng chân như, cứu cánh bất sinh bất diệt, ngũ uẩn giai không.

Thiên vận Giáp Dần. Mạnh hạ cát nhật“.

Tạm dịch: “Kính ghi-Công chúa Ngọc Anh – Đại Giác cổ tự, đất Biên Hòa. Làm người trong chính đạo, phải xem danh lợi như gió bụi, như bóng nước xoáy vần, chẳng thấu vô minh, tất cả chỉ là huyễn.

Tỏ ngộ được huyền cơ, soi rọi được tham sân si, sắc tướng của chân như rốt cuộc chẳng sanh diệt, năm uẩn đều là không.

Vận trời năm Giáp Dần. Ngày tốt tháng đầu mùa hạ“.

Việc một công chúa dùng máu viết câu đối tặng ngôi chùa mà mình từng đáo qua thuở còn nguy nan, bất trắc quả là chuyện xưa nay hiếm trên đời. Bút tích ấy càng trở nên có giá trị vì những lời trong câu đối ấy như soi rọi, minh chứng cho cái tâm của người xuất gia. Không chỉ các thế hệ nhà sư tu hành tại chùa Đại Giác, những tăng ni, Phật tử qua bao đời đều xem ý nghĩa của những dòng tuyệt bút ấy của công chúa Ngọc Anh là kim chỉ nam dẫn dắt mình đến bến bờ của cõi Phật.

Chiều tà, trong ánh nến mờ mờ ảo ảo, đứng trước bức huyết thư được treo trang trọng trên thân cây cột bằng gỗ lim lên nước bóng loáng, như nhiều người khác, chúng tôi thấy lòng dạ mênh mang, như thấy thời gian quay ngược trở lại với bóng dáng đài các của cô công chúa tuy sống trong gấm vóc lụa là nhưng vẫn xem danh lợi như gió bụi, mọi của cải, quyền lực chỉ là huyễn mà thôi!

Chùa Đại giác có diện tích 3000m2. Khởi nguyên chùa được bố trí xây dựng hình chữ Nhị, qua nhiều lần trùng tu chùa có kiến trúc hình chữ Đinh. Năm 1952 (Nhâm Thìn), do lũ lụt chùa bị mối ăn nhiều nên các bô lão người địa phương vận động bá tánh đóng góp công của trùng tu. Đến năm 1960, trụ trì chùa lúc bấy giờ là Hòa thượng Huệ Minh cho trùng tu lại tòa bộ hệ thống cột, tường bao bằng vật liệu tạo nên quy mô kiến trúc như hiện tại. Sự kết hợp cảnh trí thiên nhiên hài hòa cùng các công trình kiến trúc nghệ thuật đã tạo nên vẻ đẹp hài hòa, uy nghiêm cho ngôi chùa. Chùa Đại Giác đã được Bộ văn hóa thông tin – Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 28/9/1990 theo quyết định số 933/QĐ. 
Theo sử liệu, vào năm 1679, do không chịu khuất phục nhà Thanh nên Tổng binh Trần Thượng Xuyên (triều Minh) đã cùng gia quyến, 3.000 lính thân tín đi trên 40 chiến thuyền xin chúa Nguyễn cho phép khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù Lao Phố ngày nay). Sau hơn 6 thập niên phát triển cực thịnh, trở thành trung tâm thương mại của cả vùng Gia Định, năm 1747 trở về sau, Cù Lao Phố dần suy yếu do các cuộc bạo loạn, binh biến.


Bích Kiều – CSTC tuần số 40
 – http://hoalinhthoai.com
 

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á (Tiếp theo)

Thomas Suárez

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN

VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ

VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á (TT)

Ngô Bắc dịch

*****

Phụ Lục 15

Lục Địa Đông Nam Á

Trong Bản Đồ Của Gastaldi năm 1548

(các trang 148-149)

Mã Lai

Sự minh họa của Gastaldi về Bán Đảo Mã Lai và Đông Dương, mặc dù là một sự miêu tả “hiện đại”, vẫn mang các cội rễ xa xôi trong bản đồ Golden Chersonese (Bán Đảo Vàng) của Ptolemy.  Giống như một nhà điêu khắc nhồi nhét và vắt nặn đất sét của mình trước khi nó khô đi với thời gian, Gastaldi đã cố khuôn đúc kiến thức địa dư của thời đại ông vào bản đồ Bán Đảo Vàng của Ptolemy hơn là vứt bỏ nó toàn bộ để làm một tác phẩm điêu khắc hoàn toàn mới chưa từng có.  Ông ta lấy phần vẽ lục địa Đông Nam Á của Ptolemy (so sánh phần vẽ về Mã Lai của ông với phần tương ứng trong bản đồ của Ptolemy, Hình 27), và đã kiểu chính vĩ độ của Mã Lai để nới dài về phía nam tới 1 ½ o bắc vĩ độ, như được báo cáo một cách chính xác trong nhật ký của Pigafetta, chứ không phải là 1 ½ o nam vĩ độ được tìm thấy trong bản thảo và ấn bản lần đầu tiên quyển nhật ký của ông ta, và được sử dụng bởi Fine hồi năm 1531, hay 3o nam, như trong chính bản đồ của Ptolemy.  Hình dạng chiếc lá lật ngược cho phần đất phía nam của Mã Lai trong bản đồ của Ptolemy (có thể là Sumatra) giờ đây nghiêng về phía đông một cách chính xác, và mỏm trên đó Ptolemy vẽ ra có thể tượng trưng cho phía nam của Đông Dương (thi trường Zaba, được trích dẫn bởi Ptolemy nằm ở tọa độ 4o45” băc vĩ độ) và giờ đây nằm ngay trên 10o (số tọa độ chính xác là ngay trên 8o).  So sánh hai bán đảo này với hai phần đất tiền thân của chúng trong bản đồ Ptolemy cho thấy rằng Gastaldi đã đánh đồng vùng Sinus Perimulicus của Ptolemy với Vịnh Xiêm La (Gulf of Siam) – một danh xưng mà trong thực tế, ông giữ lại trên bản đồ là Golfo Permuda.

Singapore ….

Căm Bốt và Miến Điện …

Xiêm La và Các Vương Quốc Khác Trên Bản Đồ Năm 1548

Davsian, vương quốc phía bắc của Ava, là Sian (Siam: Xiêm L), cách đọc sai từ từ ngữ d’Ansian (có nghĩa vương quốc của Xiêm La) được nhận thấy trong các bản đồ chẳng hạn như bản đồ của Ribero năm 1529.  Nagogor, trên bờ biển phía đông của Mã Lai, là Lugor (Nakhon si Thammarat), một thành phố tại miền nam Thái Lan, thành phố Nagaragoy trên các bản đồ sớm hơn như bản đồ của Waldseemmuller năm 1513 (Hình 57).  Trong trận chiến dành quyền kiểm soát Malacca, người Bồ Đào Nha đã sớm vương vấn vào một sự say đắm với Xiêm la, vừa bởi sự giàu có và quyền lực dự tưởng của nó, vừa bởi sự cạnh tranh của nhà vua của nó với các nhà lãnh đạo Malacca mà Albuquerque đang giao tranh.  Chính vì thế, Albuquerque đã phái một sử giả, Duarte Fernandes, đến Ayuthaya ngay trước khi ông ta chiếm đoạt được Malacca.  Người Bồ Đào Nha cảm thấy an tâm khi biết rằng nhà lãnh đạo Xiêm La, Rama T’ibodi II, đang bận tâm về chiến cuộc với Chiang Mai, và không có ý đe dọa cán cân giữa những kẻ đang dành giựt Malacca.  Một sứ bộ Bồ Đào Nha khác đã đi đến Ayuthaya trong năm 1518, lần này để thiết lập một hiệp ước với Vua Rama T’ibodi II.  Người Bồ Đào Nha được cho phép định cư tại Xiêm La và được mua bán tại Ayuthaya, Lugor, Patani, và Mergui, trong khi người Xiêm La được phép định cư tại Malacca, và được hứa hẹn súng ống cho cuộc chiến tranh của họ chống lại Chiang Mai.

Comche China (Cochin-China), một từ ngữ được đặt ra bởi người Bồ Đào Nha và được sử dụng trước tiên để chỉ bất kỳ phần đất nào của Việt Nam khác hơn là xứ Chàm hay miền Châu Thổ sông Cửu Long, được ghi tên bên cạnh Đông Dương.  Từ ngữ này có thể có nguồn gốc từ tiếng Mã Lai là Kuchi, bản thân có thể đến từ danh xưng bằng tiếng Hán, “Chiao-Chili: Giao Chỉ”, hay Tongking (Đông Kinh, [tức Bắc Kỳ]).  Tomé Pires đã giải thích rằng “Cochin-China” là một từ ngữ được dùng tại Malacca, [trong thành ngữ] “xét về miền Cauchy Coulam”.  Người Bồ Đào Nha có thể đã bổ túc từ ngữ “China” vào từ ngữ “Cochin” để phân biệt nó với vùng Cochin thuộc Ấn Độ.  Barros xem vùng Cochin-China là vùng ít được biết tới nhất trong các vương quốc Đông Dương (sau Căm Bốt và Chàm).  Ông cho rằng sự thiếu hiểu biết của Tây phương về vùng Cochin-China là hậu quả của các đại dương giông bão và bất trắc ngoài bờ biển của nó, và vì sự kiện rằng người Cochin-China ít khi tham gia vào các cuộc mạo hiểm đường biển.  Một thế kỷ sau đó, giáo sĩ Dòng Tên Marini đã phàn nàn rằng các nhà địa dư đã sử dụng sai từ ngữ “Cochin-China” để chỉ toàn thể Đông Dương bởi họ không hay biết gì về miền này và lịch sử của nó.

Pires có báo cáo rằng vương quốc này, giống như xứ Chàm, là một dân tộc nặng về nông nghiệp hơn là đi biển, mặc dù ông ta tin rằng nước này được ban cho nhiều con sông lớn, có thể hải hành được, và hay biết rằng các thương nhân của nó thường xuyên du hành sang Trung Hoa, và đôi khi sang Malacca.  Cochin-China liên hệ chặt chẽ với Trung Hoa về văn hóa, thương mại, và ngay bởi sự kết hôn giữa các hoàng tộc.  Sự quen thuộc với Tongking (Bắc Kỳ) – được làm chứng bởi sự xuất hiệu danh xưng của nó trên các bản đồ Âu Châu – gia tăng khi người Bồ Đào Nha tự định cư tại Macao, nơi đã cung cấp một căn cứ thực dụng để với tới Việt Nam.  Một khi từ ngữ Tongking đã được đặt cho miền bắc Đông Dương, danh xưng Cochin-China đã được dùng để chỉ An Nam (Trung Kỳ), phần đất Việt Nam tập trung quanh thành phố Huế. [hết trích dịch]

Hình 73: Đông Nam Á, Giacomo Gastaldi, 1548 (13 x 17 cm)

*****

Phụ Lục 16

Lục Địa Đông Nam Á

Trên Bản Đồ của Ramusio năm 1554 và

Trên Bản Đồ của Gastaldi năm 1561

(các trang 150-151)

       [Bắt đầu trích dịch] Nói chung, những gì có thể nói về lục địa trên bản đồ của Ramusio năm 1554 có có thể đúng như vậy đối với Bản Đồ Của Gastaldi năm 1561.  Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến Bản Đồ Của Ramusio khi Bản Đồ Gastaldi khác biệt một cách đáng kể.

Trong khi hình dạng của Mã Lai trên Bản Đồ Gastaldi năm 1548 có giữ lại một sự ám chỉ đến Bán Đảo Vàng của Ptolemy, Bản Đồ Của Ramusion có một hồi ức mơ hồ về bán đảo Cantino cổ xưa (Xem Bản Đồ Waldseemuller Asia, Hình 57), tương tự cũng chính xác về vĩ độ, với sự định hướng mỏm phía nam cũng được quay ngược lại một cách chính xác.  Tuyệt vời hơn rất nhiều về hình vẽ của Mã Lai so với bản đồ năm 1548, đây là nền tảng của Mã Lai, Đông Dương, và đúng ra lục địa Đông Nam Á hiện đại.  Một vài bản đồ thế giới được ấn hành vào khoảng cùng lúc với bản đồ Ramusio cũng cho thấy các sự cải tiến trên vùng lục địa, nổi bật là bản đồ khá thô sơ của Lopez de Gómara năm 1552-53, và, đặc biệt hơn, bản đồ của Michele Tramezzino năm 1554.

Việt Nam

Sông Hồng có được bước khởi đầu, ở đây, và được trình bày cùng với thành phố của Cochinchina (Hà Nội) được vẽ bên bờ sông của nó.  Tiếp tục đi xuống phía nam, chúng ta đến một bán đảo nhô ra về phía đông được đặt tên là Capo pulocanpola.  Tên này là cách gọi sai của danh xưng “Pulo Condore” (Côn Sơn), một hòn đảo ngoài khơi Châu Thổ sông Cửu Long, và là một biến thể của từ ngữ fulucandoia trong nguyên mẫu bán đảo Đông Dương trên bản đồ của Cantino năm 1502 và nhiều bản đồ kế tiếp của cùng gia tộc này (xem trang 109 [trong nguyên bản, chú của người dịch] bên trên).  Bản đồ của Ramusio gần với sự thực hơn, với từ ngữ fulu của Cantino giờ đây được đánh vần một cách chính xác hơn là pulo (hòn đảo).

Sông Cửu Long

Theo sau quái trạng này, chúng ta đi qua xứ Chàm (Campa) và có được cái nhìn thoáng qua dòng sông dũng mãnh Cửu Long và vùng châu thổ trải rộng của nó, được ghi theo tên hiện đại của nó (Mécon), mà theo Camões có nghĩa là “Ông Hoàng Của Các Dòng Sông” (Prince of Waters).  Quyển Travels của Pinto đề cập đến dòng sông là Pulo Cambin, mặc dù đây rõ ràng là một cách gọi sai lạc theo văn bản bởi pulo, như Pinto hẳn phải hay biết, có nghĩa “hòn đảo” (island).  Nhiều nhà vẽ bản đồ sau này đơn giản chỉ sông Mekong là Sông Căm Bốt (River of Cambodia).

Dòng chảy của sông Cửu Long là một sự đoán mò, dòng sông được hình dung như một hải lộ gần như thẳng tuột, thông suốt, đến tận nội địa Trung Hoa xa xôi.  Chính vì với quan điểm ngây thơ về dòng chảy của sông Mekong này, chúng ta nhìn thấy sự mở màn cho hai sự ngụy biện có tầm quan trọng bao la.  Sự sai lầm thứ nhất là giấc mơ rằng con sông có thể cung cấp một thông lộ thương mại dễ dàng vào đến tận trung tâm của Vương Quốc Thiên Triều, một cuồng vọng ám ảnh các kẻ tìm kiếm của cải người  Âu Châu mãi cho đến cuối thế kỷ thứ mười chín.  Thứ nhì, bởi vì người Âu Châu đã nhận thức sông Mekong như xác định biên giới phía đông của Xiêm La, dòng chảy phán định dành cho con sông huyền bí – thiếu mất bước ngoặt gắt sang phía đông ở phía bắc Phnom Penh – đã làm giảm bớt lớn lao sự nhận thức của khối Tây về kích thước của Xiêm La.  Sự sai lầm này, như chúng ta sẽ thấy sau này, giúp cho Xiêm La tránh được sự đô hộ của ngoại bang trong thế kỷ thứ mười chín.

Biển Hồ Tônle Sap

Cả bản đồ của Ramusion và của Gastaldi năm 1561 đều trình bày sơ sài về Biển Hồ Tônle Sap, hồ được đổ nước vào từ một phụ lưu của hạ lưu sông Cửu Long với bờ hồ tây bắc giáp ranh với kinh đô cổ thời ở khu đền Angkor.   Nhưng kích thước của hồ khác nhau một cách rõ rệt giữa hai bản đồ.  Bản đồ của Ramusio cho thấy nó như một hồ tương đối nhỏ được giới hạn vào miền châu thổ sát cạnh, trong khi bản đồ của Gastaldi chạy dài gần đến vĩ độ 5o .  Tại sao lại có một sự khác biệt đến thế giữa hồ trên hai bản đồ có các vùng lục địa, mặt khác, liên hệ chặt chẽ với nhau?  Chiều rộng của hồ Tônle Sap trong thực tế thay đổi một cách sâu xa, mở rộng và thu nhỏ khi mà hạ lưu sông Mekong thực sự đảo ngược dòng chảy hai lần trong một năm.  Giống như một lá phổi của lưu vực sông Mekong, hồ nhiều cá mở rộng và thu nhỏ theo mùa,thay đổi kích thước gần mười lần từ khoảng 2600 đến 25,000 kilomét vuông, và chính vì thế các nhà thám hiểm nhìn thấy hồ ở các thời điểm khác nhau trong chu kỳ của nó sẽ báo cáo các cảnh tượng hoàn toàn khác biệt.  Ramusio chỉ đơn giản chỉ danh hồ là Lago, trong khi Gastaldi dùng chữ Lago de Cambodia (Hồ của Căm Bốt).  “Tônle Sap”là một từ ngữ tiếng Căm Bốt có nghĩa “hồ vĩ đại”, giống như Chao Phraya hay Sông của Thái Lan từ lâu được gọi bằng một danh từ của Thái để chỉ con sông, “menam”. [hết trích dịch]

Xin xem và so sánh các hình 74 và 75 bên trên, chú của người dịch.

***

Hình 78: Thuyền xưa đáy bằng, boong thấp, chèo bằng tay của nhà vua Bắc Kỳ, và (góc dưới, bên phải], cách họ ăn cơm bằng đũa.  Trong tập Delle Missionidé Padri della Campganiadi Giesu của Marini, Rome, 1663.  Vị tu sĩ địa phận Choisy thuật lại một sự trình bày sống động về các chiếc thuyền này mà ông đã nghe được trong cuộc du hành đến Xiêm La năm 1685 của ông, và tương hợp một cách chặt chẽ với hình minh họa của Marini.  “Mỗi thuyền đáy bằng [của Cochin-China] có ba mươi sáu tay chèo ở mỗi bên,” (được vẽ với con số chính xác) và chỉ có một người cho mỗi mái chèo.  Phần mũi và đuôi tàu bỏ trống  và đài cao dành cho các sĩ quan.  Không có gì ngăn nắp cho bằng các người này.  Các tay chèo phải luôn luôn trông chừng vị thuyền trưởng, kẻ bằng động tác của chiếc gậy chỉ huy ra hiệu cho họ thi hành các mệnh lệnh của ông.  Tất cả nằm trong một sự hòa hợp đến nỗi một nhạc trưởng khó làm khá hơn trong việc phối hợp nhịp điệu các nhạc sĩ của mình cho bằng một vị thuyền trưởng một chiếc thuyền đáy bằng của Cochin-china tuân theo sự di chuyển của chiếc gậy chỉ huy.  ”Vị nhạc trưởng” đứng trên “bục” bên trái, tay cầm gậy chỉ huy.  Mặt ngoài của thuyền được quét sơn bóng màu đen và mặt trong có một lớp sơn mài màu đỏ trên đó người ta có thể thấy phản chiếu khuôn mặt của mình.  Tất cả mái chèo đều được thếp vàng.” (Cảm ơn hảo ý của Martayan-Lan, New York)

*****

Phụ Lục 17

Các Phái Bộ Truyền Giáo Âu Châu Đến Việt Nam

(các trang 216-217)

       [Bắt đầu trích dịch] Các giáo sĩ Dòng Tên Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha, và Pháp đã bắt đầu tổ chức các phái bộ sang Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ mười bẩy.  Alexandre de Rhodes, quê quán tại Avignon đã làm việc trong hai thập niên tại Đông Á Châu, được phái đến Bắc Kỳ (Tongking) trong năm 1627 bởi các bề trên của ông ở Ma Cao.  Đã sẵn học ngôn ngữ Việt Nam trong thời cư trú trước đó tại nước này, ông đã thành lập một phái bộ ở Hà Nội và tuyên bố đã thụ hưởng sự thành công mau chóng và vững chắc trong các sự cải đạo (mặc dù Willam Dampier tường thuật rằng nhiều người cải đạo được báo cáo bởi các nhà truyền đạo Thiên Chúa là các kẻ nghèo đói đã tìm đến các người Âu Châu để có gạo “trong các thời kỳ khan hiếm”).  Tuy nhiên, ông Rhodes đã bị trục xuất ba năm sau đó, nhiều phần bởi các bà vợ của nhà vua cùng gia đình của họ, các kẻ lo sợ tương lai sẽ ra sao nếu các giáo lệnh của Thiên Chúa chống lại chế độ đa thê được chấp nhận, đã áp lực nhà vua cấm đoán ông ta.  Trong năm 1650, một năm sau khi trở lại Rome, ông Rhodes đã xuất bản một tập tường trình về Việt Nam có chứa một bản đồ phần miền bắc của xứ sở (Hình 130).  Nhan đề của bản đồ trưng dẫn danh xưng cổ xưa, “An Nam”, có nghĩa “miền nam đã được bình định”, một sự ám chỉ đến sự khuất phục của nó dưới sự cai trị của Trung Hoa từ khoảng 111 trước Công Nguyên đến năm 939 sau Công Nguyên.  Bản đồ phản ảnh hình ảnh của miền bắc Việt Nam như có nhiều con sông ngắn, điều mà Choisy đã mô tả trong năm 1685 như “quá ngắn và quá nhiều đến nỗi không ai đặt tên cho chúng cả.”

Một bản đồ Việt Nam đáng lưu ý khác được họa vào thời khoảng này bởi Daniel Tavernier, kẻ đã thực hiện mười một hay mười hai cuộc du hành đến Bắc Kỳ trong thập niên 1640 từ các tiền trạm tại Nam Dương.  Daniel mất năm 1648, nhưng người (anh) em nổi tiếng hơn của ông, Jean Baptiste, đã công bố bản đồ của Daniel vào năm 1679 (Hình 131) như một phần của phụ lục cho tập tường trình các cuộc du hành của chính ông đến Á Châu, vốn đã mang lại cho ông một sự giàu có đáng kể nhờ việc mua bán kim cương.  Bản đồ và các phần ghi chú khác nhau, giống như sự tường thuật về Bắc Kỳ của tác giả, chứa đựng cả các tin tức xác thực lẫn hoang đường.

Dampier đã để lại cho chúng ta các cảm tưởng của ông về việc ngược dòng sông lên Hà Nội (Kecio trên bản đồ của Rhodes, Checo trên bản đồ của Tavernier):

Trong khi chính từ đó chúng tôi đi ngược dòng Sông, đôi khi chèo tay và đôi khi trương buồm, chúng tôi nhìn được một cảnh tượng ngoạn mục trên Xứ Sở phì nhiều bằng phẳng khoảng khoát.  Tổng quan, hoặc Đồng Cỏ hay các cánh đồng ruộng Lúa và vắng bóng cây cối, chỉ ngoại trừ gần các Ngôi Làng, mọc lên san sát, và trông có vẻ vô cùng thích thú từ xa.  Có nhiều Ngôi làng nằm sát các bờ của các con Sông, bao quanh bởi Cây Cối chỉ mọc ở phía đàng sau , nhưng để ngỏ ở mặt hướng đến con Sông.

Dampier đã mô tả thành phố là đông đảo, nhưng kinh đô rất ngăn năp được chia thành 72 khu vực, mỗi khu có một con đường chính rộng lớn với nhiều phố bên hông nhỏ hơn.  Nó là thị trường chính cho vùng Châu Thổ sông Hồng.  Trong khi bản đồ của Rhodes dành cho An Nam (miền bắc Việt Nam) [tức Đàng Ngoài khi đó, chú của người dịch], bản đồ của Tavernier bao gồm toàn thể bờ biển Đông Dương.  Bên ngoài vùng Châu Thổ sông Mekong vẽ rất sai lạc của mình, Tavernier có xác định Quần Đảo Condore (Côn Đảo) với tên Tortues bởi các con rùa được thấy thật nhiều ở đó.  Dampier có nói nhiều về các con rùa màu lục tìm thấy ở Condore và các đảo lân cận, và đặt giả thuyết rằng chúng có thể đã di tản sang từ mãi Đảo Ascension.

Sau khi người Anh đóng cửa cơ xưởng của họ tại Hà Nội trong năm 1697 (người Hòa Lan đóng cửa xí nghiệp của họ trong năm 1700), người Anh đã nhắm Côn Đảo (Pulo Condore) như một địa điểm thay thế.  Dampier đã nêu ý kiến về Côn Đảo như một căn cứ; dừng chân tại hòn đảo trong năm 1687, ông ghi nhận rằng “Côn Đảo là đảo chính của một đống các hòn đảo, và là hòn đảo duy nhất có người cư ngụ trong số các hòn đảo”, bổ túc rằng “ các hòn đảo này nằm rất gần nhau, rằng với một khoảng cách khiến chúng trông có vẻ chỉ là một hòn đảo độc nhất.”

Dampier tiếp tục mô tả các tính chất thể hình của người dân tại Côn Đảo, nhừng người ông xem ra tìm được sự hấp dẫn, và ca tụng sự tự do của phụ nữ trên đảo.  Nhưng ông cũng có các kế hoạch cho nước ông ở đó.  “Các hòn đảo này”, Dampier giải thích,

Nằm rất thuận lợi trên đường đến và đi từ Nhật Bản, Trung Hoa, Manila, Đàng Ngoài (Tonquin), Đàng Trong (Cochinchina), và nói chung mọi vùng ở Bờ Biển Cực Đông của Lục Địa Ấn Độ này …  Bất kỳ Tàu Thuyền nguy khốn nào có thể được tái tiếp tế và bổ sung tại đây một cách rất thuận tiện …   nó cũng có thể là một địa điểm thuận tiện để dẫn đường cho một công cuộc Thương Mại với nước Láng Giềng của Đàng Trong, các Đồn Lính có thể được xây dựng để bảo toàn cho một Cơ CXưởng, đặc biệt tại Bến Tàu, với khả năng có thể được củng cố một cách hoàn hảo.

Dampier có bao gồm một bản đồ Côn Đảo vào tập tường trình của ông bởi, ông giải thích, địa dư của nó ít được hay biết đến.  Trong năm 1702, như ông dự kiến, Công Ty Đông Ấn Độ (East India Company) trong thực tế đã thiết lập một cơ xưởng trên Côn Đảo, nhưng nó chỉ tồn tại trong ít măm.  Khi nhìn lại, Alexander Hamilton, kẻ đã đến Đông Nam Á ngay sau Dampier và đã ở lại cho đến năm 1723, đã ghi nhận rằng Côn Đảo là “một sự lựa chọn tồi để làm thành một thuộc địa, rằng đảo không sản xuất gì khác ngoài gỗ, nước, và cá để bắt.”

Hình 130: Regnu Annam, một bản đồ sớm sủa của riêng biệt Việt Nam, từ sách của A. de Rhodes, quyển Relazione dé felici successi della SanteFede nel Regno di Tunchino, 1650 [Antiquariaat Forum, Catalogue 105]

***

Hình 131: Việt Nam, của Daniel Tavernier.  Từ J. Chr. Wagner, Delineatio Provinciarum Pannonise … 1684-86 (16.5 x 21 cm)

*****

Phụ Lục 18

Hải Lộ Singapore – Trung Hoa và Quần Đảo Hoàng Sa

(các trang 244-245)

       Các người đi biển Bồ Đào Nha trở nên quen thuộc với Quần Đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) hồi đầu thế kỷ thứ mười sáu, khi họ trước tiên trương buồm về hướng đông bắc từ Malacca dọc theo bờ biển Trung Hoa.  Nhưng trong khi các đảo như Tioman và Condore (Côn Đảo) là các nơi trú náu an toàn trên lộ trình giữa Trung Hoa và Ấn Độ Dương, Quần Đảo Paracel là một mối đe dọa.  Dampier đã ghi nhận sự nguy hiểm của chúng, và sau đó không lâu, Alexander Hamilton nhận xét rằng Quần Đảo Hoàng sa là “một chuỗi đá nguy hiểm, dài khoảng 130 hải lý, và rộng khoảng mười lăm hải lý, và chỉ có một số ít đảo ở mỗi đầu cực.  Có nhiều thủy triều nội vi giữa các đảo đó, nhưng không có dấu hiệu hay biết nào để cảnh báo tránh xa các nguy hiểm gần đó.”  Hamilton ghi nhận rằng nỗi lo sợ bị vỡ tàu tại Quần Đảo Hoàng Sa khiến cho các lái thuyền bám sát lấy bờ biển Đông Dương.

Trong năm 1808, một họa đồ Quần Đảo Paracels được ấn hành và công bố bởi James Horsburgh,  Nhà Vẽ Thủy Đạo của Công Ty Đông Ấn, và được mang theo trên các chiếc tàu Anh Quốc chạy đường Trung Hoa và Singapore.  Nhưng thí dụ được trình bày nơi đây (Hình 152), là một bản đồ vẽ tay, chứ không phải là bản đồ được ấn loát.  Mặc dù các bản đồ được in vào thời điểm này đã thay thế phần lớn các bản đồ vẽ tay làm tài liệu tham khảo chính yếu cho các kẻ dẫn đạo và các thuyền trưởng trên các lộ trình thường xuyên, bản vẽ tay vẫn tiếp tục phục vụ như một phương cách tái sản xuất mau chóng trong khi trên biển hay ở một hải cảng xa xôi.  Khi các bản sao phụ trội của một bản đồ cần đến trên đường đi, nó sẽ được sao chép lại bằng tay.  Đây là một thí dụ của một sự sản xuất như thế, được sao chép tỉ mỉ từ bản in (hay một bản sao chính MS [?] khác từ bản đồ được chạm khắc), có lẽ trên một chiếc tàu Anh Quốc tại Ấn Độ. 282 Ngay tên người chạm khắc, một đặc điểm xem ra dư thừa cho mục đích sao chép, đã được giữ lại.

Hình 152 Quần Đảo Hoàng Sa (The Paracel Islands, một bản sao vè tay từ họa đồ được ấn loát của James Horsburgh, khoảng 1810 (61.5 x 61.5 cm).  Bản sao chép bằng tay này có lẽ đã được thực hiện tại Ấn Độ trên một chiếc tàu hay một hải cảng nơi mà các bản sao phụ trội của bản đồ đã  ấn hành không được cung cấp.  Bờ biển có đường chéo  ở góc dưới bên trái là Đà Nẵng, Việt Nam.  Macao được đánh dấu theo hướng góc trên bên phải, Thành Phố Quảng Châu được chấm định ở đường biên, phía bên trên của bản đồ và đảo Hải Nam nằm ở trong khu vực bị chiếm bởi nhan đề bản đồ dài rộng.  Các hòn đảo khác nhau tạo thành Quần Đảo Hoàng Sa hiện ra ngay phía trước.

*****

Phụ Lục 19

Các Bản Đồ “Âu Châu” Được Lập Tại Đông Nam Á

(trang 251)

       [Bắt đầu trích] Các bản đồ Forrest lập cho triều đình Mindanao và các người quen biết ở Bugis đã là các bản đồ “Âu Châu” được thực hiện tại vùng Đông Ấn Độ.  Sự sản xuất bản đồ, trong thực tế, là một cuộc kinh doanh tiếp diễn của người Âu Châu tại Đông Nam Á.  Gần như tất cả các bản đồ như thế đều ở dạng vẽ bằng tay, được sản xuất vừa cho sự sử dụng địa phương của các kẻ định cư, vừa để xuất cảng về mẫu quốc, nơi chúng sẽ phục vụ cho việc tu sửa các bản vẽ chính phủ chính thức về miền đất này.  Các bản vẽ của Tây Phương về Á Châu như thế thì hiếm có, bởi không chỉ các bản đồ vẽ tay tự nó đã hiếm hoi, được sản xuất từng bản một,  mà chúng còn phải chịu đụng sự hư hao của việc chuyên chở bằng tàu, và sự sử dụng địa phương, cũng như khí hậu nóng và ẩm.  Đối với người Hòa Lan, trung tâm chính cho sự sản xuất bản đồ tại Đông Nam Á là Batavia; Hình 157 tượng trưng cho một công trình vô danh ở Batavia như thế. [hết trich]

Hình 157: Một họa đồ vô danh của V.O.C. (Công Ty Đông Ấn của Hòa Lan) bao gồm vùng Biển Nam Hải (South China Sea), từ bắc Borneo chạy xuyên qua Việt Nam và Mã Lai, được lập ra tại Batavia hồi đầu thế kỷ thứ mười tám.  Mặc dù Căm Bốt đã là một mục tiêu của Công Ty Đông Ấn (V. O. C.) kể từ năm 1620, sự xâm nhập nghiêm chỉnh của Hòa Lan vào xứ sở này chỉ diễn ra sau khi thương mại của Nhật Bản với Căm Bốt bị đình chỉ sau năm 1635.  Công Ty V. O. C. đã thiết lập các căn cứ tại Phnom Penh để thực hiện công cuộc mậu dịch bị bỏ rơi bởi người Nhật, hoạt động một cách bất thường xuyên cho đến khoảng 1670, khi sự bất ổn chính trị của xứ sở chứng tỏ là một gánh nặng quá to lớn.  Sự kiện rằng Âu Châu phần lớn vẫn còn ngây ngô về Căm Bốt cho đến thời đại tương đối gần đây được phản ảnh qua việc rằng các sự tường thuật về tầm mức vĩ đại có thực của khu đền Angkor vẫn không được xem là khả tín cho đến thế kỷ thứ mười chín. (100.5 x 66 cm) (Paulus Swaen Old Maps Internet Auction)

*****

Phụ Lục 20

Xứ Chàm Trên Bản Đồ Của Johann Ruysch (1507),  và

Trong Các Văn Bản của Odoric, Mandeville và Tomé Pires

(các trang 104-105)

       [Bắt đầu trích dịch] Ở phía trên bên phải hình thu nhỏ bản đồ của Ruysch, có một bán đảo với một thành phố tên là Zaiton.  Hải cảng này, từ đó đòan người của Marco Polo khởi sự cuộc phiêu lưu kỳ thú của họ xuyên qua các hải phận Đông Nam Á, là Ch’uan-chou [Quanzhou: Tuyền hay Tòan Châu?], tại miền hải cảng Amoy của Trung Hoa 153.  Từ Zaiton, họ đã hộ tống một thiếu nữ có tên là Kokachin, được tuyển chọn để trở thành hoàng hậu của Persia, “1500” dậm ngang qua một vịnh đến Ciamba (Champa, tức Chàm hay Chăm), một vương quốc duyên hải cổ xưa ở phần giờ đây là miền trung Việt Nam, được biết bởi người Trung Hoa là Lin-yi (Lâm Ấp).  Polo đã đến thăm người Chàm đang tiến đến hồi kết thúc nền văn minh của họ, vốn đã phát triển trong hơn một nghìn năm, từ khoảng thế kỷ thứ nhì cho đến thế kỷ thứ mười bốn.  Polo đã xem xứ Chàm như khởi điểm phía đông của Đông Nam Á, phần mà ông gọi là “Tiểu Ấn Độ” (Lesser India: Ấn Độ Nhỏ Hơn” và đã mô tả như miền trải rộng từ xứ Chàm ở phía đông xuyên qua Motupalli (đông Ấn Độ) sang phía tây.

Ruysch đặt định Silva Aloe tại miền nam xứ Chàm.  Danh xưng để chỉ một khu rừng có cây lô hội [aloes trong nguyên bản, nhiều phần phải là aloeswood, tức cây gỗ trầm hương, chú của người dịch] quý báu mà Polo nói là vua Chàm đã dâng hiến như một phần trong cống phẩm hàng năm của ông lên Kublai Khan.  Tại vùng núi bên trên xứ Chàm, cũng như đi sâu hơn về phía nam dọc theo bờ biển Việt Nam, Ruysch cho thấy silva ebani (rừng gỗ mun màu đen; forests of ebony), loại gỗ mà Polo cho chúng ta  biết, được dùng để làm quân cờ và các hộp đựng bút.  Polo đã dùng danh từ bonus cho ebony, từ chữ abnús của tiếng Persian (Ba Tư).

Theo Polo, không người đàn bà nào của Chàm có thể kết hôn cho đến khi nhà vua nhìn thấy cô ta đầu tiên, bởi “nếu cô ấy làm vừa lòng ông, khi đó ông sẽ lấy làm vợ”. Các sử gia hiện đại không nghĩ rằng Polo đã nói quá đáng khi ông báo cáo rằng nhà vua Chàm đã có 326 đứa con (con số thực sự sai biệt đôi chút) từ nhiều bà vợ của ông ta.  Odoric của Pordenone, người đã đến xứ Chàm từ Java khoảng năm 1323, đã tán đồng.  Nhà vua xứ Chàm “đã có quá nhiều vợ và nàng hầu, rằng ông ta đã có ba trăm đứa con trai và con gái từ họ.” Odoric cũng lấy làm kinh sợ bởi sự thu thập đàn voi của nhà vua, ghi nhận rằng “nhà vua đã có 10,004 con voi đã được thuần hóa, được bảo quản y như chúng ta đi chăn bò, hay các đàn cừu trên đồng cỏ.”  Vị tu sĩ lương hảo có nêu ý kiến rằng xứ Chàm là “một xứ sở giàu có và xinh đẹp nhất, và trần đầy mọi thứ lương thực.”

Cứ cách một năm, theo Odoric, cá bơi vào bờ biển của xứ Chàm “một cách phong phú đến nỗi, nhìn ra rất xa ngoài biển, không thấy gì ngoài các cái lưng của bầy cá.”  Cá tự quăng mình lên trên bờ biển nơi, trong một thời khoảng ba ngày, người ta “đến đó có thể bắt nhiều cá đến mức mình muốn .”  Bầy cá còn lại sau đó trở về biển, và một loại cá khác đến hiến mình theo cùng cách thức như thế.  Câu chuyện về cá của xứ Chàm đã gợi hứng cho John Mandeville, tác giả thế kỷ thứ mười bốn bịa đặt ra một hòn đảo gọi là Calonak cho quyển sách kiến thức du lịch của ông ta.  Mandeville, với năng khiếu thông thường của ông, đã lãng mạng hóa sự mô tả của Odoric về xứ Chàm, khai triển một cách đầy tưởng tượng trên đó.  Hiện tượng của nhiều đoàn cá tự quăng mình trên bờ biển của Chàm, Mandeville giải thích, được nói là kết quả của sự sinh sản phi thường đàn con của nhà vua.  “Bởi vì ông đã chu toàn lời răn mà Chúa đã yêu cầu ông Adam và bà Eve, khi Thượng Đế phán, Crescite et multiplicamini et replete terram [trích dẫn từ Thánh Kinh Công Giáo, Genes 1.28, có nghĩa: Hãy sinh sản, làm đông gấp bội và bồi bổ cho trái đất, chú của người dịch] .. do đó Chúa đã gửi đến nhà vua đủ mọi loại cá khác nhau có mặt ngoài biển, để bắt lấy tùy ý nhà vua cho chính ông và dân chúng của ông.”

Các báo cáo đầu tay mới về xứ Chàm xảy ra không lâu sau bản đồ của Ruysch, với quyển Suma Oriental của Tomé Pires (1515).  Pires thuật lại rằng xứ Chàm là một vương quốc nông nghiệp và không có các hải cảng thích hợp cho các thuyền buồm lớn, nhưng có một ít thị trấn nằm trên các con sông của nó.  Sản phẩm xuất cảng chính yếu của nó là cá khô, gạo, đồ dệt, hạt tiêu, và gỗ trầm hương (calambac hay aloe-wood), với phẩm chất thượng hạng, chủ yếu được chở sang Xiêm La. [hết trích]

Hình 55: Bản Đồ Thế Giới, Johann Ruysch, 1507 (phóng lớn chi tiết).  Sự phóng chiếu thành hình quạt bản đồ thực sự đã cắt đôi ngang qua vùng Đông Nam Á (xem hình 56, bên phải), nhưng hai mép của bản đồ được nối liền nhau trên hình trình bày ở trên. (40.5 x 53.5 cm)

***

*****

Phụ Lục 21

Huyền Thoại Âu Cơ

(trang 17)

       [Bắt đầu trích] “Huyền thoại về nền văn minh khai diễn tại miền bắc của vùng nay là Việt Nam cũng thuật lại lại một câu chuyện tương tự, nhìn nhận món nợ của Việt Nam đối với văn minh Trung Hoa, trong khi thách đố sự thống trị của Trung Hoa.  Huyền thoại truy tìm các gốc rễ của người Việt Nam nơi sự kết hợp của một người đàn bà Trung Hoa và một anh hùng, Lạc Long Quân (Lac Lord Dragon).  Lạc Long Quân từ vùng biển du nhập vào Đồng Bằng Sông Hồng ngày nay là miền bắc Việt Nam, đánh đưổi loài ma quỷ ra khỏi đất nước, và dậy cho dân chúng “trồng lúa gạo và mặc quần áo.”  Ông đã ra đi, hứa quay lại nếu cần đến ông.  Khi một nhà vua Trung Hoa đi xuống phương nam và tìm cách khuất phục người dân, Lạc Long Quân được triệu thỉnh.  Ông đã bắt cóc vợ của kẻ xâm lăng, người đàn bà có tên là Âu Cơ, dấu bà ta ở trên định một ngọn núi trông xuống sông Hồng, và nhà vua Trung Hoa, không thể tìm thấy bà ấy, đã quay về nước với sự tuyệt vọng.  Một đứa con trai đã được sinh ra bởi bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, chính từ đó khởi đầu cho một triều đại mới. “ [hết trích]

Câu chuyện trên tuy có nhiều chi tiết tương tự, nhưng cũng có nhiều sự  khác biệt với truyền thuyết về Âu Cơ trong các bộ huyền sử và lịch sử Việt Nam như Lĩnh Nam Chích QuáiĐại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Rất có thể tác giả đã sử dụng một phiên bản nào khác rút ra từ sách vở của Trung Hoa, vì có sự kiện không thấy có trong tài liệu Việt Nam.  Câu chuyện trich dẫn bởi tác giả ít nhiều có tính cách hạ thấp giá trị của bà Âu Cơ, trong khi quyết đoán rằng người Việt Nam có mẹ là người Trung Hoa [sic], mang đặc điểm trịch thượng và miệt thị truyền thống trong sử ký Trung Hoa đối với các dân tộc lân cận không phải là cùng gốc dân Hán.  Lịch sử Trung Hoa vốn bị đánh giá bởi cac sử gia Tây Phương là khó có được tính cách khách quan, sẵn sàng sửa đổi lịch sử sao cho có lợi cho triều đình Trung Hoa hay nếu cần ngụy tạo cả sử kiện nữa.  Chính vì thế, chính sách đối ngoại của Trung Hoa thường không hợp lý và sử sách Trung Hoa ít khi phản ảnh trung thực mối quan hệ giữa Trung Hoa và các lân bang.  Câu chuyện Âu Cơ trích dẫn ở trên, tuy chỉ là thần thoại, nhưng nhiều phần cần phải được nghiên cứu kỹ càng hơn để kiểu chính các sự trá ngụy hay sai lầm nếu có.  Một thí dụ khác như việc đặt tên nước là Xích Quỷ! Thật khó tưởng tượng là có một vị vua nào lại tự nhận dân mình là ma quỷ và muốn đặt tên nước mình cai trị một cach phi lý đến thế.  Nhiều phần đây là sự bịa đặt để miệt thị của các sử gia Trung Hoa cô xưa, và cũng cần phải được kiểu chính.  Xin xem thêm Phụ Lục B bên dưới, Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ của tác giả Keith Weller Taylor.

*****

Phụ Lục 22

Claudius Ptolemy

(các trang 63, 64, 82)

       (Bắt đầu trich) Ptolemy nhà địa dư học cổ thời nổi tiếng nhất, … có thể được xem như đỉnh cao nhất của truyền thống họa đô thế giới của Hy Lạp, là một người Ai Cập đứng đầu thư viện tại Alexandria (Ai Cập) giữa khoảng 127 – 150 sau Công Nguyên.  Quyển Geographia của ông, nhiều phần là một sự bổ chính quan trọng do công lao của Marinus, đã đẩy các vùng biên cương của bản đồ thế giới để bao gồm một sự phác họa” thực sự” về Á Châu, mặc dù bản đồ của Ptolemy, như thường được tái xây dựng, đã không vẽ lại các bờ biển phía đông của lục địa.

Có lẽ điều khác thường nhất trong câu chuyện về Ptolemy là sự kiện các văn bản của ông thực sự nằm yên trong hơn một nghìn năm, và rồi phi nhanh vào sự nhận thức của Âu Châu như là có tính cách mới mẻ và cách mạng hồi thế kỷ thứ mười lăm,  như chúng đã từng được xem là như thế trong thế kỷ thứ nhì sau Công Nguyên.  Thực ra, mặc dù Ptolemy không được hay biết tới tại Tây Âu trong một nghìn năm trăm năm sau Công Nguyên, quyển Geographia đã được duyệt xét bởi giới hàn lâm Byzantine trong thế kỷ thứ mười hay mười một, có thể một số những gì mà chúng ta hay biết về công trình của Ptolemy trong thực tế có thể phát sinh, hay ít nhất có thể đã được tu sửa bởi các học giả này.” …

… “Ptolemy đã chia Á Châu thành 12 phần, trong đó Đông Nam Á và Trung Hoa (Sinae) ở trong phần thứ 11 và Taprobana (Tích Lan) ở phần thứ mười hai.  Một sự duyệt xét kỹ lưỡng một bản đồ Đông Nam Á theo Ptolemy, thí dụ, là bản đồ xuất hiện trong ấn bản quyển Geographia ở Rome năm 1478, hay bản in năm 1511 bởi Bernard Sylvanus (lần lượt làHình 32 và 43), cho thấy một bán đảo tại phía đông Ấn Độ Dương, là một phỏng chừng sơ sài vùng Mã Lai và Đông Dương.  Như thế đâu là các sự xác minh của nhiều thành phố, sông ngòi và núi non của Đông Nam Á được ghi chép trong quyển sách của Ptolemy? Ptolemy đã đưa ra các tọa độ chính xác cho gần tám nghìn địa điểm trên trái đất mà ông đã lập danh biểu, và đang có sự cố gắng để thử nghiệm và phối hợp những địa điểm của vùng Đông Nam Á với các vị trí hiện thời trên bản đồ. Điều xem ra hợp lý rằng người ta sẽ chỉ cần bù đắp cho các sự sai lầm khác nhau của Ptolemy bằng việc tái xây dựng Đông Nam Á của hai thiên niên kỷ trước (hay ít nhất Đông Nam Á của các học giả Byzantine đã xen vào can thiệp là các kẻ có thể phải chịu trách nhiệm cho các phần của quyển Geographia).  Sự quý trọng cao cả mà Ptolemy được dành cho, cộng với sự hiện diện tỉ mỉ của các tọa độ của ông, sẽ mang lại cảm tưởng rằng đã có ý nghĩa thực sự sẽ được thu lượm từ các con số của ông…” [hết trích]

*****

Phụ Lục 23

Tomé Pires

(trang 79)

[bắt đầu trích dịch] Tomé Pires là một nhà bào chế dược phẩm người Bồ Đào Nha, đã đến Ấn Độ năm 1511 khi ở tuổi 40.  Trong khi ở Malacca giữa các năm 1512-1515, ông đã đặt bút ghi lại bấy kỳ điều gì ông nghe thấy được về thế giới bao la của Ấn Độ, và đặt tên cho tác phẩm của mình là Suma Oriental.  Pires sau đó được phái bởi Afonso de Albuquerque đến Sumatra và Cochinchina [Việt Nam], và sau đó được bổ nhiệm làm đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha tại Trung Hoa.  Quyển Suma Oriental là tài liệu đáng ghi nhớ nhất về Đông Nam Á vào lúc mở màn thời kỳ Âu Châu.  Tập biên soạn thực sự phi thường các dữ liệu này vẫn chưa được ấn hành cho đến khi Ramusio bao gồm các trích đoạn ngắn vào quyển Navigationi của ông ta.  Bởi vì nó không thực sự được biết đến cho đến sau khi nhiều báo cáo hiện hành được lưu truyền, quyển Suma Oriental đã không có ảnh hưởng trực tiếp trên các bản đồ được ấn hành.

*****

Phụ Lục 24

Giovanni Battista Ramusio, kẻ đã khai sinh ra

Quần Đảo Hoàng Sa trên Bản Đồ

Ramusion được ghi nhận là người đầu tiên đã vẽ và ghi chú về Quần Đảo Hoàng Sa trên bản đồ do Âu Châu lập ra nói riêng, nếu không phải là đầu tiên thê giới giới.  Ông sinh ngày 20 Tháng 7, 1485 tại Treviso, Cộng Hòa Venice và mất ngày 10 Tháng Bẩy năm 1557 tại Padua.  Năm 1505, ông làm thư ký cho Alvise Mocenigo, khi đó đang làm đại sứ của Venice tại Pháp.  Ông rất lưu tâm đến địa dư học, và công việc giúp ông nhận được tất cả tin tức mới nhất từ các nhà thám hiểm Âu Châu khi chúng đựoc gửi về Venice.  Ông thông thạo nhiều ngôn ngữ, đã biên soạn các tài liệu này thành một bộ bút ký du hành gồm 3 tập, có nhan đề là Navigationi et Viaggi , ghi lại các sự tường thuật của chính các nhà du hành, được ấn hành trong thời khoảng 1550 đến 1559.  Bộ sách này được xem là mở đường cho các tác phẩm du hành kế tiếp như của Richard Hakluyt (phần phụ lục này được viết theo Wikipedia, chú của người dịch).

*****

Phụ Lục 25

Giacomo Gastaldi

(trang 130)

(Bắt đầu trích dịch) Danh tính của Giacomo chế ngự việc vẽ bản đồ vùng Đông Nam Á trên các bản đồ được in ra suốt các thập niên giữa thế kỷ mười sáu.  Sinh quán tại Piedmont, Gastaldi là một kỹ sư và nhà vẽ bản đồ thế giới sáng chói hoạt đông tích cực tại Venice, và đã góp phần trách nhiệm lớn lao cho sự phát triển ngành đia dư học tại Venice trong thời đại này.  Ông đã vẽ ra ba bản đồ tốt về Đông Nam Á, mỗi bản đồ đã cung cấp sự trình bày hay nhất và được ấn hành gây hứng khởi nhất về vùng đất này trong thời điểm của nó.  Bản đồ đầu tiên được ấn hành như một phần trong ấn bản của ông về quyển Geographia của Ptolemy vào năm 1548, bản đồ thứ nhì trong năm 1554 như một phần của một tuyển tập về các cuộc du hành của Ramusio, và bản đồ thứ ba là một bản đồ Á Châu được ấn hành riêng biệt trong năm 1561, sau đó được bổ túc bởi một mảnh khác nữa vào năm 1565, chính vì thế, đã nới rộng phạm vi bản đồ xuống tới tận phía nam của xích đạo. [hết trích]

Xin xem các bản đồ của Gastaldi được trưng dẫn ở các phần phụ lục bên trên.

*****

Phụ Lục 26

William Dampier

(trang 211và trang 20)

       [Bắt đầu trích] Một trong những nhân vật khiêu gợi sự tò mò nhất đã lang thang – và vẽ bản đồ — các hải phận Đông Nam Á trong thời gian này là một kẻ phiêu lưu người Anh, William Dampier.  Dampier đã ra biển từ năm mười sáu tuổi, đi thuyền đến nhiều nơi chốn khác nhau, trong đó có Á Châu, trong thập niên kế tiếp.  Trong năm 1679, ở tuổi 27, anh ta rời Anh Quốc để đi Jamaica, nơi anh đã ở lại trong một năm.  Trong chuyến trở về, khi thủy thủ đoàn nổi loạn, Dampier đã chọn việc gia nhập cùng các người nổi dậy.  Trong gần sáu năm, Dampier và các kẻ đồng thuyền đã đánh cướp các khu định cư của Tây Ban Nha tại Nam Mỹ châu, hai lần đã vượt qua eo đất Panama.  Trong năm 1680, anh ta gia nhập một nhóm hải tặc đã chiếm đoạt một chiếc tàu và băng qua Thái Bình Dương đến Phi Luật tân, Sumatra và Bắc Kỳ (Tongkin).  Trong năm 1688, mệt mỏi với cuộc sống của một kẻ phục dịch quét dọn, anh ta đã thuyết phục đám hải tặc hãy để anh ta ở lại trên một trong các hòn đảo của Nicobar.  Cuối cùng, sau mười hai năm rưỡi, và hơn mười chuyến tàu cùng các thuyền bản xứ — Dampier đã quay trở lại được nước Anh vào năm 1691.

Điều khó hiểu của Dampier là trong sự tương phản lớn lao với bản chất đánh thuê của các đồng bạn hải tặc, Dampier có thể được xem như một trong những kẻ đầu tiên của một loại “giác ngộ hơn”, quan sát kỹ lưỡng và thu thập khách quan các tin tức, là các kẻ sau đó đã gia nhập vào các cuộc thám hiểm khoa học vĩ đại của thế kỷ thứ mười tám.  Anh ta đã lưu giữ một tài liệu ghi chép chính xác nhiều loại dữ kiện đia dư – bản chất của bờ biển, bãi cát đá nông, gió, và luồng chảy; anh ta nêu ý kiến rằng các họa đồ quy ước đã ước lượng quá thấp chiều rộng của Thái Bình Dương đến 25 vĩ độ và rằng Ấn Độ Dương đã bị ước lượng thái quá với tỷ lệ tương ứng; và anh ta đã cố để sưu tập bằng cớ để chứng minh rằng chiều sâu của biển thì sâu hơn dọc theo bờ biển có núi dựng đứng và nông ngoài khơi bờ biển nằm thấp.

Dampier cũng mô tả bản chất và phong tục của các dân tộc và nền văn minh mà anh ta đã đi qua, cẩn trọng mà không ước đoán về điều mà anh ta không biết, và luôn luôn cho hay khi các tin tức đến từ các nguồn tin mà chính anh ta không kiểm chứng được.  Có cả một dấu hiện của sự ca ngợi sắp đến về Kẻ Hoang Dã Cao Quý khi, được để lại bơ vơ một mình trên bờ biển Nicobar, anh ta ghi nhận rằng anh ta không hề gặp mặt các kẻ ăn thịt người được nghĩ là sẽ thấy xuất hiện ở đó và đã nói về tính thiện cơ bản của người dân.  “Tôi có ý kiến,” anh ta phát biểu, “rằng không có dân tộc nào trên thế giới lại quá man rợ đến thế, để giết chết một con Người chỉ tình cờ rơi vào tay họ …”.  Chúng ta sẽ được nghe nhiều hơn về kẻ lang thang sâu sắc này trong các trang sách sau này. [hết trích]

Dampier có để lại một quyển sách trong đó thuật lại những nhận xét về đời sống tại Đàng Ngoài Việt Nam khi đó. “William Dampier, cư dân tại Bắc Kỳ (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ thứ mười bẩy, ghi nhận rằng chính các phụ nữ đã quản trị sự hoán đổi tiền tệ, và rằng sự kết hôn sẽ thiết lập một sự liên minh giữa các thương nhân ngoại quốc vẫn quay trở lại hàng năm với các phụ nữ địa phuơng là người họ họ đã tín thác tiền bạc và hàng hóa.” (trang 20).

Bản dịch quyển sách của Dampier viết về Đàng Ngoài Việt Nam này sẽ được đăng tải nơi đây, trên Gio-O.com../-

*****

PHẪN III

CÁC PHỤ LỤC CỦA NGÔ BẮC

 

Phụ Lục A

Lễ Thiên Thành và Núi Vạn Thọ Nam Sơn thời nhà Lý

       Về nghi lễ này, bản dịch Tập Một, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, do Nhà Xuất Bản Giáo Dục ấn hành tại Hà Nội, năm 1998, nơi các trang 296-297 có ghi như sau:

[Bắt đầu trích] Tân Dậu, năm thứ 12 (1021).  Tống, năm Thiên Hi thứ 5).

       Tháng 2, mùa xuân.  Ngày tiết Thiên Thành, thết yến tiệc các bầy tôi.

Đặt ngày sinh nhật nhà vua làm tiết Thiên Thành.  Ngoài cửa Quảng Phúc (lời chua: cửa Tây kinh thành Thăng Long) kết trúc làm núi, gọi là Vạn Thọ nam sơn; trên núi làm nhiều hình trạng chim bay, thú chạy, lắm vẻ ly kỳ.  Nhân đó ban yến cho bầy tôi để mua vui. [Hết trích]

*****

 

Phụ Lục B

Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ

Keith Weller Taylor

       Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ được ghi chép trong quyển Lĩnh Nam Chích Quái và bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Phiên bản của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có sửa đổi đôi chút so với bản văn của Lĩnh Nam Chích Quái.  Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ, 5), Âu Cơ là vợ một vị vua “nhuận triều” (interloping).  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (TT, I, 22), tuy thế, đã biến Âu Cơ thành con gái của ông ta, rõ ràng vì các lý do luân lý, để Lạc Long Quân sau đó sẽ không phạm tội lấy vợ của kẻ khác.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ, 6), một trăm người con trai đã được sinh ra từ một bọc trứng duy nhất; Lạc Long Quân đã dẫn năm mươi đứa con trai theo ông xuống biển, để năm mươi đứa con trai kia ở lại cùng với Âu Cơ trên Núi Tản Viên, trong số đó, đứa con can đảm nhất đã được tuyển chọn trở thành vị vua đầu tiên trong các vua Hùng.  Tuy nhiên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (TT, I, 22) đã ghi rằng nhà vua đầu tiên của các vua Hùng là một trong các người con trai đi theo cha, chính vì thế, nhấn mạnh đến các giá trị phụ hệ.  Sự kiện này được hồi nhớ một cách khác biệt bởi các người Mường vùng thượng du, các kẻ, giống như các người Việt Nam hiện đại, đều là hậu duệ của dân Việt cổ.  Theo người Mường, đã có năm mươi đứa con trai và năm mươi đứa con gái thay vì một trăm đứa con trai; một nửa đi theo người mẹ lên núi và trở thành tổ tiên của người Mường, trong khi một nửa đi theo cha ra biển và trở thành tổ tiên của người Việt Nam (Nguyễn Linh và Hoàng Xuân Chinh, trang 103).

Phả hệ của các vua Hùng được ghi trong cả hai nguồn tài liệu (LNCQ, 5-6, và TT, I, 1b-2a).  Lạc Long Quân và Đế Lai, nhà vua nhuận triều từ phương bắc và là chồng của Âu Cơ, là các anh em họ.  Họ tượng trưng cho hai chi nhánh của một gia tộc duy nhất có nguồn gốc từ nhà lãnh đạo Trung Hoa trong huyền thoại, Yen Ti Shen Nung (tiếng Việt là Viêm Đế Thần Nông).  Thần Nông là vị thần nông nghiệp có gốc rễ từ văn hóa Tây Tạng, là kẻ đã xuất hiện trước tiên trong số các người Trung Hoa tại miền bắc của Hồ Bắc (Hu-pei) và miền nam của Hà Nam (Ho-nan), nơi mà các nền văn hóa của dân Pa và dân Thái cổ xưa hòa hợp vào nhau.  Các người tuân phục ông đến từ miền nam và là ngoại nhân đối với các người Trung Hoa cổ thời.  Họ là những nông dân trồng lúa nước, và sự tôn thờ Thần Nông có liên quan với các hệ thống định cư nông nghiệp (Eberhard, các trang 219-21, 229).

Trong huyền thoại Trung Hoa, Thần Nông được xem là vị Chúa Tể Thứ Nhì trong Ba Vị Chúa Tể (Three Sovereigmns: Tam Hoàng), người thứ Ba trở thành Huang Ti (Hoàng Đế), kẻ được nghĩ là người đầu tiên trong Năm Vị Hoàng Đế (Ngũ Đế) theo truyền thuyết.  Thần Nông bởi đó có thể được nói là đã hiện diện trước khi co sự thành lập truyền thống đế triều tại Trung Hoa.

Hai chi của gia tộc tượng trưng cho một chi đế triều, trên đất liền, ở phương bắc, có các hậu duệ đều mang tước hiệu “hoàng đế” (đế), và chi nhánh phương nam thì  liên kết với biển:

Mẹ của Lạc Long Quân là một Thần Long Nữ (Lady Dragon Spirit), con gái của Động Đình Quân (Lord of Tung T’ing Lake) tại lưu vực sông Dương Tử; cha của ông ta, Kinhh Dương Vương, cai trị một vùng đất phía nam của “Ngũ Quan” (Five Passes) có tên là “Nước Xích Quỷ” (Kingdom of Red Devils) (Xích Quỷ Quốc).  Mẹ của Kinh Dương Vương là Vụ Tiên Nữ, một chùm sao trên trời giám sát miền bắc Việt Nam (xem phần tham chiếu Han shu (Hán Thư) trong tác phẩm của Aurousseau, trang 205), là kẻ đã gặp gỡ với Đế Minh, cha của Kinh Dương Vương, khi ông này tuần du các miền phía nam.  Đế Minh là vị vua trị vì thuộc thế hệ thứ ba kể từ Thần Nông.  Chi nhánh miền bắc đã đi đến chỗ kết liễu khi con trai và kẻ kế ngôi Đế Lai, Đế Du, bị đánh bại bởi Hoàng Đế (Yellow Emperor).

Chi miền bắc của gia tộc này, cũng như kẻ nhận là tổ tiên của nó, có thể bị quy là một sự cải biên sau này; chức năng duy nhất của nó là để tuyên xác một một dòng dõi cổ xưa hơn cho các vua Hùng so với vị vua đầu tiên của Trung Hoa, Hoàng Đế (Huang Ti).  Tuy nhiên, chi tộc phương nam có trưng bày đủ chi tiết văn hóa và địa dư tán trợ cho ý tưởng rằng nó đã được đặt trên các truyền thống cổ xưa.

Mẹ của Kinh Dương Vương là chùm sao sáng chói tương ứng với miền bắc Việt Nam, và Kinh Dương Vương đã cai trị một vương quốc với danh hiệu mọi rợ (ít nhất trong khung cảnh Trung Hoa) là Xích Quỷ (Red Devils); ông kết hôn với Thần Long Nữ từ Động Đình Hồ (có lẽ là một sự ám chỉ đến nước Chu cổ thời) và có một người con trai trở nên một anh hùng văn hóa của người Việt Nam cổ thời.  Tác giả C. Madrolle (trang 268) đã tường thuật rằng một khu nào đó được suy đóan là ngôi mộ của Kinh Dương Vương có thể được tìm thấy tại vùng phụ cân Luy Lâu.

Ý tưởng về phả hệ hoàng tộc với một chi phương bắc và một chi phương nam có thể biểu lộ chiều kích chính trị của vị trí địa dư của Việt Nam trong các thời đại cổ xưa.  Như hành lang nằm giữa Vân Nam, và bởi sự nối dài tới cao nguyên Tây Tạng ở phía tây và biển cả ở phía đông, bình nguyên sông Hồng đã là địa điểm chịu áp lực chiến lược tối đa giữa các dân tộc “chi băc’ và “chi nam” của vùng Đông và Đông Nam Châu Á.  Cả về mặt phả hệ lẫn về kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam, người Việt Nam tự xem mình là một dân tộc “phương nam” khác biệt với dân Trung Hoa “phương bắc”.  Phả hệ chính vì thê” có thể là một chau chuốt văn chương về các truyền thống cổ xưa, về kinh nghiệm lịch sử sau đó, hay cả hai.

Trong một bài báo gần đây, tác giả Nguyễn Thị Huệ thảo luận về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, như được lưu truyền trong các nông dân Việt Nam ngày nay.

(Nguồn: Keith Weller Taylor, Appendix A, The Legend of Lạc Long Quân and Âu Cơ, trong quyển The Birth of Vietnam, các trang 303-305, University of California Press, Berkeley, 1983.

*****

 

Phụ Lục C

Biên Giới Địa Lý Nhân Văn: Trường Hợp Việt Nam

       Quyển sách giáo khoa Human Geography: Culture, Society, and Space, Sixth Edition, của hai tác giả H. J. de Blij (Giáo Sư Đại Học Marshall University) và Alexander B. Murphy (Giáo Sư Đại Học University of Oregon), do nhà xuất bản Wiley phát hành tại New York năm 1999, có trình bày về các loại biên giới chính trị theo căn nguyên, trong đó có hai thí dụ về biên giới tại Việt Nam, nơi các trang 350-351 như sau:

Sự Xếp Loại Biên Giới Dựa Trên Nguồn Gốc

Một cách khác để khảo sát các biên giới liên quan đến sự tiến hóa hay căn nguyên của chúng.  Sự xếp loại biên giới theo căn nguyên này được đề xuất bởi Richard Hartshorne (1899-1992), nhà chính trị đia lý học Hoa Kỳ hàng đầu hồi giữa thế kỷ thứ hai mươi.  Hartshorne lý luận rằng một số biên giới nào đó đã được định nghĩa và phân ranh trước khi cảnh trí nhân văn ngày nay được phát triển.  Mặc dù Hartshorne sử dụng chính yếu các thí dụ của Tây Phương để minh chứng ý tưởng này, tính ứng dụng của nó cũng được biểu hiện ở các nơi khác, thí dụ, tại Đông Nam Á.

Trong Hình 25-6A [giữ nguyên cách đánh số trong nguyên bản, chú của người dịch] biên giới giữa Mã Lai và Indonesia trên đảo Borneo là một thí dụ của loại biên giới theo tiền lệ (antecedent boundary) này.  Phần lớn biên giới này chạy qua miền rừng mưa nhiệt đới dân cư thưa thớt, và sự định cư lác đác còn có thể được phát hiện trên bản đồ phân bố  nhân số thế giới (Hình 4-1, [trong nguyên bản]).  Loại biên giới thứ nhì tiến triển như cảnh trí văn hóa của một khu vực được hình thành.  Các biên giới hậu biến (subsequent boundaries) này được tiêu biểu bởi bản đồ trong Hình 25-6B, trình bày ranh giới giữa Trung Hoa và Việt Nam, kết quả của một tiến trình điều chỉnh và sửa đổi trong trường kỳ.

Một số biên giới bị vạch một cách cưỡng chế cắt ngang một cảnh trí văn hóa thống nhất.  Một biên giới áp đặt lên trên (superimposed boundary) như thế hiện diện ở giữa hòn đảo New Guineavà chia cắt vùng West Irian của Indonesia ra khỏi nước Papua New Guinea (Hình 25-6C).  Vùng West Irian, vốn được cư ngụ bởi phần lớn sắc dân Papuans, là một phần của Đông Ấn thuộc Hòa Lan đã không được độc lập vào lúc Indonesia được độc năm 1949.  Sau nhiều năm đầy căng thẳng, người Indonesians sau hết đã xâm lăng lãnh thổ này vào năm 1962 để đánh đuổi các người Hòa Lan còn lại; tiếp theo sau sự điều giải của Liên Hiệp Quốc và một cuộc trưng cầu dân ý chung cuộc, West Irian được chính thức sáp nhập vào Indonesia năm 1969 – do đó vĩnh viễn hóa biên giới mà chính quyền thực dân nguyên thủy đã áp đặt lên trên New Guinea hồi đầu thế kỷ thứ mười chín.  Loại biên giới theo nguồn gốc thứ tư là biên giới theo di tích (relict boundary) – một biên giới thôi không còn hiệu lực nhưng dấu vết vẫn còn hiển hiện trên bối cảnh văn hóa.  Biên giới giữa Bắc và Nam Việt Nam trước đây (Hình 25-6D) là một thí dụ cổ điển: từng có thời để phân cách về mặt quân sự, nó trở thành loại biên giới di tích kể từ năm 1976, tiếp theo sau sự tái thống nhất Việt Nam trong sự kết thúc cuộc Chiến Tranh Đông Dương (1964-1975).

Hình 25-6: Các Loại Biên Giới Chính Trị Theo Căn Nguyên.  Các loại biên giới chính trị theo căn nguyên là: (A) Tiền Lệ (antecedent), (B) Hậu Biến (subsequent), (C) Áp Đặt Lên Trên (superimposed), và (D) Di Tích.  Nguồn: từ một bản đồ trong sách của H. J. de Blij và P. O. Muller, Realms, Regions, and Concepts, ấn bản lần thứ 7, New York: Wiley, 1994.

*****

Phụ Lục D

Đất Vành: Địa Lý Chính Trị Của Việt Nam hay

Ban Lơn Quay Ra Thái Bình Dương

Đất Vành hay Đất Viền (Rimland) là một khái niệm được đế xướng bởi tác giả Nicholas John Spykman để mô tả đường ven biển của một xứ sở hay một lục địa; đặc biệt các bờ đông đảo dân cư ở phía tây, phía nam và phía đông của lục địa Âu – Á.

Theo Spykman, giải đất ven biển bao quanh Âu Á, thì quan trọng hơn khu vực trung Á châu (được gọi là trọng địa trung tâm (Heartland) cho sự kiểm soát lục địa Âu-Á.  Dự kiến của Spykman là nền tảng của “chính sách be bờ ngăn chận” được thi hành bởi Hoa Kỳ trong mối quan hệ của Mỹ với Liên Bang Sô Viết trong thời Chiến Tranh Lạnh sau Thế Chiến II.

Theo tác giả Mackinder, trong quyển “Inner or Marginal Crescent”, Đất Vành được chia thành ba đoạn: vùng ven biển Âu Châu; vùng sa mạc Ả Rập – Trung Đông, và vùng gió mùa Á Châu.

Trong khi Skypman chấp nhận hai vùng đầu tiên như được xác định, ông đã bác bỏ sự gộp chung đơn giản các nước Á Châu vào thành một “vùng gió mùa” (monsoon land).  Ấn Độ, vùng duyên hải Ấn Độ và văn hóa Ấn Độ thì tách biệt về mặt địa dư và văn minh với vùng đất Trung Hoa.

Đặc tính xác quyết của Đất Vành rằng nó là một khu vực trung gian, nằm giữa các quyền lực đất và hải lực, nó phải tự phòng vệ ở cả hai phía, và các vấn đề an ninh nền tảng  của nó nằm ở đó.

Đất Vành có tầm quan trọng lớn lao phát sinh từ trọng lực về dân số, các tài nguyên thiên nhiên, và sự phát triển kỹ nghệ của nó.  Tác giả Skypman nhìn tầm quan trọng này như là lý do tại sao Đất Vành sẽ có tính chất quan yếu trong việc ngăn chặn vùng Trọng Địa Trung Tâm, trong khi tác giả Mackinder lại tin tưởng rằng Vành Cung Bên Ngoài hay Hải Đảo sẽ là thành tố quan trọng nhất trong việc ngăn chặn vùng Trọng Địa Trung Tâm.

Việt Nam, Đông Dương, Phi Luật Tân, Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản là những phần đất được kể chịu ảnh hưởng nhiều nhất của gió mùa Á Châu, và ở vào vị trí đất vành, Việt Nam đã dễ dàng trở thành bãi chiến trường cho các sự xung đột giữa các cường lực đất liền và từ ngoài biển, như được chứng minh trong suốt thế kỷ thứ hai mươi vừa qua./- (Phần lớn các dữ kiện trong Phụ Lục này đều được rút rat ừ Wikipedia)

_______                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            

Nguồn: Thomas Suárez, Early Mapping of Southeast Asia, Periplus Editions (HK) Ltd: Singapore, 1999, Chapter 16, The Nineteenth Century and the Mapping of the Interior – Indochina, Burma and Thailand, Transition to the Modern Era, các trang 252-263, và rải rác nhiều nơi trong quyển sách.

Ngô Bắc dịch và phụ chú

18/10/2010

© gio-o.com 2010

 

CỒN PHỤNG

Mùa hè tới Cồn Phụng ăn trái cây miễn phí.

Được lang thang trong những khu vườn thơm lừng hương sầu riêng, hái và thưởng thức miễn phí tất cả trái cây trong vườn là lý do khách đến Bến Tre mùa này.

Khu du lịch Cồn Phụng nằm trên một cù lao nổi giữa sông Tiền, thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, cách thị xã Bến Tre 12km đường bộ và 25km đường sông. Ngoài tên Cồn Phụng, nơi này còn được biết đến với tên Đạo Dừa – nơi sinh sống và phát danh của vị tổ Nguyễn Thành Nam của đạo. Vết tích của Đạo Dừa còn được lưu giữ qua mảnh sân có 9 con rồng, tháp Hoà Bình (Cửu Trùng đài). Vốn là nơi ngày trước ông Đạo Dừa ngồi giảng kinh pháp và truyền bá đạo giáo. Cả tòa tháp và sân 9 con rồng đều có kiến trúc lạ mắt và được đắp nổi bằng những mảnh vỡ của bát đĩa, ấm chén…, và một đỉnh lớn.

Chiếc thuyền chở du khách ra Cồn Phụng.

Muốn đến cồn, ngoài 20 phút rong ruổi trên chiếc thuyền lớn với sức chứa khoảng 40 người, du khách sẽ chuyển tiếp qua một chiếc xuồng nhỏ chở từ 3 -5 người, len lỏi qua những lạch nước hẹp, trong vắt, rợp bóng mát của những bụi cây ven bờ. Vào những ngày nắng, hơi nước bốc lên từ lạch mát rượi. Cũng những làn hơi nước ấy, vào mùa mưa hay mùa gió chướng, mang cái lạnh vừa đủ để du khách nhẹ rùng mình.

Là một trong những nơi cung cấp trái cây nhiều nhất Bến Tre, Cồn Phụng đón du khách với hương thơm ngào ngạt của sầu riêng, của cây mít tố nữ sai quả, những chùm dâu chín vàng, chôm chôm đỏ au… Thêm một cái hay nữa tất cả trái cây nơi đây đều được mời ăn miễn phí. Không ai rủ ai, hầu hết du khách đều lang thang trong vườn, nhón tay bẻ những chùm chôm chôm chín mọng, cảm nhận vị chua chua, ngọt ngọt tan trên đầu lưỡi, ghé sát vào từng trái mít tố nữ trên cây, hít mùi nhựa còn vương trên cuống. Vài vị khách may mắn nhặt được quả sầu riêng to khoảng 4kg, hào sảng gọi vài người khác cùng thưởng thức “vị ngon trên từng ngón tay” của những múi sầu riêng vàng ươm, thơm lừng, ngọt lịm.

Sau khi “no đủ” hương, vị trái cây, du khách đi dọc theo cồn, tham quan, mua sắm tại các cơ sở làm kẹo dừa, ngắm những miếng vải lọc bột, khuôn kẹo dẹp nhỏ, nhón tay thử một chiếc kẹo còn nóng hổi. Hay thán phục những bàn tay thoăn thoát của người thợ “thổi hồn” vào những thân, vỏ dừa, tạo thành những chú heo ngộ nghĩnh, chiếc bóp dầm xinh xắn, xe ba gác nhiều màu sắc, đến đồ dùng nhà bếp như chén, bát, muỗng, thìa…

Một loại hình văn hoá của miền Tây không thể không nhắc đến trong chuyến đi là đàn ca tài tử. Phòng đàn ca tài tử trên cồn là một hang đá nhân tạo có nhiều thạch nhũ và ba băng ghế dài dành cho du khách. Trong không gian sông nước, giọng ca ngọt lịm của các nghệ sỹ khi thì thầm, khi cao vút kể cho bạn nghe về những cái hay, đẹp của vùng đất này.

Bên cạnh đó, khu du lịch Cồn Phụng còn nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn khác như motor nước, kéo phao, câu cá sấu (những trò chơi gây cảm giác mạnh lần đầu tiên có mặt tại miền Tây Nam bộ). Khách cũng có thể chụp hình bên những chú đà điểu thân thiện, mến khách tại đây.

Các sản phẩm mỹ nghệ được làm từ thân và vỏ trái dừa khô.


https://i2.wp.com/img.news.zing.vn/img/593/t593136.jpg

Cầu khỉ đặc trưng miền sông nước.

https://i0.wp.com/img.news.zing.vn/img/593/t593137.jpg

Sân 9 rồng.

Huỳnh Hằng

http://phorum.vietbao.com

 

CÁC ĐỊA DANH MIỀN NAM

Tác giả: Trần Nguơn Phiêu

Miền Nam Việt Nam là miền đất mới với lịch sử vài trăm năm so với đất Bắc “ngàn năm văn vật”. Các địa danh ở miền Bắc thường mang những tên Hán Việt như Thăng Long, Hà Nội, Lạng Sơn, Sơn Tây, Hòa Bình… Miền Trung có Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định… Miền Nam, nơi định cư của những người phải bỏ các xóm làng cũ từ miền ngoài vào khai quang để tìm cơ hội mới lập nghiệp, nên các địa danh do họ đặt tên có nhiều đặc thù, khác với các địa danh Trung Bắc.

Người Việt vào Nam khẩn hoang vẫn mang theo mình nền văn minh lúa nước nhiều đời của dân tộc. Tuy đất ở miền Nam vào thời bấy giờ còn rất hoang vu nhưng họ đã thấy đây là một vùng có tiềm năng trong tương lai về nông nghiệp, một “địa cuộc” tốt (“địa cuộc”, danh từ do Trịnh Hoài Đức viết đầu tiên trong Gia Định thành Thông chí).

Làng mạc lúc đầu thường được bố trí sao cho thích hợp với việc làm ruộng nước. Nghề làm ruộng là một việc chăm lo lúa không kể ngày đêm, giờ giấc. Vì thế nên nhà không thể cất xa thửa ruộng và cần phải có nước uống cho gia đình. Nơi tiện lợi nhất để chọn nơi cất nhà phải là nơi tương đối cao ráo. Giồng là những nơi đất cao được ưa chuộng để lập xóm làng. Nơi đây khi đào giếng lại có được nước ngọt để sinh sống. Nhìn trên bản đồ, giồng ở miền Nam là những lằn song song, hết giồng tới nước, dọc theo sông Tiền và sông Hậu. Địa danh các nơi đây đã được lưu truyền qua nhiều đời như Giồng ông Tố gần Sài Gòn, đất Ba Giồng trù phú miền Mỹ Tho, giồng Càng Long, giồng Cầu Kè, giồng Cầu Ngang, giồng Tiểu Cần, giồng Chùa Chim ở Trà Vinh, giồng Vũng Liêm, giồng Trôm ở Bến Tre, giồng Riềng ở Rạch Giá…

Vùng đất cao, nhỏ hơn giồng được gọi là gò, cũng được ưa chọn làm nơi cư ngụ như Gò Vấp gần Sài Gòn, gò Bắc Chiên trên con đường Sài Gòn lên Nam Vang, gò Đen vùng Tân An quê hương của nhà cách mạng Nguyễn Văn Tạo, gò Dưa gần Thủ Đức, gò Lũy hay gò Lữ vùng Cai Lậy, Gò Dầu Hạ gần Tây Ninh, Gò Quao, Gò Công…

Việc trao đổi hàng hóa, mua bán phẩm vật ở các nơi đông dân cư đưa đến hình thành các chợ. Sài Gòn được biết ngày xưa với danh xưng Chợ Bến Thành. Địa danh Sài Gòn có nhiều giả thuyết. Có thể do phiên âm của tiếng Prei-kor(rừng cây bông gòn) hoặc của tiếng Prei-Nokor(đô lâm hay hoàng lâm) vì đây có tư dinh của Phó vương Cao Miên. Một giả thuyết khác là năm 1778, người Minh hương còn sống sót sau khi quân Nguyễn Huệ tàn sát dân Cù lao Phố ở Biên Hòa họ phải rút về đây sống dọc kinh Tàu Hủ. Để ngăn nước họ đã xây bờ gạch cao dọc kinh. Bờ gạch này được họ gọi là Thày-ngòn (Đê ngạn). Người Pháp phiên âm ra Sài Gòn. Thêm một thuyết nữa là Sài Gòn có thể do phiên âm của Tây cống, nơi nhận cống lễ của các đời vua Cao Miên dâng cho vua Việt Nam. Khít bên Sài Gòn là Chợ Lớn với các tiệm buôn của người Hoa, Chợ Cũ Sài Gòn, Chợ Quán, Chợ Cầu Ông Lãnh, Chợ Rẫy, Chợ Bà Chiểu Gia Định, Chợ Bà Điểm, Chợ Bà Hom, Chợ Bà Quẹo..; Chợ Lách ở Vĩnh Long. Chợ Đệm ở Tân An quê của “hung thần” Nguyễn Văn Trấn người đã theo lịnh Trần Văn Giàu thủ tiêu bao nhà ái quốc miền Nam, Chợ ông Văn, Chợ Gạo ở Mỹ Tho nơi các ghe lúa từ Lục Tỉnh tập trung xay ra gạo để đưa vào Chợ Lớn- Sài Gòn; Chợ Dinh gần Nha Mân…

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi sông rạch chằng chịch nên các bến là nơi quan trọng để ghe thuyền có nơi thuận tiện trao đổi hàng hóa. Bến Nghé có thể là bến lớn đầu tiên trong Nam vì dân cố cựu vẫn gọi Bến Nghé là tên cũ của Sài Gòn. Ngoài ra còn bao nhiêu bến như Bến Tre hoặc Bến Tranh, Bến Lức ở Mỹ Tho. Thủ Dầu Một có Bến Cỏ. Biên Hòa có Bến Cá vùng Tân Triều, nơi sản xuất bưởi ổi danh tiếng, Bến Gỗ thuộc Biên Hòa quê hương của cố Trung tướng Đỗ Cao Trí…

Một danh từ khác đặc biệt ở miền Nam là nơi các cửa sông rạch đổ ra các sông lớn hay sông cái, tên rạch thường mang chữ “cái” đứng đầu. Việc này có thể do chữ “ngã cái”, tức ngã đổ ra sông cái. Vì được gọi tắt nên gọn lại chỉ còn chữ cái?. Các nơi nổi tiếng gồm có: Cái Bè tỉnh Mỹ Tho với loại cam Cái Bè lớn và ngon thơm, Cái Mơn với cây trái nổi tiếng, Cái Nhum với Nhà Dòng Cái Nhum nơi đào tạo các thầy giảng Thiên Chúa Giáo, Cái Nước ở Cà Mau, Cái Môn nơi đồn binh của Quản Trần Văn Thành án ngữ căn cứ chống Pháp ở Láng Linh, Cái Cối, Cái Lớn ở Rạch Giá, Cái Dầu thuộc Châu Đốc. Cái Sắn là vùng dinh điền rộng lớn miệt Rạch Giá. Cái Vồn thuộc Cần Thơ đã nổi tiếng một thời khi Tướng Hòa Hảo Năm Lửa đặt bản doanh nơi đây. Cái Tàu là con sông nối với sông Ông Đốc của Cà Mau. Vùng đất giữa hai con sông Cái Tàu và sông Ông Đốc cùng với bờ biển Vịnh Thái lan tạo một thể hình tam giác tức vùng U Minh Hạ. Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ giữa Mỹ Thuận và Sa Đéc là hai con rạch khác với sông Cái Tàu ở Cà Mau. Riêng Cái Răng ở Cần Thơ là do từ tiếng Miên “kran”, loại lò nấu củi nắn bằng đất sét. Người Việt phát âm từ karan biến ra Cái Răng. Nơi đây người Thổ chuyên làm loại “cà ràng ông Táo” ở Xà Tón Tri Tôn chở ghe theo Sông Cái đến đậu nơi này để bán.

Giao thông đường thủy còn có các rạch nhỏ. Đây là đặc điểm của miền Hậu Giang. Rạch đưa nước từ các sông cái vào các ruộng lúa. Nước rạch chảy theo thủy triều chớ không chảy theo độ nghiêng của đất: nước lớn thì chảy từ sông cái vào ruộng, nước ròng thì từ ngọn rút ra sông. Từ Thốt Nốt lên chợ Long Xuyên trên khoảng đường 19 cây số có thể đếm đến 30 con rạch cắt ngang bờ sông Hậu! Tên các rạch thì nhiều vô số kể. Thường chỉ có người địa phương mới biết chắc các vị trí ngoại trừ các rạch danh tiếng trong lịch sử như Rạch Gầm là nơi Nguyễn Huệ đã tiêu diệt các hải thuyền của quân Xiêm. Tên rạch thường lấy tên các thảo mộc mọc theo rạch như Rạch Chanh, có khi còn được gọi là kinh Bà Bèo (Nơi đây toàn là bàu và bèo, dân chúng nói nhanh nên sau thành “bà bèo”. Thật ra theo các nghiên cứu, không có bà nào tên Bèo ở nơi này). Rạch Chanh còn có tên chữ nho là Đăng Giang với sự tích Nguyễn Ánh trên đường bị quân Nguyễn Huệ đuổi bắt phải cởi lưng trâu vượt rạch vì nơi đây ngày xưa đầy cá sấu. Đời sau lại đặt truyền thuyết “vua nhờ cá sấu đưa qua sông” và đặt lò sứ bên Trung Hoa làm những bộ chén trà “Ngư Gia độ Hoàng Gia, Âm tinh ngộ đế tinh”! Rạch Chiết nối sông Đồng Nai qua sông Sài Gòn. Rạch Choại vùng Biên Hòa(choại là một loại mây dùng bện sáo). Rạch Lá vùng Gò Công, rạch Thốt Nốt vùng Thất Sơn, rạch Xoài Mút vùng Mỹ Tho, Rạch Giá tên dân giả của tỉnh Kiên Giang( giá là một loại cây tràm, bông trắng, ong hút mật làm ra loại sáp rất trắng. Loại sáp này ngày xưa phải nạp ra Huế gọi là “thuế bạch lạp”). Rạch Dừa ở Hà Tiên. Rạch Gỗ Đền vùng An Giang. Ngoài việc đặt tên rạch theo các loại cây, rạch nhiều khi được đặt tên theo các cơ cấu đất đai hay theo tên các nhân vật được biết tiếng. Đó là trường hợp như Rạch Sỏi ở Rạch Giá, Rạch Cát vùng Chợ Đệm nhưng tên rạch cát cũng còn thấy ở nhiều nơi như Rạch Cát ở Biên Hòa. Vùng Kiến Phong có con rạch tên ngộ nghĩnh là rạch Cái Thia. Biên Hòa có Rạch Lá Buông, Rạch Ông Lớn, Rạch Ông Nhỏ (chảy từ rạch Ông Lớn vô Chợ Lớn), Rạch Nước Lộn trổ ra vàm sông lớn Mô Xoài. Mỹ Tho có rạch Ông Hổ nơi chôn tổ tiên của Tả quân Lê Văn Duyệt. Vùng Mộc Hóa còn có con kinh tên Kinh Ông Lớn nối liền kinh Lagrange ra sông Vàm Cỏ Tây. Ông Lớn đây là Thiên hộ Dương anh hùng kháng Pháp. Rạch Thị Nghè ở Sài Gòn thời trước được gọi Rạch Bà Nghè. Bà tên Nguyễn Thị Khánh con của Thống xuất Nguyễn Cữu Vân. Bà đẹp duyên với một ông Nghè ở Thạnh Mỹ tây thuộc mé bên kia rạch. Ông Nghè mỗi ngày phải lấy đò qua rạch nên bà ra công xây cầu cho ông đi làm việc. Cầu được gọi là cầu Bà Nghè, con rạch cũng được dân chúng gọi là rạch Bà Nghè. Người Pháp sau đặt tên là Thị Nghè. Có lẽ vì kị không dám kêu tên nên dân chỉ dùng chức tước. Trong thành phố Sa Đéc có rạch Ông Nhiêu là một chức quan. Vị này là cố của vợ tác giả bài viết này. Vì đất ở đây bị sụp lở từ Sông Tiền vào nên nay rạch Ông Nhiêu đã biến mất. Ở bờ phía Nam của sông Tiền tỉnh lỵ Sa Đéc có sông Sa Đéc với các rạch tên rất “Nam Kỳ” như rạch Nàng Hai, ngã ba Nước Xoáy, chợ Cồn, rạch Đất Sét… Một trong những sông quan trọng miền Cà Mau có tên Sông Ông Đốc, có thể là một chức tước thay vì là tên họ? Hai con rạch khác tỉnh Kiến Phong ở tả ngạn sông Tiền là Đốc Vàng Thượng và Đốc Vàng Hạ. Đốc binh Vàng và chưởng binh Lễ đã toàn thắng liên quân Xiêm-Cao Miên ở Cù Hu năm 1837 nhưng cả hai đều tử trận! Đốc Vàng Hạ là nơi Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh ám hại năm 1946.

Nói về sông rạch phải kể đến vàm. Miền nam có Vàm Cỏ là sông lớn chảy từ cửa Soài Rạp đến chợ Xà bang mới chia thành hai nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Hà Tiên có Vàm Cậu. Long Xuyên có Vàm Cống. Ngọn rạch từ giữa rừng Sác ra sông Soài Rạp mang tên Vàm Sác. Vàm Nao là con sông ăn thông từ sông Tiền qua sông Hậu giữa Long Xuyên và Châu Đốc. Đây là nơi năm 1787, Nguyễn Ánh hội binh các Trấn để đánh Tây Sơn.

Sông Cửu Long là một sông dài trên 4000 cây số bắt nguồn từ Tây Tạng. Đến miền Nam sông Cửu Long chia làm hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, trước khi đổ ra biển qua chín cửa. Bắt đầu là Cửa Tiểu là cửa thứ nhất kể từø Sài Gòn kể xuống. Đây là nhánh thứ nhất chảy ngang thành phố Mỹ Tho rồi đổ ra Nam Hải. Nhánh thứ hai sông Tiền đổ ra Cửa Đại. Các nhánh sông Tiền khác đổ ra biển gồm có cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Ba Lai, cửa Cung Hầu (còn được gọi tên khác là cửa Cồn Ngao). Sông Hậu đổ ra Nam Hải bằng cửa Ba Thắc cạnh cù lao Dung, ở giữa hai bên là cửa Tranh Đề (còn có tên là Trấn Di) và cửa Định An. Ngoài chín cửa của sông Cửu Long còn các cửa khác như cửa Bãi Ngao hướng nam tỉnh Vĩnh Long. Thượng Tân Thị có bài thơ:

Đứng ngó quanh về phía Bãi Ngao,
Một trời, một biển, một cù lao…

Về phía Tây Nam lối 100 dặm có cửa Gành Hào là một nơi có nhiều thổ sản như mật ong, sáp trắng…và thủy sản cá cua rất dồi dào. Rạch Gành Hào là con sông hợp lưu với sông Ông Đốc chảy ngang Cà Mau để trổ ra Nam Hải. Cà Mau còn có Cửa Lớn một con sông bắt nguồn ở Đầm Dơi chảy ngang Năm Căn rồi đổ ra Nam Hải ở vàm Cửa Lớn. Một sông trùng tên Cửa Lớn khác của Cà Mau là con sông nối liền sông Bảy Háp và sông Tràm Chim và đổ ra eo biển Cà Mau. Vùng Cà Mau còn cửa Bồ Đề chảy ra Nam Hải và cửa Ông Đốc chảy ra Vịnh Thái Lan. Sông Ông Đốc trong lòng Cà Mau chia thành hai nhánh: một chảy ngược nối với rạch Cái Tàu đổ ra Vịnh Thái Lan, nhánh kia nối với sông Gành Hào chảy ra Nam Hải. Cửa Bồ Đề và cửa Ông Đốc là nơi các ghe, tàu từ Bắc Việt đổ bộ vũ khí, đạn dược để tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Các tàu này từ hải phận quốc tế chờ lúc thuận tiện, tránh né tàu tuần Hải Quân miền Nam để lén lút đổ bộ quân dụng. Vòng lên phía Bắc vịnh Thái Lan còn có cửa quan trọng khác là cửa biển Rạch Giá.

Ở miền Nam, ngoài các sông rạch phụ thuộc sông Cửu Long còn phải kể thêm các sông khác như sông Đồng Nai ở miền Đông. Đây là một sông lớn bắt nguồn từ Đồng Nai thượng với hai phụ lưu: sông Bé và sông La Ngà. Nước sông Đồng Nai vốn có tiếng là nước trong và ngọt (“Gạo Ba Thắt, nước Đồng Nai”). Vùng Biên Hòa, về hạ lưu sông Phước, hai sông Đông Giang và Tây Giang bị cù lao Cái Tắt chia hai. Đến chỗ hai sông này nhập lại, ông bà ngày xưa đặt cho cái tên ngộ nghĩnh là sông Chàng Hãng, tên chữ là Lan Vu Giang.

Giao thông đường thủy miền Nam do các sông rạch thiên nhiên còn được bổ túc với bao nhiêu kinh đào. Nhiều kinh đã được đào từ thời người Chân Lạp nhưng đã bị lấp cạn phần nào. Thời thuộc địa Pháp, với phương tiện cơ giới nên rất nhiều kinh đã được hoàn thành để nối các sông rạch cho thuận tiện ghe thuyền di chuyển và cũng để tháo nước phèn để thêm đất canh tác. Có một con kinh được Pháp đặt tên Kinh 4 bis (Kinh số 4 phụ), được dân chúng phiên âm thành Kinh Cát Bích hoặc Cát Bít! Tổng thống Ngô Đình Diệm đã có công hoàn thành con kinh quan trọng ở Đồng Tháp là kinh Đồng Tiến. Thời nhà Nguyễn phải kể đến việc đào thành công con kinh chiến lược nối liền đường nước từ Châu Đốc ra cửa biển Hà Tiên. Phải mất 5 năm, từ 1819 đến 1824 mới đào xong. Ngoài việc giúp tiện lợi giao thông, con kinh còn để phân định biên giới giữa Việt Nam và Cam Bốt. Vua Minh mạng đã ban cho tên kinh là kinh Vĩnh Tế, tên của vợ công thần Thoại Ngọc Hầu.

Vì có nhiều sông ngòi nên một đặc điểm khác của miền Nam là có vô số cù lao và cồn trên sông. Các cù lao loại lớn bắt đầu từ miền Đông có Cù Lao Phố ở Biên Hòa. Đây là một cù lao trù phú danh tiếng chẳng những ở Việt Nam mà cả ở Đông Nam Á thời đàng cựu. Ghe tàu ngoại quốc tấp nập đến đây trao đổi hàng hóa. Trần Thượng Xuyên, Tổng binh tỉnh Quảng Đông thời nhà Minh vì không thuần phục nhà Thanh nên đã dùng 50 chiến thuyền cùng bộ hạ và gia đình đến xin được tá túc với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền Vương) cho họ vào đây lập nghiệp. Trần Thượng Xuyên lá người đã có tài và công xây dựng được trung tâm thương mại quan trọng này. Trong thời tranh chấp Nguyễn Ánh- Nguyễn Huệ, quân Nguyễn Huệ đã tàn sát cư dân ở đây, khiến những người sống sót phải di dân về thành lập khu Chợ Lớn phồn thịnh ngày nay. Trên các sông Tiền và sông Hậu, cù lao hay được nhắc tên là cù lao Giêng ở Long Xuyên. Nơi đây có cô nhi viện lâu đời do các dì phước phụ trách. Cù lao Đại Châu gồm có 5 làng là cù lao giữa cửa Tiểu và cửa Đại, còn có tên gọi là Trấn Hải Châu. Một cù lao lớn thuộc Sóc Trăng dài trên 35 dặm trên sông Hậu là cù lao Dung. Cù lao Minh giữa Cổ Chiên và Hàm Luông (Bến Tre), cù lao Năm Thôn là một trong vài cù lao lớn miền Lục Tỉnh. Các cù lao lớn nhỏ khác kể ra không siết. Tưởng chỉ nên kể thêm một cù lao đặc biệt trấn giữ mặt trước cho châu thành Mỹ Tho: đó là cù lao Rồng. Nơi đây trước kia là chỗ an trí các người mắc phải bịnh cùi. Miền Hậu Giang, nói đến cù lao phải kể đến cù lao Ông Chưởng, nơi Chưởng binh Nguyễn Hữu Cảnh bị bịnh nặng phải bỏ mình sau khi chiến thắng quân Chân Lạp của Nặc Thu năm 1699. Câu hát đưa em ở miền Nam đã đi vào văn hóa bình dân:

Bao phen quạ nói với diều:
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Trên mặt biển các cù lao thường được gọi là hòn. Lớn nhất và có tiềm năng kinh tế rất quan trọng là hòn Phú Quốc, rộng 200 dặm từ Đông đến Tây. Ngoài việc sản xuất các thổ sản như tiêu, dừa… Phú Quốc còn được biết trên toàn quốc với loại nước mắm hòn thơm diệu. Vùng Hà Tiên còn có các hòn Dầu Rái, hòn Chông nơi có động gọi chùa Hang. Trong Chùa Hang có hai tượng Phật tạc từ thế kỷ thứ XIV. Từ hòn Chông trông ra biển còn có hòn Phụ Tử. Ngay cửa biển Rạch Giá có Hòn Tre châu vi 20 dặm. Ngang vàm sông Ông Đốc ngoài vịnh Thái Lan có hòn Đá Bạc, rộng độ một cây số vuông. Nơi hòn này Việt Minh đã xử tử nhà ái quốc Hồ Văn Ngà. Trước khi chết ông Ngà đã nói với phía Cộng Sản:

Giết thì cứ giết nhưng đừng kêu qua là Việt gian

Phía tây cách Mũi Cà Mau độ 10 cây số có Hòn Khoai (Poulo Obi). Nơi đây có một ngọn hải đăng và đặc biệt lại có nguồn nước ngọt. Các ghe từ Cà Mau thường ra đây để lấy nước chở về tiếp tế cho dân chúng. Ngoài khơi tỉnh Rạch Giá có hòn Sơn Rái (Tamassou) và quần đảo Cổ Tròn (Poulo Dama) là hai nơi các tàu tuần duyên Hải Quân thường ghé khi thủy thủ đoàn cần tạm nghỉ. Kể về các hòn, ngoài quần đảo Côn Sơn danh tiếng mọi người đều biết, không thể quên một hòn nằm xa nhất về phía Nam vịnh Thái Lan. Đó là hòn Thổ Châu (Poulo Panjang), diện tích trên 100 dặm. Các ghe của dân chài lưới thường đến đây và tùy theo hướng gió mùa, cập bến hoặc bên bờ Đông hay bờ Tây của đảo. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Hải Quân thiết lập một căn cứ thường trực nơi đây. Trên núi còn có một ngôi cổ tự được các vị sư ẩn tu chăm sóc.

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Ngày xưa các đường trong thị trấn không mang tên các nhân vật như ngày nay. Tỉnh lỵ Gia Định có các đường được dân chúng gọi theo các loại cây trồng: đường Hàng Bàng từ Cầu Bông đến Lăng Ông, đường Hàng Thị nơi có Kho Bạc và căn phố của ông Nguyễn An Ninh với tủ sách quý, đường Hàng Xanh từ Gia Định qua Thị Nghè với chùa Sư Muôn, đường Hàng Keo với cái bót mật thám Pháp giam các nhà ái quốc, đường Thốt Nốt gần Lăng Ông nơi có căn phố của Tạ Thu Thâu từng ở nhiều năm. Nhiều con đường khác sau này được đặt tên các nhân vật nhưng dân chúng vẫn dùng các tên xưa: đường Lò Heo Mới, đường Lò Heo Cũ, đường Nhà Thờ, bến Tắm Ngựa.

Miền Nam là vùng đồng bằng với rất nhiều sông rạch. Trái lại, núi non ở đây rất hiếm hoi. Ở mạn Đông Bắc mới có các núi nhỏ như Biên Hòa có núi Châu Thới cao độ 60 thước với chùa Hội Sơn trên đỉnh, núi Bữu Long, núi Đá Lửa, núi Đá Trắng…; núi Thị Vãi, núi Dinh vùng Bà Rịa; núi Lớn ở Vũng Tàu. Núi cao miền Đông chỉ có núi Chứa Chan (803 thước). Tây Ninh có núi Bà Đen, người khơ me gọi làyéay khmau (lảo bà đen) một nữ thần gốc Thổ, được vua Gia Long phong “Linh Sơn Thánh Mẫu”. Về phía Tây, vùng Hà Tiên có vài núi nhỏ như núi Phù Dung, núi Địa Tạng, núi Đá Dựng, núi Mây(Vân Sơn). Chỉ có vùng Châu Đốc mới có dải núi quan trọng là Thất Sơn hay Bảy Núi. Được biết nhiều nhất là Núi Sam, nơi có mộ phu nhân Thoại Ngọc Hầu, mộ Phật Thầy Tây An và miếu bà Chúa Xứ; núi Sập với đền thờ Thoại Ngọc Hầu. Núi Sập còn có tên Thoại Sơn, do triều đình Huế đặt để tưởng thưởng Thoại Ngọc Hầu, người có công đào cảng Đông Xuyên tức sông Ông Thoại và kinh Vĩnh Tế.

Tóm lại, trong khi ở miền Bắc hay Trung, các địa danh thường có những tên văn hoa thì ở miền Nam các địa danh lại có đặc tánh bình dân, mộc mạc. Chỉ trừ các nơi khi bắt đầu khai phá được các quan chức thời xưa đặt cho các tên văn chương Hán Việt như Biên Trấn, Gia Định, Tân An, Long Hồ…tên các nơi khác thường được dân chúng kêu trại ra từ các tên của hoặc Chàm, hoặc Khơ Me. Bắt đầu như Bà Rịa do tiếng Yéay Ria của Thổ tức lão bà hay mụ Ria. Châu Đốc theo người Khơ Me tên Mắt cruk và họ gọi đây là sóc Miệng heo. Sốc Trăng tên Khơ me là Păm prêk srok khlẳn (Péam: vàm; prêk: sông; srok: sốc; klẳn: kho bạc. Thời Khơ Me nơi đây có đặt một kho bạc). Đời Minh Mạng, tên chữ là Nguyệt Giang Tinh, dân gian gọi nôm na lại thành Sốc Trăng, bỏ chữ Nguyệt! Cà Mau do tiếng Khơ Me Tuk-khmau (nước đen). Vĩnh Bình do tiếng Khơ Me Preatrapeang (Hồ thánh). Bạc Liêu do tên Khơ Me Po-Loeuh (Cây da cao). Từ Long Xuyên đi Châu Đốc có Chắc Cà Đao nơi được biết tiếng do việc tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh tức Ba Cụt đã bị bắt nơi đây. Ba Cụt đã được Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ dụ ra hàng nên đã bị bắt và đã bị Tổng thống Ngô Đình Diệm xử tử bằng máy chém ở Cần Thơ. Chắc Cà Đao có lẽ là nói trại từ tiếng Khơ Me Cháp Cà Đam (cháp: bắt; Kdam: cua). Khi cuộc Nam Tiến kết thúc ở Hà Tiên, có lẽ nhờ ảnh hưởng phát huy văn hóa của các danh nhân khai phá vùng đất này như Mặc Cữu và con là Mặc Thiên Tứ (tác giả mười bài: Hà Tiên thập cảnh) nên nơi đây lại có những địa danh Hán Việt: Hà Tiên, Đông Hồ, Tô Châu, Hà Giang, Vân Sơn, Phù Dung…

Người bình dân thích chọn những danh từ họ dễ nhớ, phù hợp với sự suy diễn của họ. Trong việc giao dịch hằng ngày, dân chúng vẫn dùng những ngôn ngữ quen thuộc được truyền lại từ nhiều đời. Tổng thống Ngô Đình Diệm, người từ miền Trung vào nắm vận mạng miền Nam, đã có một thời đặt lại tên có tánh cách Hán Việt cho các địa danh ở miền đất này nhưng dân chúng vẫn thích gọi Cà Mau thay vì An Xuyên, Rạch Giá thay vì Kiên Giang, Long Xuyên thay gì An Giang, Cần Thơ thay vì Phong Dinh, Sốc Trăng thay vì Ba Xuyên, Mộc Hóa thay vì Kiến Tường, Blao thay gì Bảo Lộc…!

Để kết thúc bài viết này, tác giả không thể không kể đến một chuyện vui. Khi có cuộc hành quân Sóng Tình Thương vào vùng Cà Mau, một an toàn khu nhiều đời của Cộng Sản, trong buổi ăn sáng ở phòng ăn sĩ quan trên Hải Vận Hạm Cam Ranh HQ 500, Chỉ huy trưởng cuộc hành quân, cố Trung tướng Thủy quân Lục chiến Lê Nguyên Khang – lúc ấy còn mang cấp bực Trung tá – đã nói: “Trước giờ xuất phát, tôi xin nói với các đơn vị trưởng: Tối hôm qua, tôi xem trên bản đồ thấy gần Ngã ba Hóc Năng có rạch Ông Phiêu. Tôi không thể viết trong lịnh Hành quân nhưng tôi yêu cầu quý vị đơn vị trưởng đừng có đem bác sĩ Phiêu léng phéng đến cái rạch đó!”” 

Trần Nguơn Phiêu 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 18, 2011 in Địa danh

 

Tình yêu, hạnh phúc trong ca dao – dân ca Quảng Nam

thaonguyenbt2010

Là một bộ phận cấu thành của văn học dân gian, ca dao – dân ca xứ Quảng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền,đồng thời, cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời hạnh phúc, tri thức mới. Ca dao – dân ca xứ Quảng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của ca dao dân ca Việt Nam.

Ca dao – dân ca xứ Quảng thường được sáng tác dựa theo cái khung có sẵn. Dù vậy,câu ca dao -dân ca mới sáng tác vẫn hay. Những tình cảm mới được lồng vào trong những khung chung có tình chất tiêu chuẩn mà mọi người đã thừa nhận làm cho câu ca dao dân ca dễ trở thành “của chung”. (Đặng Văn Lung, trong Văn học Dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo Dục, TP.HCM, 1999, tr. 298)

Ca dao – dân ca xứ Quảng có tính dị bản. Đây là một hiện tượng lạ lùng, độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ địa phương nào khác.

Ca dao – dân ca xứ Quảng mang đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Truyền tải tâm tư, tình cảm, tình yêu – hạnh phúc… của những con người nơi đây.

2. Quan niệm về tình yêu hạnh phúc của người dân xứ Quảng:

Những con người xứ Quảng – khúc ruột miền Trung, xứ sở của nắng mưa và gió bão. Những con người tưởng chừng như chỉ ngoi ngóp mãi trong cái bể khổ của cuộc đời. Vậy mà không, thật bất ngờ khi những câu ca dao – dân ca của họ ngân lên thì kiếp người đau khổ đã tan biến đi chỉ còn lại những gì thiêng liêng và cao quý. Họ bỏ qua những trắc trở, khó khăn, tìm đến niềm vui, tình yêu, hạnh phúc…

Người xứ Quảng quan niệm tình yêu – hạnh phúc của mình phải do chính mình lựa chọn hạnh phúc, họ chủ động đi tìm tình yêu – hạnh phúc của mình chứ không phải do ai sắp đặt cả. Tình yêu hạnh phúc được tìm thấy từ chỗ sợ cái lạ đến chỗ chủ động đi tìm cái lạ, khát khao, nhạy cảm với cái mới…

Tình yêu – hạnh phúc của những con người xứ Quảng ở trong chính những điều bình dị của cuộc sống hằng ngày của họ như một đặc sản, miếng ăn đậm chất Quảng cũng làm lòng người xứ Quảng xích lại gần nhau hơn, hay như chính những câu ca dao – dân ca nói về địa danh của quê hương cũng làm những người con đất Quảng tìm thấy tình yêu – hạnh phúc của mình trong đó khi xa quê,hoặc có thể là lời nhắn gửi nhớ thương, chờ đợi người đi được thổ lộ cũng làm người xứ Quảng có niềm tin hơn trong tình yêu – hạnh phúc của mình.

3. Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao dân ca xứ Quảng:

a. Tình yêu – hạnh phúc ở ngay trên chính hành trình đi tìm:

Dù phải lên non cao ,dù phải vượt qua tam tứ núi người xứ Quảng vẫn đi tìm. Vất vả là thế mà họ chỉ đi tìm cái bình thường giản dị nhất:

‘Lên non tìm hòn đá trắng
Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?
Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu
Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời.”

“Lên non tìm hòn đá trắng” – Ô hay! Không phải tìm vàng hay tìm trầm mà chỉ tìm hòn đá trắng! Thật là kỳ diệu cái màu trắng thanh bạch,trong ngần vô giá. Nhưng nếu hiểu ở câu chữ không thì chưa đủ. Đọc xong ngẫm lại ta thấy giai điệu không nhẹ nhàng êm ái chút nào bởi hai thanh trắc (đá trắng) ở cuối câu lục thì thật là lạ. Phải chăng đó là nghịch lý của cuộc đời dù chỉ đi tìm điều đơn giản nhất. Nhưng rồi khi đọc câu tiếp theo:

“Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?”

Ta như vỡ lẽ: À, thì ra con người xứ Quảng mượn hình ảnh bình thường nhất là hòn đá. Nhưng điều họ muốn gửi gắm lòng mình ở đây không phải là vật chất. Vì họ lại đi trách con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu. Phải chăng con người đất Quảng luôn nuôi dưỡng tình người. Họ nói đến chim phượng hoàng là nói đến hình bóng của tình nhân quân tử, của nhơn tình nhơn ngãi trong tâm hồn họ. Dù phải vượt qua mọi gian lao vất vả để đến với con chim phượng hoàng nhưng tiếc cái âm thanh mong đợi mà họ cần tìm lại lịm tắt. Nếu thả hồn tận hưởng khúc nhạc ca dao thì ta như bắt gặp nỗi lòng người thương, bắt gặp tình cảm dặn dò tha thiết luôn ngân nga:

“Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng
Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em”

Hay:

“Yêu nhau chẳng lọ bạc vàng
Tình thân nghĩa thiết xin đừng chớ quên”

Thế mới hiểu rằng đời người biết bao cảnh ngộ éo le trắc trở để khi yêu nhau họ phải dặn dò, than thở. Nhưng rồi cái thâm thuý của bài ca dao không dừng ở đó. Nó khẳng định một điều trở thành chân lý:

“Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu”

Vậy là dù hòn đá trắng – màu trắng trinh nguyên nhưng rồi nó cũng phải bị rêu xanh bao phủ bởi tháng năm, bởi mưa nắng. Thì ra bài ca dao đã nhắc nhở, cảnh báo rằng nếu ai không giữ được lòng mình thì thời gian sẽ làm cho ta không còn là ta nữa. Thần tình quá! Sự thay đổi sắc màu hay sự thay lòng đổi dạ của con người? Bài ca dao khép lại mà trong ta phải luôn suy nghĩ:

“Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời”

Thật là một sự bao dung và nhân hậu. Con người xứ ‘mía ngọt đường thơm’ không nguyền rủa đứa nào ăn ở bạc sẽ bị thế này hay thế khác… mà chỉ có tiếng dế não nùng thấu tận trời xanh. Nhưng thâm thuý lắm đấy! Tiếng dế réo rắt suốt đêm trường, liệu lương tâm con người bội bạc không day dứt, không dày vò, không nhức nhối trong hối hận trong đau khổ? Mà chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ở tâm hồn!

Vậy là bài ca dao hồn nhiên nhưng đặc quánh cốt cách của con người xứ Quảng mà cũng rất Việt Nam: Con người trọng nhân nghĩa, chung tình và ghét thói bội bạc vong ơn . Dù năm tháng có trôi xa, nhưng những lời ca cứ mãi ngân vang trong ta. Nói như Nguyễn Đình Thi thì theo dòng ca dao càng làm cho ta thêm yêu. Yêu là để sống. Là để thêm mạnh mẽ trong lao động, trong đấu tranh. Một tình yêu chất phác mà cao thượng, bình dị mà sâu sắc biết bao!

Là thế đó, dù rằng giai điệu bài ca dao cất lên có vẻ buồn, nhưng không thế,ẩn sâu bên trong đó vẫn có những cái mà người Quảng luôn tự khẳng định, họ nói ra để quên đi cái khổ, quên đi nỗi lòng và cảm thấy hạnh phúc vì những gì giấu kín đã được bộc bạch, họ nói ra để biết mình cần phải vượt qua những thử thách ,trở ngại đó. Và vì thế, người Quảng vẫn cứ thấy được tình yêu – hạnh phúc mà người đọc cứ ngỡ như rằng họ đang than thở.

b. Tình yêu – hạnh phúc ở sự chủ động, lựa chọn:

Chủ thể trữ tình trong ca dao – dân ca xứ Quảng nói về tình yêu đôi lứa đa phần là phụ nữ. Có lẽ tình trường họ hứng chịu khổ đau nhiều hơn nam giới, do vậy mà nhu cầu bộc lộ giãi bày bằng tiếng hát lời ca ở họ cũng lớn hơn chăng. Quả là khi yêu, người phụ nữ phải đối mặt với bao nhiêu bất trắc:

‘Thương chàng thiếp phải đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm không đau
Không đau ơi hỡi không đau
Té xuống năm trước năm sau chưa lành’

hoặc:

“Ba với ba là sáu
Sáu với bảy mười ba
Bạn nói với ta không thiệt không thà
Như cây đủng đỉnh trên già dưới non
Khi xưa bạn nói với ta chưa vợ chưa con
Bây giờ ai đứng đầu non đó bạn tề
Bạn nói với ta bạn chưa có hiền thê
Bây chừ hiền thê mô đứng đó bạn trả lại lời thề cho ta’

hoặc:

‘Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ
Bạn phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán sấm dật dờ quán sen’…

Cả khi hai người cùng chung cảnh ngộ, thì phụ nữ thường cũng thiệt thòi hơn:

‘Thiếp thương chàng đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng lộ tiếng ai hay
Miệng thế gian nhiều kẻ thày lay
Cực chàng chín rưỡi khổ thiếp đây mười phần’

hay:

‘Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya’

… Thế nhưng vượt lên tất cả, người phụ nữ đất Quảng vẫn thể hiện rõ bản lĩnh của mình trong tình yêu:

‘Thiếp không thương chàng thì ra chỗ dở
Cho nên thiếp phải thương đỡ vài ngày
Thiếp có chồng rồi thiên hạ đều hay
Sợ nước lui về đông hải càng ngày càng xa’
*
‘Liệu bề thương được thì thương
Đừng trao gánh nặng giữa đường cho em’,
‘Xa xôi chi đó mà lầm
Phải hương hương bén phải trầm trầm thơm’…

Cũng không ai khác ngoài họ đã chủ động dung hoà kiểu hôn nhân theo sắp đặt với kiểu hôn nhân có tình yêu – một mô hình hôn nhân đến nay và trong nhiều thập niên tới xem ra vẫn còn phù hợp. Người phụ nữ đất Quảng không đồng tình với kiểu hôn nhân sắp đặt:

‘Đôi ta tuổi lứa đang vừa
Trách cho cha mẹ kén lừa nơi mô’,
cũng không muốn bị làng xóm cười chê rằng:
*
‘Gái đâu gái hỗn gái hào
Trai chưa vô làm rể gái đã vào làm dâu’.

Họ tự đến với nhau, yêu nhau và cùng nhau thề non hẹn biển, sau đó tranh thủ sự đồng thuận của hai bên gia đình:

‘Trai mười bảy gặp gái mười ba
Trai anh hăm sáu gái em đà hăm hai
Lời nguyền với bạn không sai
Bữa mô có rảnh cậy ông mai đến nhà’

*
‘Con gà trống tía cái lông cũng tía
Ngọn khoai lang giâm ngọn mía cũng giâm
Thương nhau không dễ thương thầm
Thương thời rượu cỗ trầu mâm đến nhà
Em còn thừa lệnh mẹ cha
Còn có cô chú bác chứ không phải mình ta với chàng’…

Hay như:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Em thương anh cha mẹ không hay
Như ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Kể từ ngày đó đã xa đây
Sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn’

Khi cô gái Quảng dám tự chọn lựa hạnh phúc ‘thương anh cha mẹ không hay’ thì dẫu có ‘nghi binh’ sánh mình với ‘ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào’, thực chất cô cũng đã khẳng định cái hướng mà đời cô nhằm đến. Tính khẳng định của sự lựa chọn càng hai năm rõ mười hơn ở những cách nói: ‘kể từ ngày đó đã xa đây – sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn’, hay ‘lòng ta như chén rượu đầy – lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi’, hay ‘thương nhau chưa đặng mấy ngày – đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi’, rồi ‘hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày – chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương’. Có lẽ tính khẳng định của sự lựa chọn đạt đến đỉnh điểm khi chủ thể trữ tình – dường như vẫn chính là cô gái Quảng – tự đặt bản thân trong quan hệ với người thứ ba: ‘ai’, ‘nơi mô’, từ đó mở ra cho người mình yêu khả năng lựa chọn:’coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em’, ‘nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo’.

c.Tình yêu-hạnh phúc ở sự thay đổi cách nghĩ, cách nhìn:

Cuộc sống khắc nghiệt luôn đặt ra cho người dân xứ Quảng nhiều câu hỏi lớn,chẳng hạn cam chịu nhớ thương mà chấp nhận ở lại với cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, hay tìm sự bằng an để giũ bỏ quay về với cái-quen-xưa-bao-đời-vẫn-vậy. Và câu trả lời của người Quảng là:

‘Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thời về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thời đừng’

Không phải đừng về mà đừng quay về, đừng hồi hương, bởi giờ đây đã có thêm một quê hương!

Chính nhờ sống trong thế giới những cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, người Quảng xưa có nhu cầu và điều kiện đổi mới cách nhìn, cách nghĩ. Câu ca dân gian:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say’

Cực tả sự khát khao cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng.

‘Ra đi mẹ có dặn dò
Sông sâu chớ lội đò đầy đừng qua’

Kinh nghiệm sống khôn ngoan ấy giờ đây cơ hồ không còn thích hợp nữa. Cuộc sống giờ đây đòi hỏi con người phải biết tư duy kiểu khác:

‘Sông sâu không lội thì trưa
Đò đầy không xuống ai đưa một mình’…

Và nhờ biết tư duy kiểu khác mà thái độ ứng xử với cái lạ ở người Quảng lúc này không giống khi vừa mới đến:

‘Tay ta cầm cần câu trúc ống câu trắc lưỡi câu thau
Muốn câu con cá biển chứ cá bàu thiếu chi’

Hay:

‘Lên non tìm con chim lạ
Ở dưới phố phường chim chạ thiếu chi’.

Từ chỗ sợ cái lạ – ‘con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng’ – tới chỗ chủ động đi tìm cái lạ, đó là cả một bước tiến dài trong tư duy người xứ Quảng xưa. Họ cảm thấy hạnh phúc trong kiểu tư duy mới. Tình yêu – hạnh phúc của người xứ Quảng được truyền tài vào ca dao một cách thông minh là thế đó.

d.Tình yêu – hạnh phúc thể hiện qua những đặc sản, món ăn đậm chất Quảng:

Ngoài những lúc làm việc mệt nhọc,người Quảng ngồi lại cùng nhau,chia sẻ cho nhau tình yêu-hạnh phúc qua những món ăn đạm bạc quê mình,vừa ăn,vừa ngâm lên những câu:

“Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”

Hay:

“Ai về đất Quảng làm dâu
Ăn cơm ghế mít hát câu ân tình”

Rồi tiếp đó lại là:

“Tay cầm bánh tráng mỏng nương nương
Miệng kêu tay ngoắt,bớ người thương uống nước nhiều”

Ở xứ Quảng, ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng. Đúng thế, đem bánh tráng xúc với mít trộn là một cách ăn điệu nghệ. Tuyệt lắm! Hạnh phúc lắm thay!

Không chỉ thế, vào xứ Quảng còn được tận hưởng cái khoảnh khắc hạnh phúc hòa cùng với hạnh phúc của người Quảng qua các món ăn được ý nhị nhắc nhở qua những câu như:

“Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ”.

*
“Ai đi cách trở sơn khê,
Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng ”

Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu, mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. Hoặc:

‘Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…”

*
“Lụt nguồn trôi trái bòn bon ,
Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi .
Mồ côi ba thứ mồ côi.
Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường”

Bòn bon là môt loại trái cây, ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại Lộc – Quảng Nam, mùa mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái bòn bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha, nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

“Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường…
Xứ Quảng còn là đất mía đường:
Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền”

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

“Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh…

*
“Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương…”

Hoặc:

“Có duyên lấy đặng chồng nguồn
Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui
Nhón chân kêu bớ họ nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”

Bài ca dao quen thuộc trên trong kho tàng ca dao xứ Quảng không chỉ bày tỏ niềm hãnh diện, sung sướng của những cô gái miền xuôi được lấy chồng và ở trên miền ngược mà còn nhắn gởi trông đợi của họ đến với người miền xuôi về sự đối lưu, trao đổi sản phẩm, mít non, cá chuồn giữa hai vùng miền cách trở.

Rõ ràng, người xứ Quảng tự hào lắm chứ, hạnh phúc lắm chứ khi đưa những món đặc sản quê mình vào những câu ca dao – dân ca để khi ngân lên thì ôi hạnh phúc xiết bao cái chất Quảng ngọt ngào đã hòa chung vào cái tinh tế của ca dao – dân ca Việt Nam để giới thiệu đến bạn bè cả nước.

e. Tình yêu – hạnh phúc của người xứ Quảng ẩn chứa trong những câu ca dao – dân ca nói về địa danh quê hương mình:

Mỗi người dân xứ Quảng đều mang trong mình chút lưng vốn ca dao – dân ca. Có lẽ vì thế mà mỗi khi ai đó hỏi đến xứ Quảng thì dường như họ tuôn trào mọi cảm xúc yêu-nhớ-tự hào với cái tình quê vốn luôn được họ nuôi dưỡng hằng ngày, hằng giờ và cứ thế họ sẽ cất lên những câu ca dao – dân ca có những địa danh xứ Quảng bằng cái chất gọng đặc sệt Quảng, thì không thể trộn lẫn vào đâu được:

“Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,
Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say
Ðối với ai ơn trọng, nghĩa dày ,
Một hột cơm cũng nhớ ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên …”

Câu này đồng thời còn diễn tả rõ tánh tình người dân đất Quảng,bộc trực, bén nhạy, nhớ ơn, trọng nghĩa đối vơí các ân nhân của mình. Hay:

“Hội An đất hẹp, người đông,
Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu”

Phố Hội An nhỏ hẹp, nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi, khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

“Hội An bán gấm, bán điêù
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành’

Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp, còn Kim Bồng, Trà Nhiêu là vùng ngoại ô, chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

“Ai đi phố Hội, Chùa Cầu,
Ðể thương, để nhớ, để sầu cho ai,
Ðể sầu cho khách vãng lai,
Ðể thương, để nhớ cho ai chịu sầu”

Những người dân Hội An, vì sinh kế phải đi làm ăn xa, tuy nhiên vẫn thương và nhớ phố Hội.

“ Ðưa tay hốt nhắm dăm bào,
Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công,
Không mai thì mốt, hồi công,
Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân”

Kim Bồng là một xã bên kia sông, đối diện với Hội An, sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc, hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp, bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

“Năm hòn nằm đó không sai,
Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui,
Ngó về Cửa Ðại, than ôi,
Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình”.

Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình, không chen vơí các hòn đảo khác. Hoặc có thể là những câu:

“Trà My sông núi đượm tình,
Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà”

*
“Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt ,
Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,
Phân du, bạch chỉ rành rành ,
Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân”.

Trà My là huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam, có cả Thượng Kinh chung sống, chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

“Gập ghềnh Giảm thọ, Ðèo Le .
Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai”

Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt lè lưỡi.

“ Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông.
Thấy nước xanh như tàu lá,
Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn,
Thấy phố xá nghinh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,
Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu,
Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,
Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh”

Hàn tức là tên cũ của Ðà Nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðà Nẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ, chờ chàng về.

“Kể từ đồn Nhứt kể vô,
Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô, xuống Hàn,
Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang .
Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra.
Ngó lên chợ Tổng bao xa,
Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu
Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu.
Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm.
Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm ,
Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ”

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

“Kể cầu Ông Bộ kể ra,
Cây Trâm ,Trà Lý, bước qua Bàu Bàu,
Tam kỳ, Chợ Vạn bao lâu,
Ngó qua đường cái, thấy lầu Ông Tây,
Chiên Ðàn , Chợ Mới là đây,
Kế Xuyên mua bán, đông, tây rộn ràng
Hà Lam gần sát Phủ Ðàng,
Phiá ngoài bãi cát , Hương An nằm dài ,
Cầu cho gái sắc, trai tài .
Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng”

Các địa danh trên đây, kể từ trong kể ra, Lầu ông Tây tức là nhà lầu của Viên Ðại lý Hành Chánh Pháp đóng ở Tam Kỳ, còn Chợ Mới, Chợ Vạn, Kế Xuyên, Chiên Ðàn là những tụ điểm thương mãi quanh Tam Kỳ.

Vậy đó, dù rằng không nói trực tiếp cái tình yêu quê hương, cái hạnh phúc trong lòng mình nhưng mỗi người đọc ca dao – dân ca xứ Quảng tinh ý, nhạy bén sẽ cảm nhận được tình yêu – hạnh phúc được truyền tải qua những lời ca ấy.

g. Niềm tin tình yêu – hạnh phúc:

Những con người xứ Quảng có một niềm tin vững chắc, vô điều kiện:

“Thương nhau chớ quá e dè,
Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be
Thiếp nói thì chàng phải nghe,
Thức khuya, dậy sớm, làm che 1 ngày 12 xu,
Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo ,
Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,
Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,
Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau,
Lạy trời, mưa xuống cho mau.
Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng”

Hoặc có thể là câu ca dao – dân ca của lòng thủy chung, chờ đợi:

‘Ngó lại quê mình
Bởi em chèo thuyền
Trên sông cái
Em ngó lại quê mình
Chim trên cành còn đủ cặp huống chi mình lẻ đôi
Vì đâu đây với đó đã hai nơi
Chiếc đò ngang bằng chiếc đũa không lời nhắn đưa
Cây đa bến cũ đò xưa Người thương có nghĩa nắng mưa ta vẫn chờ’

Hay câu:

‘Sớm mai chàng hoá con chim trống đứng dựa bìa núi
Chiều lại thiếp hoá con chim mái đứng dựa bìa rừng
Nỉ non ba tiếng cho có chừng
Dầu xa muôn dặm biểu bạn đừng có xa’…

Câu ca dao thấm nhuần tình tự dân tộc, xuất phát từ tình yêu giữa đôi trai gái, có tính chất mộc mạc,chân tình, nói lên bản chất của người dân đất Quảng vẫn luôn tồn tại, không đổi thay, qua thời gian và không gian, giữa những dòng đổi thay của đất nước.

4. Nghệ thuật của người xứ Quảng trong ca dao – dân ca:

Nhìn chung ngôn ngữ ca dao – dân ca xứ Quảng nói chung thô mộc song không phải không có những nét đặc sắc.

a. Nghệ thuật chơi chữ:

‘Thương nhau trường đoạn đoạn trường
Lụy lưu lưu lụy dạ dường kim châm’.

Một câu lục bát mười bốn chữ mà đa phần là từ Hán – Việt, trong đó đáng chú ý là cách đảo từ ‘trường đoạn’ thành ‘đoạn trường’, ‘lụy lưu’ thành ‘lưu lụy’ nhằm khai thác sức mạnh biểu cảm của những từ đồng âm dị nghĩa. Khi cần ‘chữ nghĩa’, người Quảng cũng rất chi là ‘chữ nghĩa’, đấy chứ. Ở đây, nghệ thuật chơi chữ đã được vận dụng một cách triệt để, hay ví dụ như câu

‘Anh từ trong Quảng ra thi
Leo lên đèo ải chữ chi mập mờ’

hoặc câu:

‘Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Áo vắt vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chi chàng mà lấn lướt vô thi
Tiền năm quan ngủ quán mất đi
Trai nam nhơn mô đối đặng
Gái nữ nhi xin kết nguyền’…

Hay câu:

‘Con gái La Qua
Qua đường qua chọc

Qua biểu em rằng
Đừng có la qua’

Cái tên ‘La Qua’ vốn chỉ là một địa danh trong câu:

‘Dù xa cửa ngõ cũng xa
Dù gần Bến Điện, La Qua cũng gần’

đến đây bỗng trở thành ngữ động từ ‘la qua’ – tức ‘mắng anh’ (vì anh đã trêu chọc em). Ngay chữ ‘qua’ cũng rất đa nghĩa: vừa là thành tố của địa danh La Qua, vừa là anh (qua chọc, qua bảo, la qua), lại vừa là bước sang (qua đường). Rõ ràng nghệ thuật chơi chữ của người Quảng trong câu ca dân gian này khá là độc đáo.

b. Tính truyền thống và cách tân :

– Người Quảng thường sáng tác dựa theo kết cấu có sẵn: Có những câu ca dao sau:

Nước Thổ Hà vừa trong vừa mát
Đường Vạn Vân lắm cát dễ đi
(Hà Bắc)

*
Nước Trịnh Thôn vừa trong vừa mát
Đường Trịnh Thôn lắm cát dễ đi
(Thanh Hóa)

*
Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mát
Đường Nam Giang lắm cát dễ đi
(Nghệ An)

Nhưng với cái khung có sẵn ấy, bài ca ở vùng đất Quảng cũng vẫn có phần sáng tạo riêng:

Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát dễ đi
Em ơi má thắm làm chi
Để anh thương nhớ mấy con trăng ni không về..

Đấy là cách sáng tác truyền miệng phổ biến khắp nước ta…Người xứ Quảng đã cảm thụ truyền thống chung trong nghệ thuật ca dao – dân ca dân tộc.

– Tính dị bản trong ca dao – dân ca xứ Quảng:

Có lẽ câu ca dao truyền thống và tiêu biểu nhất của người xứ Quảng có nhiều dị bản nhất là:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Theo cuốn Văn học dân gian Quảng Nam(miền biển), tập III, năm 2001 thì đã có 14 dị bản. 10 dị bản thuộc loại trữ tình và 4 dị bản thuộc loại tự sự lịch sử. Có thể kể đến một vài dị bản như sau:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày
Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo’…

Tính chất trữ tình của bài ca này đã được chuyển hóa thành tính chất tự sự lịch sử, nhưng vẫn không đi ra ngoài mô típ của một câu cao dao cổ. Đây chính là hình thức vừa ổn định của yếu tố truyền thống vững bền, vừa biến đổi nhờ yếu tố cách tân, để bài ca đi sát với thực tế xã hội và tình trạng lịch sử…

c. Hiện tượng chính trị hóa ca dao – dân ca trữ tình:

Người Quảng nhạy cảm với chính trị, cho nên bên cạnh những câu ca dao – dân ca có nội dung chính trị hẳn hoi, chẳng hạn câu ca dao:

“Ai lên chín ngã sông Con
Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không’

hay câu hát:

‘Đứng bên ni Hàn
Ngó bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê Hà Thân
Ngó về Hàn phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí bòn vàng Bông Miêu
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau’

Rõ ràng hai chữ ‘nghênh ngang’ đã công khai bày tỏ thái độ chính trị của nhân dân Đà Nẵng đang phải chung sống với kẻ thù), còn khá phổ biến trong thơ ca dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng hiện tượng chính trị hoá ca dao – dân ca trữ tình.

Câu ca dao trữ tình quen thuộc :

“Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em’

được người Quảng chính trị hoá trở thành những câu trữ tình – chính trị:

Ra đời vào thời gian đất nước bị chia cắt sau Hiệp định Genève 1954.Ta thấy rằng trongnhững cảnh ngộ không thể nói thẳng được điều cần nói, người Quảng vẫn có thể kín đáo vận động chính trị đồng thời gián tiếp tự bộc lộ sự lựa chọn chính trị của mình. Điều đó đã được dễ dàng đưa vào ca dao – dân ca một cách khéo léo,tài tình.

d. Hiện tượng tách từ,nói lái:

Hiện tượng tách từ được người Quảng dùng khá thuần thục trong ca dao – dân ca :

‘Nhìn xem nam bắc tây đông
Thấy thiên thấy hạ mà không thấy chàng
Về nhà đứng thở ngồi than
Cơm ta ăn không đặng nhớ đến nghĩa chàng đó chàng ơi’

Hay:

‘Xa làm chi mà xa quanh xa quất
Xa làm chi mà xa tức xa tối xa vội xa vàng
Không cho thiếp thở chàng than đôi lời’.

Đến chữ nghĩa cũng chia rời, xa cách, huống chi đôi lứa đang yêu! Sở trường nói lái thường được tận dụng:

‘Một chữ anh cũng thi
Hai chữ anh cũng thi
May thời đậu trạng dẫu rớt đi cũng ông nghè hồi’.

Ông ‘nghè hồi’ ở đây không phải là ông tiến sĩ vinh quy (nghè: tiến sĩ; hồi: trở về), mà là ông ‘ngồi hè’ – vì đã thi hỏng tức vẫn còn là anh học trò nghèo kiết xác, không ngồi ngoài hè thì ngồi vào đâu được!

Với những câu ca dao – dân ca không chỉ ở mảng đề tài tình yêu – hạnh phúc, chúng ta đã có thể thấy được nghệ thuật của ca dao – dân ca xứ Quảng. Từ đó hiểu được những điều người xưa Quảng xưa muốn nói .

5. Kết luận:

Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao – dân ca xứ Quảng với lối nói mộc mạc đơn giản, đậm chất Quảng được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu, ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng đã nói lên được cái tình yêu – hạnh phúc rất riêng của người xứ Quảng.

Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao – dân ca xứ Quảng xuất phát từ những cái bình dị hằng ngày .Bằng những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ, ca dao – dân ca xứ Quảng đã thể hiện tâm tư, tình cảm mộc mạc, trong sáng, đậm đà tình nghĩa của những con người xứ Quảng chịu thương chịu khó. Họ bất chấp mọi trắc trở để tìm thấy niềm vui, lạc quan trong cuộc sống, tình yêu hạnh phúc.

Ca dao – dân ca xứ Quảng là một phần hồn về đề tài tình yêu – hạnh phúc trong nội dung ca dao – dân ca Việt Nam. Cho dù đi bất cứ nơi đâu,chúng tôi – những con người xứ Quảng vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao – dân ca xứ Quảng quê mình.

Có dịp nhìn lại ca dao – dân ca xứ Quảng để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng ca dao – dân ca vốn có rất nhiều những nội dung sắc sảo cần được giữ gìn, phát huy. Mà một trong những nội dung có thể kể đến là đề tài tình yêu – hạnh phúc. (Hết)

@ thaonguyenbt2010

Tài liệu tham khảo:

1. Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, tập I, Nguyễn Văn Bổn, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng chủ trì biên soạn, xuất bản năm 1983 và tái bản đầu năm 1986.
2. Huỳnh Ngọc Trảng và Vu Gia với phần biên khảo về văn học dân gian huyện Đại Lộc trong Địa chí Đại Lộc (NXB. Đà Nẵng – 1992).
3.Thạch Phương trong tiểu luận Ca dao của một vùng đất (Ca dao Nam Trung Bộ – NXB. Khoa học xã hội – 1994) bàn về ca dao và những thể loại có liên quan đến thơ ca dân gian của Quảng Nam – Đà Nẵng)
4 . Báo Quảng Nam
5. Báo Quảng Ngãi
6. Báo Đà Nẵng
7. Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiếng….

 

Nhãn: , , , ,

NGÔI CHÙA THIÊN MỤ QUÊ TÔI

Bài và ảnh Võ Quang Yến

Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò,
Em đi : cảnh vắng hẹn hò cùng ai ?

Tôi còn nhớ hôm nhà tôi bảo vệ luận văn trên đề tài ngôi chùa Thiên Mụ, nghe các giáo sư trong ban giám khảo và thí sinh vui vẻ tranh luận về mấy chữ “anh đi”, “em đi”, ai đi, ai đợi, ai hẹn, ai buồn trong câu ca dao quen thuộc, có lẽ là người đi lại nhiều nhất ngôi chùa nầy trong số các thính giả ở giảng đường hôm ấy, tôi thầm lặng thú vị thấy ngôi chùa thân thương tuổi trẻ của mình nay được trình bày trong viện đại học giữa kinh thành ánh sáng Paris. Nói cho đúng, chùa Thiên Mụ không đồ sộ như đài Borobudur bên Java, bí ẩn như kim tự tháp Ai Cập, mỹ miều như đền Taj Mahal xứ Ấn Độ, lâu đời như nhà thờ Đức Bà Paris, … nhưng thiền tự duyên dáng nầy âm thầm quyến rũ khách lại xem, luôn gây ra một ấn tượng nhớ nhung dạt dào trong lòng người đến viếng. Đừng nói đến những trai thanh gái lịch đã từng dắt nhau lại vãn cảnh sân chùa, đạp lá vàng khô, hay ngắm nhìn sông núi, tình tự thề ước, chùa Thiên Mụ luôn vẫn là nơi chứa đầy kỷ niệm êm đềm, suốt đời khó quên.

Về mặt lịch sử, ngôi chùa nầy là một cơ sở quan trọng của thành Huế và từ năm 1993, cùng với thành phố, chùa đã được Cơ quan Văn hóa Liên hiệp quốc công nhận làm Di sản Nhân loại. Thật vậy, được xây dựng trên đồi Hà Khê năm 1601, từ thuở Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, năm 34 tuổi, vài năm sau từ ngoài Bắc vào đây trấn thủ, chùa trở thành nhà thờ chính thức của triều Nguyễn. Liên tục chứng kiến những bước thăng trầm, những thời thịnh suy của vương triều cuối cùng nước ta, góp phần vào cuộc phát triển Phật giáo ở Việt Nam, chùa Thiên Mụ đã để lại nhiều tài liệu trong sách sử, tuy ngày nay lắm nhà học giả đang còn suy luận, bỏ công tìm hiểu nhiều chi tiết ngay tại chỗ. Ngay tên ngôi chùa đã là một huyền thoại có ý nghĩa. Từ lâu, năm 1719, Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1736) đã có viết trong cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí : ” ….Đêm hôm ấy bỗng có một người đàn bà trông thể sắc thì còn trẻ, nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh ngồi dưới chân đồi than vãn, rồi cất tiếng to : đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không có gì phải lo…Người đàn bà ấy nói xong liền biến mất….” Non 200 năm sau, năm 1910, ..trong bộ Đại Nam nhất thống chí, cũng có kể lại sự tích nầy. Tuy lời của người đàn bà có phần khác ” …Sau sẽ có vị chân chúa đến sửa sang dựng lại chùa nầy, tụ linh khí để giữ vững long mạch cho được bền vững. Nói xong thì biến mất, nhân đó mà núi nầy được gọi là Thiên Mụ sơn . Chúa thượng cho rằng đất nầy có linh khí, bèn dựng chùa gọi là Thiên Mụ tự….” nhưng không ngoài mục đích của các vua chúa Nguyễn dựa vào thiên nhiên, thần thánh để hợp pháp hóa bá quyền của mình, tin tưởng ở lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) : Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.

Đồi Hà Khê nằm về phía tây thành phố Huế, khoảng 6km, trên bờ tả ngạn sông Kim Trà hay Linh Giang tức là sông Hương bây giờ, hướng về dãy Trường Sơn hùng vĩ, còn mang những tên Hương Oản, Uyển Sơn huyền bí, được xem như điểm sơn triều thủy tụ giữa sông và núi, nơi phát xuất một nền văn hóa Phú Xuân phong phú lưu truyền mấy trăm năm. Tục truyền Cao Biền (821-887), thuở làm tiết độ sứ Giao Châu, đi ngang qua đây thấy cánh đồi giống như một đầu rồng trong thế long hồi cố tổ khoa địa lý phong thuỷ, bèn cho đào núi cắt đứt long mạch, cố ý yểm phá một sự nghiệp lớn có thể bột khởi trong tương lai. Dân địa phương trước kia đã có dựng trên nền một tháp Chăm cũ một thảo am thờ tự mang tên chùa Thiên Mỗ, nóc ở đỉnh núi chân gối dòng sông. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) nắm cơ hội tự xưng mình là chân chúa, liền cho lấp núi, dựng lên nền cũ thảo am ấy một ngôi chùa đặt tên chùa Thiên Mụ, trên bản viết Thiên Mụ Tự, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi nầy để bảo toàn long mạch, phúc dân giúp nước. Hành động khôn ngoan của Nguyễn Hoàng không những đem lại an cư lạc nghiệp cho dân quanh vùng Hóa Châu mà còn làm thành điểm phát xuất một vương triều Nguyễn trước 13 đời chúa, sau 9 đời vua, thống nhất đất nước thu về một mối. Chỉ một đời sau, trong thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1614-1635), dân cư đã đến đông đúc quanh vùng. Nhưng phải đợi đến đời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) mới lại nghe nói đến chùa với kỳ trùng tu năm 1665, vào lúc thiền sư Tạ Nguyên Thiều dòng Lâm Tế từ Quảng Đông đến hoằng dương Phật pháp ở Đàng Trong và qua trù trì chùa Hà Trung ở huyện Phú Lộc dưới đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1650-1691).

Phật giáo chỉ phát triển mạnh mẽ từ đời Quốc Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là người có tiếng mộ đạo. Năm 1695 chúa mời Thạch Liêm Hòa Thượng tức Đại Sán Hán Ông lại ở chùa tám tháng. Theo miêu tả của hòa thượng, chùa Thiên Mụ hồi ấy là đã là điện đài tuy lợp tranh, tường vách ván đố, nhưng kèo, cột, rui, mè bằng gỗ quý, chạm trổ hoa văn theo phong cách mỹ thuật truyền thống, quanh vườn trồng cây cổ thụ. Năm 1710, chúa cho đúc chuông lớn cung phụng Tam Bảo, nhân tứ nguyệt Đản nhật, tức lễ Phật đản tháng tư năm Canh Dần. Năm 1714, chúa cho san bằng đỉnh đồi Hà Khê, huy động quan chức, tuyển chọn quân lính, tìm gỗ đá ở các tỉnh về chạm trổ, sửa chữa chùa rộng đẹp trong hơn một năm. Chính ngay chúa đã thống kê những điện lầu xây dựng sau thời kỳ trùng tu trong một tấm bia đá cẩm thạch đặt trên lưng tượng một con rùa : ” Từ cửa núi đi vào có đìện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, bảo điện Đại Hùng, nhà thuyết pháp, lầu Tàng Kinh. Hai bên là lầu Chuông và lầu Trống, rồi điện Thập Vương, nhà Vân Thủy, nhà ăn, nhà tọa thiền, rồi điện Đại Bi, điện Dược sư, nhà ở của chư tăng, nhà trọ cho khách, không dưới vài mươi sở. Bên sau là vườn Tì Da, trong vườn có nhà Phương trượng, và các chỗ cũng không dưới vài chục sở. Tất cả đều sáng chói rực rỡ, khiến cho người xem phải kinh ngạc sợ hãi. Thật là một tòa Quang Minh trong thế giới toàn sắc vàng rực vậy.” Chúa đổi tên chùa thành Thiên Mụ Thiền Tự. Tuy là quốc tự và là nơi thừa tự dòng họ các chúa Nguyễn, sau chúa, chùa bị bỏ hoang, gỗ hư mọt, ngói lỡ sụt, và qua năm 1775, lúc Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) chạy trốn vào nam, kinh thành Phú Xuân bị quân Trịnh tàn phá thì chùa hoàn toàn đổ nát, kinh luận hủy hoại tiêu tán. Thời Tây Sơn (1786-1801), Phan Huy Ích (1750-1822) đã từng đau lòng trước cảnh hoang tàn lạnh lẽo (1788) : Am xưa nay biển tế đàn, Chùa xưa thờ Phật nay toàn để xe.

Khi Gia Long (1762-1820) lên ngôi (1802), nhà vua đợi đến năm 1815 mới cho sửa chữa chùa. Bửu điện Đại Hùng được xây lại nhưng vẫn giữ chổ cũ từ thời Nguyễn Hoàng, vua cho xây thêm các điện Di Lặc, Quán Âm, Thập Vương, Tàng Kinh Lâu, Lôi Gia, lầu Chuông, lầu Trống hai bên Nghi Môn. Năm 1825, vua Minh Mệnh (1791-1841) lại cho sửa chữa tiếp rồi nhiều lần cho thiết trai đàn. Việc làm đáng kể của vua Thiệu Trị (1807-1847) là cho xây tháp Phước Duyên năm 1844-1845 “Ta vốn chẳng phải kẻ sùng đạo, chỉ vì sủng nguyện của dân nên cho lập chùa mà thôi”. Ngày nay, tháp thờ Phật nhưng nghe theo di chiếu của vua Minh Mệnh thì phải là một công trình hỗn hợp hài hòa tam giáo và tín ngưỡng dân gian. Ngoài ngôi tháp, nhà vua đã cho sửa chữa nhiều, xây điện đài mới vào thay thế những sở nhà hư sập. Trước ngôi tháp được dựng đình Hương Nguyện trên nóc có pháp luân luôn quay theo chiều gió, hai bên có hai bi đinh hình tứ giác, từ bến sông đi lên có bốn trụ hoa biểu rất cao. Nói chung kiến trúc chùa đã thật hoàn hảo và gần giống như ngày nay trừ vài thay đổi. Đồng thời vua cũng cho tổ chức nhiều lễ lớn, Lạc thành, Đảo vũ, Vu lan. Trong bảng kê 20 thắng cảnh đất Thần Kinh kèm theo 20 bài thơ ca tụng, chùa Thiên Mụ qua bài Thiên Mụ chung thanh được sắp số muời bốn. Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Mỗi lần lên chùa với con, em, gia đình, vua hay làm nhiều bài thơ, cho khắc vào bia đá. Năm 1862, vua Tự Đức (1829-1883) sợ chữ Thiên phạm đến Trời nên cho đổi tên Thiên Mụ Tự ra Linh Mụ Tự, hy vọng có con nối dõi, từ đấy dân gian có hai danh từ để gọi chùa. Năm 1899, vua Thành Thái (1879-1947) lại cho sửa chữa, năm 1920 cho dựng bia ghi bài thơ ca tụng vẻ đẹp của chùa. Nói chung, người nhiều kẻ ít, phần lớn các vua chúa nhà Nguyễn đều có lo chăm sóc ngôi quốc tự nầy.

Ngày nay, đi bộ từ thành phố lên chùa, khách hết còn phải len lóc cây cối hoang rậm như thuở trước, gần đây cũng hết được dạo xem những quán hàng dọc lòng sông được giải tỏa, chỉ còn ngắm nhìn phong cảnh sông nước bao la, xa xa những dãy núi Xước Dũ, Kim Phụng yên lặng soi bóng sông Hương. Tuy nhiên, nếu tò mò tìm thì còn thấy đuợc cổng vào ngôi nhà-vườn truyền thống An Hiên của bà Lan Hữu nay được ghi làm Di tích quốc gia, viếng thăm trong khu Đại Chủng viện Kim Long ngôi mộ của cha Léopold Cadière (1869-1955), người đã khảo cứu sâu rộng văn hóa Phú Xuân và đóng góp nhiều trong hội Đô thành Hiếu cổ Association des Amis du vieux Hué. Lại gần thì từ xa đã thấy bóng tháp chùa thấp thoáng sau mấy hàng cây. Rõ ràng hơn là đến chùa bằng đò, nhìn từ sông tháp không bị che. Chỉ khi cập bến, nếu khách lại mùa hè thì mục kích được những cánh hoa phượng đỏ chói làm tăng vẽ cổ truyền của ngôi tháp rêu phong. Leo lên mấy tầng cấp, sau hai trụ đá, khách bước vào khuôn viên chùa qua bốn trụ biểu cao gần 8m, có gắn gạch hoa tráng men, với bốn vế đối của vua Thiệu Trị đánh dấu “ngự chế” phát huy tinh thần Phật giáo “dạy dỗ cho muôn loài biết đạo”. Sau những trụ biểu một sân cỏ có viền mép đá thanh là nền cũ đình Hương Nguyện được dựng vào những năm 1844-1845 nghĩa là đồng thời với bửu tháp Phuớc Duyên nhưng bị trận bảo năm Thìn (1904) đánh đổ, sau nầy được cất lại phía sau điện Đại Hùng. Gọi là đình vì không phải nhà thờ, cũng không phải đình làng mà là nơi nghỉ chơi của nhà vua. Hai bên nền là hai bi đình, nhà vuông xây gạch, nền ghép đá thanh : bia phía đông kể chuyện dựng tháp Phước Duyên, bia phía tây khắc thơ của vua Thiệu Trị vịnh chùa Thiên Mụ. Toàn khuôn viên nầy là một nơi dạo chơi thoải mái, trước mặt có sông Hương êm đềm, những con đò nhỏ lướt nhẹ trên sóng, vào chiều in bóng trong nước, trước dãy núi hùng vĩ bao la, không khỏi gợi trong lòng khách một trạng thái thảnh thơi, nhẹ nhàng nơi chốn Tiên Phật.

Đứng ngay sau nền Hương Nguyện là bửu tháp Phước Duyên, lúc đầu mang tên Từ Nhân, (người Pháp gọi “tháp Khổng Tử” ?) bảy tầng bên ngoài hình bát giác (tám góc), bên grong hình tròn, cao hơn 20m, kể từ mặt nước sông Hương thì cao gấp đôi. Ngó lên ngọn tháp bảy tầng, Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông… Tháp có tường bằng gạch nung già để trần không tô, dùng mạch vôi hồ kết dính, xây trên nền đá thanh cứng với một lớp móng chôn vùi dưới đất không biết dày bao nhiêu, trông tương tự tháp Chăm. Cả tám mặt đều có lan can, hai cửa trước và sau, trang trí bằng gạch hoa tráng men Long Thọ hay pháp lam. Mỗi tầng tháp có cửa tò vò cho ánh sáng lọt vào, cửa tròn thông gió không hoàn toàn cân đối, lại có hoa văn khác nhau : chữ thọ (tầng dưới cùng), chữ vạn (tầng tư và tầng trên cùng), hoa thị 4 cánh (các tầng năm và sáu) hay 6 cánh (tầng ba). Muốn lên tầng trên, khách phải trèo một cầu thang xoắn ốc hướng tay mặt chứ không phải hướng tay trái như thường lệ. Lên càng cao, tháp càng nhỏ lại nhưng kiến thiết các tầng đều giống nhau. Cầu thang xoắn ốc không đưa lên đến tầng chót, muốn lên phải dùng một cái thang gỗ bắc trong một ô cửa và di động được. Nghe nói lúc trước tầng nầy được bảo vệ chặt chẽ, có ổ khóa do bộ Lễ quản lý ! Vậy mà tượng Phật bằng vàng (nếu có) đặt ở đây vẫn bị mất ! Trên cửa tò vò có bức hoàng phi đề Tự Tại Thiên xác định đây là cõi Trời. Qua cửa tò vò khách được chiêm ngưỡng vừa một quang cảnh sông núi hùng vĩ chốn đế đô, vừa một bức tranh hữu tình của đất nước Hương Bình, nơi gặp gỡ sông nước và non cao.

Đứng ngay sau nền Hương Nguyện là bửu tháp Phước Duyên, lúc đầu mang tên Từ Nhân, (người Pháp gọi “tháp Khổng Tử” ?) bảy tầng bên ngoài hình bát giác (tám góc), bên grong hình tròn, cao hơn 20m, kể từ mặt nước sông Hương thì cao gấp đôi. Ngó lên ngọn tháp bảy tầng, Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông… Tháp có tường bằng gạch nung già để trần không tô, dùng mạch vôi hồ kết dính, xây trên nền đá thanh cứng với một lớp móng chôn vùi dưới đất không biết dày bao nhiêu, trông tương tự tháp Chăm. Cả tám mặt đều có lan can, hai cửa trước và sau, trang trí bằng gạch hoa tráng men Long Thọ hay pháp lam. Mỗi tầng tháp có cửa tò vò cho ánh sáng lọt vào, cửa tròn thông gió không hoàn toàn cân đối, lại có hoa văn khác nhau : chữ thọ (tầng dưới cùng), chữ vạn (tầng tư và tầng trên cùng), hoa thị 4 cánh (các tầng năm và sáu) hay 6 cánh (tầng ba). Muốn lên tầng trên, khách phải trèo một cầu thang xoắn ốc hướng tay mặt chứ không phải hướng tay trái như thường lệ. Lên càng cao, tháp càng nhỏ lại nhưng kiến thiết các tầng đều giống nhau. Cầu thang xoắn ốc không đưa lên đến tầng chót, muốn lên phải dùng một cái thang gỗ bắc trong một ô cửa và di động được. Nghe nói lúc trước tầng nầy được bảo vệ chặt chẽ, có ổ khóa do bộ Lễ quản lý ! Vậy mà tượng Phật bằng vàng (nếu có) đặt ở đây vẫn bị mất ! Trên cửa tò vò có bức hoàng phi đề Tự Tại Thiên xác định đây là cõi Trời. Qua cửa tò vò khách được chiêm ngưỡng vừa một quang cảnh sông núi hùng vĩ chốn đế đô, vừa một bức tranh hữu tình của đất nước Hương Bình, nơi gặp gỡ sông nước và non cao.

Ở mỗi tầng, một bức hoành phi đặt giữa hai vế đối. Hoành phi tầng dưới cùng đề tên của tháp : Phước Duyên Bảo Tháp. Lần lượt sáu bức hoành phi khác cũng có ba hay bốn chữ : Phúc bị quần sinh, Hóa thông vạn loại, Thiện căn hữu khế, Phước quả thường viên, Cực lạc cảnh, Tự Tại Thiên. Mỗi tầng thờ một Kim thân Thế tôn, theo bia đá Ngự chế Thiên Mụ Tự, từ trên xuống dưới : đệ nhất QuáKhứ Tỳ Bà Thi Phật (Vispasin) ; đệ nhị Thi Khí Phật (Sikhin) ; đệ tam Ty Xá PhúPhật (Vessabhu); đệ tứ Câu Lưu Tôn Phật (Krakuchanda) ; đệ ngũ Câư Na Xá Mâu NiPhật (Kanakamuni) ; đệ lục Ca Diếp Phật (Kashyapa) ; đệ thất Trung Thiên Điền Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật (Sakyamuni), Tây Phương Cực Lạc Pháp Vương (Amitabha), bồi chi hữu A Nan (Ananda), Ca Diếp (Kashyapa) tôn giả. Vậy thì có tất cả 9 hay 10 pho tượng. Dù sao, những tượng nầy bằng vàng (theo tiếng đồn ít nhất cũng có một pho và bị mất) hay bằng đồng sợ bị trộm cắp nên một dạo được thỉnh vào thờ ở điện Đại Hùng và thế vào tháp những tượng bằng thạch cao sơn màu đồng. Hình dạng và y phục các vị Phật quá khứ nầy không mấy khác nhau, tất cả tóc đen trừ một vị tóc vàng, chỉ phân biệt ở ấn quyết nơi hai tay. Năm 1999 tôi chỉ chụp được ảnh 8 pho tượng nầy. Từ năm 2007, những tượng bằng đồng đã được thỉnh về lại tháp.

Ngang hàng với tháp, hai bên có hai nhà lục giác xây sớm hơn và cũng lớn hơn bia đình tứ giác Thiệu Trị. Vách tường bằng gạch, kết dính với mạch vôi hồ như ngôi tháp, sáu măt nhà có sáu cửa tò vò. Nhà phía đông chứa đựng tấm bia chúa Nguyễn Phúc Chu kể chuyện xây cất chùa, chạm trổ điêu khắc có mỹ thuật, được dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch trắng đẽo gọt sinh động. Viền bia có chạm ngọn lữa vươn lên và bốn con rồng năm móng chạm trổ tỉ mỉ, toàn thân uyển chuyển. Đầu bia cũng có chạm mây rồng có đuôi uốn lượn trên làn sóng. Nhà phía tây là gác treo chiếc chuông lớn gọi Đại Hồng Chung, một kiệt tác về trình bày mỹ thuật cũng như kỹ thuật đúc đồng thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Cao 2,50m, chu vi trung bình 4m, chuông có quai mang hình mãng xà, chim phụng hoàng, rồng năm móng. Thân chuông có vành rồng, những ô mang chữ thọ, khắc những chữ Hoàng đồ cũng cố, Đế dạo hà xương, Phật nhật tăng huy, tên người dựng chuông, mục đích dựng chuông. Phía dưới có hình mặt trời tròn là nơi vồ gỗ đánh vào khi thỉnh chuông, hai bên có ngọn lửa tóe ra, xa lưỡi gần vầng. Dưới cùng trang trí tám quẻ bát quái trước miệng chuông chạm trổ hoa văn thủy ba sóng nước trình bày tinh hoa nên rất linh động. So về cả hai mặt mỹ nghệ và kỹ thuật, Đại Hồng Chung hơn xa chuông Gia Long trong lầu Chuông cạnh Nghi Môn. Tiếng chuông lại ngân nga, thanh thoát dễ gợi buồn nơi người nghe. Nghe chuông Thiên Mụ lại buồn, Ngó về Thành Nội khói tuôn lại sầu…

Sau lưng bảo tháp Phưóc Duyên, vua Khải Định (1885-1925) có cho dựng năm 1919 một tấm bia nhỏ lộ thiên kể sơ lược sự tích chùa. Ngay sau bia là một tam quan gọi là Nghi Môn, phía đông có lầu Chuông, phía tây có lầu Trống. Rộng gần 5m, dài gần 15m, cao gần 4m, trần bằng gỗ, cửa chính vào chùa nầy gồm có ba gian, có vách phân cách, trong mỗi gian có tượng hai vị Hộ pháp Dharmapala rất sinh động, dáng điệu, bộ mặt , xiêm áo, giáp trụ khác nhau. Phía trên bên kia cửa là ba tò vò, ở chính giữa có biển gỗ đề Linh Mụ Tự, chạm hoa văn rồng, nét sơn son thấp vàng nay đã phai màu, hai biển phía đông đề Đại Từ Bi, biển phía tây đề Đại Trí Tuệ, đều đắp vôi nổi. Một cái thang dẫn lên lầu, mặt trước đóng đố gỗ, phiá sau xây vào chùa để trống, nhìn từ dưới chẳng thấy rõ, lên trên lầu khách ngạc nhiên phát hiện được một tượng Ngọc Hoàng, mặc dầu nghe nói chùa chỉ giữ lai những hình tượng Phật giáo, bảo vệ đằng sau là một vị Hộ Pháp to lớn, chống kiếm, uy nghi nghiêm nghị.

Qua khỏi Nghi Môn, khách đạt đến một khoảng trống với ba lối đi và hai bên hai nhà Lôi Gia, loại miếu thờ đối diện xây năm 1815 dưới đời Gia Long. Mỗi Lôi Gia chứa ba pho tượng Kim Cương có nhiệm vụ bảo vệ Đạo pháp, đuổi dẹp ác quỷ. Được đắp bằng đất sét trộn với trấu và rơm, mỗi tượng lớn bằng người thật, có một thế ngồi, một cách để chân, một ấn quyết hay dụng cụ ở hai tay khác nhau. Tuy là những vị thần lúc trước mang chùy kim cương Vajrapanis, áo, mão, hia, giáp trụ, vũ khí, vòng quanh thiên thần, màu sắc tô vẽ sặc sỡ biệu lộ một sắc thái Trung Quốc. Như để khuyến khích khách gạt bỏ mọi ưu phiền, ác tính trước khi vào chùa, mỗi vị được trình bày đạp chân lên một con thú nhỏ : cóc, rắn, khỉ, hổ, rùa, lân tượng trưng cho thú tính. Như vậy, trước lúc bước vào điện Đại Hùng tất là cõi Phật, đi ngang trước nhà Lôi Gia, khách mang một đầu óc thư thái, thanh thảng rũ sạch mọi bụi trần.

Lối giữa từ Nghi Môn dẫn thẳng vào Bảo điện Đại Hùng (người hùng là đức Phật, có quyền lực chế ngự mọi quỷ sứ), một tòa nhà lớn gồm có hai phần : tiền đường năm gian hai chái và chính đường, ba gian hai chái họp lại thành bốn mái, hai mái chồng nhau, nóc chính điện cao hơn nóc tiền đường. Trên nóc tiền đường có hai con rồng chầu một Pháp Luân trong có chữ Phật. Trên nóc chính điện cũng có hai con rồng chầu một mặt trời giữa bảy ngọn lửa sắp dọn thành búp hoa sen trong có chữ Vạn. Hai đầu chái chính điện và tiền đường có hình con dơi gắn sành mảnh sứ. Trong thiền đường trang trí giản dị, có hai vế đối 12 chữ của vua Thiệu Trị và hai vế đối 21 chữ của triều đình vua Bảo Đại (1913-1997). Ở chính giữa, một tượng đồng rất lớn đức Phật Di Lặc Maitreya, tai lớn dài, cao 0m80, đặt trên một bệ lớn bằng gạch cao hơn 1m. Ngài ngồi vui thích, chân mặt co lên, chân trái xếp bằng, áo trạc ra cho lòi cặp vú và cái bụng phệ, miệng cười thoải mái. Treo trên pho tượng là bức hoành phi sơn son chữ lớn Linh Thứu Cao Phong (đỉnh núi nơi đức Phật chuyển pháp lần thứ hai, giảng bộ Kinh Diệu pháp liên hoa), thủ bút của chính chúa Nguyễn Phúc Chu, lúc trước treo trong chính điện. Một bảo vật còn xưa hơn trong tiền đường là cái khánh đồng dài 1m60, rộng 0m55, treo trên một cái giá gỗ, đúc ở Phường Đúc, trang trí hai mặt : một mặt đề tên Bình Trung Quán Khánh và niên hiệu Vĩnh Trị nhị niên tuế Đinh Tỵ (tức là 1677) trọng thu tạo ; mặt kia đề tên người phụng cúng Hội chủ Trần Đình Ân đạo hiệu Minh Hồng, pháp danh Tịnh Tín, Thập phương công đức và hình sao Bắc Đẩu nằm giữa nhị thập bát tú, trên một mặt trời với bốn ngọn lửa. Đông Triều Hầu Trần Đình Ân (1626-1707) là nhạc gia của Nguyễn Khoa Chiêm, cả hai đều làm quan to trong triệu Minh Vương. Có thể tin là khánh đã được đúc cho chùa Bình Trung và sau đưa qua chùa Thiên Mụ.

Chính đường hay thượng điện chiếm toàn chiều dài ba gian của điện, dài 30m, rộng 12m, lúc trước cột, kèo, xuyên, trếnh đều làm bằng gỗ lim, gỗ sao, nền lát gạch Bát Tràng, từ ngày trùng tu năm 1958, được thay bằng xi măng cốt sắt. Ở tiền đường khách thấy ngay một bức hoành phi mang ba chữ Đại Hùng Điện. Trên bàn thờ Phật đặt trong cùng có ba tượng Tam Thế thể hiện Tam Thân, bằng đồng, giữa là đức Thích Ca Mâu Ni Sakyamuni, bên trái có đức A Di Đà Amitabha, bên mặt có đức Di Lặc Maitreya, tất cả đều ngồi thiền trên hộp sơn đỏ, hai chân chéo nhau, mỗi vị một ấn quyết khác nhau. Cơ thể dỏng cao, dáng đầu thanh trên một cổ dài, những nếp áo che lấp vai chỉ để lộ những nút giây giữ vạt áo dưới,… nhiều chi tiết kê sắp các tượng nầy trong số hình tượng Phật giáo đẹp nhất ở Việt Nam. Năm 1999, trước bàn thờ nầy có bảy vị Phật nhỏ cũng bằng đồng, khó thấy, lúc trước đặt trong tháp Phước Duyên, nay đã được thỉnh về lại tháp. Trước các vị nầy năm 1999 còn có một tượng đồng Di Lặc tương đối nhỏ hơn và trong tủ kính tượng đức Thế Tôn Sakyamuni. Hai bên bàn thờ, hai vị bồ tát nắm hoa sen Phổ Hiền Samantabhadra cỡi con thanh sư bên mặt, vị Đại Thế Chí Manjushri cỡi con sư tử bên trái, đều được đặt trong tủ kính. Hậu điện chỉ có một bàn thờ Thạch hòa thượng. Theo các sách xưa, thượng điện còn chứa nhiều hình tượng khác, không thuộc về Phật giáo như các thần Nam Tào, Bắc Đẩu đã được loại ra. Tượng Ngọc Hoàng ở Nghi Môn là một tàn tích còn sót.

Sau bảo điện Đại Hùng là điện Địa Tạng Kshitigarbha dài hơn 28m, rộng gần 20m, xây năm 1815 trên nền điện Di Lặc, với bộ sườn đình Hương Nguyện dời vào. Dấu tích xưa, gồm có mười sáu cột, bốn cột mệ ỡ giữa, bốn mái, bốn kèo mái, trần hình bát quái, điện là một lầu vuông, chạm trổ hoa lá hay hình bát bửu (cây đàn, bầu rượu,…). Khoảng đố giữa các cột được chia thành hộc hình chữ nhật và ô vuông khắc dưới 96, trên 32 câu thơ bằng chữ Hán của vua Thiệu Trị, chạm hoa lá mai, lan, cúc, trúc, bút lông, ống sáo, gươm, khánh, đàn,… Điện nầy lúc trước được thiết kế để thờ đức Quan Công tức Quan Võ, Quan Vân Trường hay Quan Thánh (thường kèm theo Trương Phi và Quan Bình), không hẳn phải thần Phật giáo, vì vậy vào khoảng thập niên 50 đức Quan Công được dọn đi và điện được đổi thờ Địa Tạng là vị bồ tát tự nguyện xuống Âm phủ để cứu khổ cứu nạn những âm hồn đang bị quỷ sứ đày đọa. Năm 1999, khi chúng tôi viếng chùa, điện để trống không, chỉ thấy hai chú tiểu ngồi học trên hai cái bàn nhỏ.

Nhà thờ sau cuối khu Thiên Mụ là điện Quán Âm Avalokitesvara, xây trong lùm cây, từ đời Gia Long. Sân, tầng cấp lọt gạch Bát Tràng, điện dài gần 20m, rộng 13m rưởi, ba gian, hai chái với ba cửa ra vào, hai cửa nách, trang trí giản dị không có hoa văn. Tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát lớn, bằng đồng, ngồi trên tòa sen, nét mặt dịu dàng, đặt trước bức hoành phi Quán Âm Điện. Còn có một tượng Quan Âm bằng đá, thế đứng, đặt trước tượng kia, trong tủ kính, cũng không kém phần nghệ thuật nữ phái, ngón tay thon dài, tay mặt để thỏng xuống, tay trái đưa lên ngang ngực, đều có ấn quyết. Hai bên có hai bàn thờ Thập Điện Vương, mỗi bên 10 vị, 5 vị ngồi trước bằng đất nung sơn vàng, nhỏ, cũ hơn, 5 vị ngồi sau bằng đất sét nhiều màu, có râu cằm và trêu mép. Áo, mũ giống nhau, mỗi vị có một bộ măt khác nhau nhưng đều nghiêm nghị như những ông quan ra tòa. Những tượng nầy có thể thỉnh từ hai dãy Thập Vương ở cạnh và bị phá đổ cùng lúc với điện Di Lặc. Phía sau điện thờ Địa Tạng, một tượng lớn bằng đồng vàng chói, ngồi trên ghế, tay trái đặt trên thành ghế, tay mặt một ấn quyết. Rất có thể tượng nầy lúc trước được đặt thờ trong điện Địa Tạng xây lại trên nền điện Di Lặc .

Vị trù trì sau cùng của chùa lãnh đạo Phật giáo Huế có tiếng tăm là Hòa thượng Thích Đôn Hậu có phần mộ và ngôi tháp sau cuối khu chùa, núp bóng dưới nhiều cây yên tĩnh. Một vị tu hành có tiếng khác là Hòa thượng Thích Quảng Đức, tự thiêu ở Sài Gòn ngày 11 tháng sáu năm 1963, hiện có mặt qua bảng giải thích bằng hai thứ tiếng Việt và Anh đặt trước một chiếc xe hơi đã chở Ngài. Trong khuôn viên chùa còn có nhà bếp, vườn rau. Con Rùa Mốc thường được nhắc đến, ngày nay chỉ còn những đám gạch sụp đổ ngoài tường chùa. Sau cuối chùa còn có hai ngôi nhà xưa thấp thoáng trong lùm cây gợi lên ý nghĩ quang cảnh của ngọn đồi khi chùa mới được xây dựng thành. Với một kiến trúc tuyệt diệu, những báu vật mỹ thuật, chùa Thiên Mụ thật là một kiệt tác nghệ thuật tinh vi vùng Phú Xuân hài hòa giữa môi trường êm dịu đất Thần Kinh. Tôi rất mừng khi nhà tôi chọn ngôi chùa quê tôi làm đề tài luận văn vì là một dịp để cô ta tìm hiểu sâu xa hơn tâm hồn Phật giáo nói chung, phong cách xứ Huế nói riêng, từ đấy tôi cũng hưởng lây được kiến thức mà cô ta đã gom góp. Khi luận văn được in thành sách (*) bà Hội trưởng Hội Những Người Bạn Viễn Đông AFAO không ngần ngại cho in dấu của Hội lên bìa sách với lời giới thiệu cho khách chỉ biết tiếng Pháp cần có cuốn sách nầy trong tay khi đến viếng Huế !

 Võ Quang Yến
Mừng Phật Đản 2555
Xô thành tiềt Thanh minh 2011

Tham khảo

– (*) Vo Quang Liliane, Le temple de la Dame Céleste (Chùa Thiên Mụ) à Hué � sanctuaire bouddhique et miroir de l’ancienne capitale du Vietnam, Université de Paris VII 1998, Cahiers de Péninsule 6 2004
– Nguyễn Đắc Xuân, Bốn trăm năm chùa Thiên Mụ, nxb Thuận Hóa Huế 1998
– Hà Xuân Liêm, Chùa Thiên Mụ, nxb Thuận Hóa Huế 1998
– Hà Xuân Dương, Kiến trúc chùa Thiên Mụ, nxbĐà Nẵng 1998
– Phanxipăng, Leo tháp Phước Duyên, Tc Nghiên cứu và Phát triển 3(80) 2010 ; Chim Việt Cành Nam 42 2011

 

Nhãn: , ,