RSS

CUỘC XÂM LĂNG KHÔNG TIẾNG SÚNG (3)

21 Jul

CUỘC XÂM LĂNG KHÔNG TIẾNG SÚNG

Phần 3

VĨNH NHƯ

Tham vọng bành trướng và tư tưởng bá quyền là những biểu hiện của tinh thần phi dân chủ. Ngoài (nước ngoài) thì coi thường nước khác dân tộc khác, đối lập Hoa Hạ với Tứ Di, trong (trong nước) thì coi thường dân chúng, coi thường phụ nữ, đối lập người quân tử (cai trị) với kẻ tiểu nhân (dân chúng). Khổng tử nói tới dân chúng ở nhiều chỗ với một gịọng rất miệt thị, coi thường: dân chúng có thể khiến họ theo, chứ không thể giảng cho họ hiểu được (Luận Ngữ, Thái Bá 9). Ông nhiều lần tỏ ra khinh bỉ dân chúng một cách rõ rệt: Sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu vì bao tội ác trong thiên hạ dồn cả về đó (Luân Ngữ, Tửø Trương 20). Nói đến phụ nữ ông bảo: chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần thì họ nhờn, xa thì họ oán (Luận Ngữ Duơng Hóa 25) –Trần Ngọc Thêm- Tìm về bản sắc văn minh Việt Nam, nxb tpHCM năm 2001, trang 482-483.

Tóm lại, Khổng Tử chủ trương tòng Chu, hưng Hoa diệt Di (Bách Việt) kỳ thị chủng tộc (qua lời khen Quản Trọng, coi Bách Việt là mọi rợ), miệt thị dân chúng, khinh bỉ đàn bà… Như vậy thuật nhi bất tác chỉ là lối nhân nghĩa và đạo đức giả của Khổng Tử với mưu đồ đồng hóa và diệt chủng các giống dân Tứ Di, tức Bách Việt mà theo triết gia Đông Lan, “sắc dân Bách Việt đã vào và cư ngụ trên đất Tàu ngày nay trước khi có một dân tộc thực sự là Tàu xuất hiện” (sđd, trang 186, dòng 6-8).

Với chủ trương dùng nhân nghĩa –thuật nhi bất tác- ở đầu môi chót lưỡi, tức lời nói khác với hoài bảo của mình để thay cho việc binh đao.

Cái đạo đức chuyên lấy của người –thuật nhi bất tác- khéo léo uốn nắn theo nhu cầu của mình (Tu, Tề, Trị, Bình) đánh lừa thiên hạ với dã tâm đồng hoá các giống dân khác thành người Tàu. Đó là sách lược lùi không đánh, giả bộ lấy đạo đức của người và đồng hoá họ làm dân mình. Hoà nhi bất đồng của văn minh Hoàng Hà là cái màn che giấu mưu đồ thầm kín, hòa để mà hóa của người thành cuả mình. Cho nên “hòa” gốc du mục khác hẳn với “hòa cả làng” của văn minh sông Hồng, phát xuất từ nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước (Văn hóa Hòa Bình).

Đây là sách lược vô cùng thâm độc của họ Khổng. Do đó Mặc Tử đề xướng thuyết Kiêm Ái (thương mọi người) để chống lại lối giả nhân giả nghĩa của Khổng Tử. Còn Lão Tử chủ trưong bình đẳng, tự do, sống hài hòa với thiên nhiên, trở về với sự chất phác, thuần lương là những giá trị đi ngược lại với chế độ phong kiến nhà Chu, kiến dựng trên quân quyền, phụ quyền và nam quyền.

Chủ nghĩa bành trướng là nét đặc thù độc đáo nhất trong sự hình thành nước Trung Quốc với bệnh HỘI CHỨNG ĐẠI HÁN, từ triều đại này qua triều đại khác, quyết tâm xóa sạch văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống, từ Quản Trọng, Khổng Tử cho đến Tôn Dật Tiên, Tưởng giới Thạch, Mao Trạch Đông và kéo dài đến ngày nay.

Thế hệ của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào bây giờ cũng không đi ra ngoài sự chỉ giáo của Khổng Tử: Phải hành động như Quản Trọng –phối hợp quân sự và văn hóa- để đồng hóa đến người Bách Việt cuối cùng (tộc Lạc Việt tiền thân của dân tộc Việt Nam) thành người Tàu.

(Bài 4 sẽ trình bày hỏa mù trong mặt trận văn hóa giữa ta với Tàu)

Hỏa mù trong mặt trận Văn hóa giữa dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Quốc

Điều làm nhiều người vô cùng ngạc nhiên là vào thời điểm này –duới ánh sáng mới của khoa học- mà còn một số trí thức khoa bảng Việt Nam tung ra hai hỏa mù trong mặt trận văn hóa giữa Ta và Tàu:

1- Khuynh hướng xem văn hóa Việt Nam là bản sao của văn hóa Tàu: Việt Nam cùng lắm cũng chỉ là một cành Nam của gốc Hán.

2- Khuynh hướng đi tìm nguồn gốc văn hóa Việt Nam ở tận bên Tàu: Khổng Tử đã công thức hóa, chữ nghĩa hóa văn hóa của đại tộc Bách Việt sống trên đất Tàu thành Ngũ Kinh và Tứ Thư. Khuynh hướng này cho rằng nếu bỏ Nho thì chúng ta chỉ tìm thấy ngọn chứ chưa đến tận gốc của văn hóa Việt. Khuynh hướng này đã “sáng tạo” ra quan niệm Nho giáo có bốn giai đoạn:

a) Hoàng Nho, thuộc Tam Hoàng từ 4450-3080 trước Tây lịch.
b) Di Nho, thuộc thời vua Thuấn (2255 trước Tây lịch), vua Vũ (2205 trước Tây lịch).
c) Việt Nho, hay Nguyên Nho (nội dung Việt Nho được Khổng Tử công thức hóa thành kinh điển của Nho giáo thời Xuân Thu 821 trước Tây lịch.
d) Hán Nho cũng là Nho giáo từ thời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), nhưng bị sa đọa với sự xuyên tạc của nhà Hán (Đông Lan Yêu Mến An Vi, nxb Văn Hiến năm 2004, tr. 194).

Nói Nho giáo là của Trung Hoa thì quá chung chung, và do vậy, không có sức giải thích. Còn nói rằng chữ Nho cũng như đạo Nho thoạt kỳ thủy do người Bách Việt sống trên đất Tàu khởi sáng, rồi sau đó người Tàu hoàn bị thì có lẽ quá cực đoan và không có sức thuyết phục 95% người dân Việt sống trong xóm làng, cái nôi của văn hóa Việt Nam.

Phải chăng văn hóa Việt Nam là bản sao của văn hóa Trung Quốc?

Những quan niệm, ý tưởng sau đây phần lớn là dựa vào những điều mà tác giả Trần Quốc Vượng ghi trong cuốn Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, cộng thêm những gợi ý, ý kiến của tác giả Trần Ngọc Thêm ghi trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Cung Đình Thanh trong tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học, tác giả Đào Văn Dương và tác giả Thường Nhược Thủy trong Đạo Sống Việt.

Duới ánh sáng mới của khoa học (khảo cổ học, nhân chủng học, dân tộc học, ngôn ngữ học, di truyền học, hải dương học v.v…), với những tài liệu vật chất lấy lên từ lòng đất Việt Nam, người ta đã chiếu rọi vào quá khứ hàng mấy vạn năm.
Các nền văn hóa trên đất Việt.

Chỉ cần đi sâu nghiên cứu văn hóa Hòa Bình thôi (trước 15.000 năm đến 10.000 năm trước ngày nay) chúng ta biết được cư dân hòa bình (tiền thân của dân tộc Việt Nam) đã thuần hóa cây lúa hoang thành cây lúa nước (Oryza Sativa), thực hiện cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước từ 6.000 năm đến 7.000 năm trước đây, trong bối cảnh Đông Nam Á, có thiên nhiên phong phú và đa dạng. Trước đó cả ngàn năm cư dân Hòa Bình đã biết trồng cây có củ, cây ăn quả (bầu bí, rau dưa) v.v… Các nhà nghiên cứu đều đồng thuận nông nghiệp, nông nghiệp trồng lúa nước là khởi đầu văn minh nhân loại. Cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước đánh dấu một bước tiến bộ vĩ đại trong đồi sống của cư dân Hòa Bình đã để lại cho chúng ta một niềm tự hào lớn.

1. Văn hóa Hoà Bình là nền văn hóa tiếp nối nền văn hóa Sơn Vi (huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú) thuộc hậu kỳ đá cũ, có tuổi từ 25.000 năm đến 15.000 năm trước ngày nay. Văn hóa Hòa Bình được quốc tế công nhận vào ngày 30 tháng giêng năm 1932, do Đại hội các nhà tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội thông qua. Nền văn minh trồng lúa nước vốn là nền văn minh của cư dân Hòa Bình đã tạo được thế quân bình bền vững của nền văn hóa xóm làng (văn hóa truyền miệng, văn hóa chìm hay văn hóa vô ngôn), giữa con người và thiên nhiên Việt Nam trong khủng cảnh Đông Nam Á từ ngàn xưa (chứ không phải thiên nhiên Tàu, thiên nhiên Hoàng Hà)

2. Tiếp theo văn Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn), với những chiếc rìu mài lưỡi nổi tiếng, cả thế giới đều biết.

3. Tiếp theo vân hóa Bắc Sơn (từ trước 10.000 năm đến 6.000 năm trước ngày nay) là văn hóa Phùng Nguyên (Phú Thọ) cách ngày nay khoảng 4.500 năm, cội nguồn của văn minh sông Hồng. Đó là thời đại các vua Hùng dựng nước. Di tích văn hóa Phùng Nguyên được tìm thấy ở nhiều tỉnh Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng.

4. Tiếp theo văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa Đông Sơn, có niên đại sớm là 2820 năm cách ngày nay, với trống đồng, trong đó có trống đồng Ngọc Lũ nổi tiếng trên thế giới.

Trong lúc người Việt cổ xây dựng nền văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn thì cái nước mà ngày nay chúng ta gọi là Trung quốc mới được tạo dựng lên ở mạn trung lưu Hoàng Hà, và nền văn minh Trung quốc ban đầu là nền văn minh Hoàng Hà với ranh giới ba tỉnh bây giờ: Sơn Tây (Quê hương của Đế Nghiêu), Hà Nam (quê Hạ Vũ, kinh đô của nhà Ân), Thiễm Tây (Núi Kỳ sông Vị, quê hương của nhà Chu từ 1122 đến 225 trước Tây lịch.

Nếu đầu óc không bị điều kiện hóa bởi văn hóa Trung Hoa thì đứng ở góc độ nào –văn hóa bác học hay văn dân gian- cũng nhận thấy sự khác biệt giữ văn hóa Việt và văn hóa Tàu. Vì văn hóa theo nghĩa rộng là thiên nhiên –môi trường sống- được thích ứng, biến đổi bởi con người để thoả mãn nhu cầu về mọi mặt của con người. Nói cách khác, văn hóa là toàn thể các hình thái sinh hoạt về vật chất và tinh thần của con người trong cách thích ứng, tiếp xử với thiên nhiên và xã hội, lịch sử. Từ đó hình thành cách làm ăn (chăn nuôi theo bầy, sống đồi sống du mục hay trồng trọt đời sống định cư với xóm làng), cách ăn, mặc, ở, cách ứng xư, thái độ của con người đối với thiên nhiên, vũ trụ, xã hội và lịch sử. Như vậy, nói một cách đơn giản thiên nhiên –môi trường sống- và lịch sử là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng sâu rộng đối với con người trong việc hình thành văn hóa.

Sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc

Trong những điều kiện đó, văn hóa Việt Nam (văn minh sông Hồng) và văn hóa Trung Quốc (văn minh Hoàng Hà) khác nhau từ căn bản: Từ tiếng nói, lối sống, cách ăn, mặc, ở, lối suy nghĩ, cung cách ứng xử đến cội nguồn.
Phải chăng giới trí thức khoa bảng Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong khi tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tức nhìn lại chính mình để biết mình là ai? Đầu óc đã bị điều kiện hóa, chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Trung Hoa: Nào thơ Đường, điển tích Tàu, tam cương ngũ thường v.v…, đôi khi quên đi cả thiên nhiên Việt mà họ đang sống như đã trình bày ở phần trên. Trái lại, người dân Việt nhận thấy sự khác biệt giữa Ta và Tàu dễ dàng.

CUỘC XÂM LĂNG KHÔNG TIẾNG SÚNG

Phần 4/cuối

VĨNH NHƯ

Tiếng nói khác. Ngày xưa Tàu mặc quần, Việt mặc váy: cái thúng mà thủng hai đầu, bên Ta thì có bên Tàu thì không. Ngày nay, Ta mặc áo dào, Tàu mặc áo Xườn Xám của Mãn Thanh. Nón lá của ta khác hẳn nón vành ngang của Tàu.

Tàu ăn cháo kê, bánh bao, dùng xì dầu. Ta ăn cơm, ăn xôi, ăn bánh chưng bánh dày, bát tương, chén nước mắm và đặc biệt đôi đũa là một sáng tạo của văn minh trồng lúa nuớc của Việt Nam. Từ địa hạt vật chất đôi đũa đã đi vào lĩnh vực tinh thần, triết lý Việt Nam: Vợ chồng như đôi đũa có đôi, chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho đều; vơ đũa cả nắm, thủ tục ly hôn ngày xưa là bẽ đũa. Thời trước Khổng Tử (Xuân Thu Chiến Quốc) cho đến nhà Tần (221 trước Tây lịch) Tàu ăn bốc (ăn bánh bột luộc, bánh bao). Khi Tần Thủy Hoàng chiếm miền Nam sông Dương Tử và từ đời Hán trở đi người Tàu bắt đầu tiếp thu đôi đũa của dân trồng lúa nước ở phía Nam.

Tàu ăn nhiều mỡ (xứ lạnh) ít rau. Ta ăn mỡ ít (xứ nóng) nhiều rau, đủ loại đủ màu, thường ăn rau sống nhiều hơn Tàu. Có thể nói là gì và hoa gì ăn được đều có mặt trong nồi canh của nông dân Việt: đói ăn rau, đau uống thuốc. Nghệ thuật nấu ăn của Trung Quốc là đổ mỡ vào thức ăn để chiên, xào. Trái lại nghệ thuật nấu ăn của người Việt là nấu, nướng và luộc nghĩa là rút mỡ từ thức ăn ra: điều này phù hợp với nghệ thuật ăn uống dùng ít mỡ trong bữa ăn theo tiêu chuẩn dinh dưỡng hiện đại.

Càng ngược dòng lịch sử sự khác biệt càng sâu sắc. Lưu vực Hoàng Hà là khu vực khí hậu đại lục, lạnh lẽo, khô hạn, lượng mưa ít, lượng bốc hơi cao, có nhiều đồng cỏ mênh mông thích hợp cho nghề chăn nuôi theo bầy, kéo theo đời sống du mục nay đây mai đó lang thang trên cánh đồng cỏ. Lưu vực sông Hồng là khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, nước dư thừa, nhiệt đầy đủ với những đồng bằng thích hợp cho việc trồng trọt sống định canh định cư trong xóm làng.
Đất trồng trọt của người Trung quốc ban đầu ở cao nguyên và bình nguyên Hoàng Hà là hoàng thổ, do gió Tây mang lại. Đất trồng trọt của người Việt ở lưu vực các dòng sông là phù sa nâu, do sông cái sông con bồi đắp. Nông nghiệp Trung Quốc, khi người Hoa Hạ chiếm lưu vực sông Hoàng Hà, từ khởi thủy là nền nông nghiệp trồng khô. Nông nghiệp Việt Nam, từ ban đầu, là một nền nông nghiệp trồng nước, trồng lúa nước, sử dụng hệ thống ngập nước, ruộng Lạc theo nước thủy triều lên xuống, với hệ thống tuới nước đa dạng (gàu dai, gàu sòng, kênh ngòi).

Người Trung Hoa trồng túc –tiểu mễ hay kê- sau đó trồng cao lương, rồi trồng lúa mạch kiểu trồng khô. Người Việt trồng cây có củ (khoai các loại) và đặc biệt từ 6000 đến 7000 năm trước đây đã trồng lúa nước.

Kỹ thuật trị thủy sông Hoàng Hà, người Trung Hoa khơi sâu và khơi nhiều dòng chảy. Trái lại, kỹ thuật trị thủy của người Việt là đắp đê.

Ít nước trên mặt, người Trung Hoa phải đào giếng để tìm nguồn nước. Người Việt sống ở vùng sông ngòi chằng chịt, đầm đìa, hồ ao khắp nơi, quen sử dụng nước trên mặt. Ở Việt Nam ao rất đa dạng: Ao nuôi cá, ao rau muống v.v… Ao đã đi vào cuộc sống tinh thần: Đêm qua ra đứng bờ ao; trúc sinh trúc mọc bờ ao; ao thu lạnh lẽo nước trong veo.

Người Trung Hoa ở nhà hầm, người Việt Cổ sáng tạo cái nhà sàn với mái cong độc đáo hình thuyền. Luật pháp của Tàu và Ta hoàn toàn khác nhau. Sau cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng thất bại Mã Viện tâu với vua Hán rằng luật Việt và luật Hán khác nhau đến mười điểm, và xin áp dụng luật Hán trên đất Việt (Luật Hồng Đức đời Lê hoàn toan khác hẳn luật Tàu). Sẽ trình bày vào một dịp khác.

Tâm Việt Hồn Việt còn thì văn hóa Việt còn

Người còn tâm Việt, hồn Việt nhìn vào đời sống hàng ngày nhận ra ngay sự khác biệt giữa Tàu và Ta: Tiếng nói khác, cách chào hỏi khác (Tàu: Ăn chưa? Việt: Mạnh khỏe không?), cách mặc khác, thức ăn khác, kỹ thuật nấu ăn khác, lối xưng hô khác (Tàu: nị ngô như Tây phuơng toi, moi, you me; Ta: chú bác, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em v.v…)

Đi lại ở miền khô, trên vùng cao nguyên, gần thảo nguyên, thuận lợi cho việc chăn nuôi ngựa, người Trung Hoa thường dùng ngựa, xe cộ trong kỹ thuật giao thông. Quân đội lấy ưu thế là kỵ binh. Lúc đầu người Trung Hoa lấy Ngựa làm biểu tượng cho dân tộc Tàu, sau đổi thành con vật mình ngựa đầu rồng, rồi đến Cọp và sau cùng là Rồng. Dân tộc Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng, miền sông nước chằng chịt với hồ ao khắp nơi, gắn trồng trọt với chài lưới, thuyền bè các loại trở thành phương tiện giao thông chính. Thế cho nên, người Việt từ thượng cổ đã nổi tiếng lặn giỏi, bơi tài, giỏi cùng thuyền.Yếu tố sông nước trong môi trường sống đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam. Từ cái làm (trồng lúa nước) đến cái ăn (gạo, đạm thủy sản), chốn ở (nhà sàn, sống trên thuyền bè, chợ thuyền, nhà sàn trên nước) giao thông (thuyền bè, cầu phao) giải trí (múa rối nước) (quân sự thạo thủy chiến) cho đến cái chết (thuyền táng) đều liên hệ đến nước. Tổ tiên chúng ta lấy Tiên và Rồng làm biểu tượng của cội nguồn dân tộc Việt Nam.

Người Việt mà có nhãn quan Tàu

Người mang cặp mắt kiến Tàu –không còn tâm Việt, hồn Việt- nhìn vào đời sống của người Việt Nam thấy cái gì cũng là Tàu hoặc chịu ảnh hưởng Tàu hay từ Tàu mà ra. Chẳng hạn, đến như học giả Nguyễn Hiến Lê, một khi đã đeo cặp mắt kiến Tàu cũng không giữ đuợc thái độ khách quan trong nhận định: Đối với dân tộc Di, Địch, Khổng Tử không có tinh thần phân biệt chủng tộc, mà chỉ phân biệt văn hóa như khi ông bảo không nhờ công của Quản Trọng thì người Hoa Hạ đã bị gióc tóc mặc áo có vạt bên trái rồi (Nguyễn Hiến Lê), Khổng Tử, nxb Văn Nghệ năm 1992, tr. 188, dòng 11 đến 15). Văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Vậy, kỳ thị phân biệt văn hóa mà không kỳ thị dân tộc, kỳ thị chủng tộc thì sao được?

Hơn nữa, Khổng Tử xem dân tộc Di tức Bách Việt là dân mọi rợ trong lời phát biểu của ngài: Cho đến nay dân chúng còn được hưởng ân đức của ông ấy. Không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và cài áo bên tả như người mọi rợ rồi (Nguyễn Hiến Lê, lịch sử văn minh trung Quốc, nxb Văn Nghệ năm 1993, trang 26, dòng 17 đến 19). Xem dân tộc Di là dân tộc mọi rợ mà cho rằng Khổng Tử không có tinh thần kỳ thị chủng tộc được sao?

Điều đó cho thấy trí thức khoa bảng Việt Nam, một khi đã có nhãn quan Tàu thì các ông thánh Tàu có miệt thị tổ tiên mình cũng cố tìm cách đổi chữ, hoặc bóp méo đi hay thay đổi lối suy nghĩ để nuốt cho trôi liều thuốc đắng ngõ hầu bảo vệ những thần tượng mà mình đã trót tôn thờ từ lâu.

Đối với 95% người dân Việt chất phác, hiền lương, thiện lành thì không có vấn đề. Còn giới trí thức khoa bảng trẻ Việt Nam, không đọc được chữ Tàu, hãy thận trọng trong khi nghiên cứu, tìm hiểu về Trung Quốc, phải đề cao cảnh giác những trí thức khoa bảng Việt Nam rành chữ Hán có thể họ bóp mép sự thật –vì vô tình bởi đầu óc bị điều kiện hóa bởi văn hóa Tàu hay có mưu đồ- sẽ đưa chúng ta vào con đường nô lệ tư tưởng Tàu với cách học nhập nô xuất nô. Như trên đã trình bày nô lệ tư tưởng là nô lệ từ trong tim óc, tức không còn tâm Việt hồn Việt. Từ đó phát sinh ra tinh thần vọng ngoại, sợ ngoại, trọng ngoại và ỷ ngoại để rồi giao sinh mệnh của dân tộc và đất nước mình cho ngoại bang.

Là người Việt Nam, nếu không sáng suốt trong suy nghĩ, trong hành động, trong cách học về Trung Quốc học vô tình chúng ta sẽ trở thành đoàn quân gián điệp văn hóa cho Trung Quốc.

Đã đến lúc chúng ta cần trở về với chính mình để hiểu rõ chân xác chính chính mình về mặt tri thức và tâm thức. Khi nhận rõ đích thực mình là lúc mở rộng tâm thức đi sâu vào ngôi nhà tâm linh Việt, ngõ hầu duy trì đồng thời phát huy dân tộc tính, hồn nước tức TÂM VIỆT HỒN VIỆT trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

VĨNH NHƯ

CUỘC XÂM LĂNG KHÔNG TIẾNG SÚNG

*********

Đọc thêm…

Tàu cộng: Chánh sách di dân và lấn chiếm biên giới

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẳng

Gần đây nhà cầm quyền Hà Nội quyết định miễn chiếu khán nhập cảnh cho khách du lịch người Trung Quoc khi vào Việt Nam. Đây là một quyết định đầy bất trắc cho tương lai dân tộc. Chúng ta hăy nhìn lại những gì Trung Quốc đă làm trong quá khứ với các nước láng giềng của họ trong chánh sách di dân và biên giới.

Trung Quốc và Liên Sô có chung chiều dài biên giới khoảng 4,300 cây số. Họ đă có một cuộc chiến đẫm máu vào năm 1969 giữa hai người đồng minh ruột thịt vì Trung Quốc đă xua quân chiếm vùng sông Amur của Liên Sô, mà họ cho là thuộc chủ quyền của họ. Liên Sô phải dùng đến hỏa tiển để tiêu diệt quân Trung Quốc. Sau đó hai người bạn tiêu biểu cho thành trì Xă Hội Chủ Nghĩa đă ký một hiệp định về biên giới năm 1977, nhưng Trung Quốc vẫn lén lút cho quân lính lấp đá và dồn bao cát bỏ xuống bờ sông Amur bên phía Trung Quốc để lấn ranh Liên Sô.

Khi Liên Sô xin gia nhập vào cơ quan Mậu Dịch Thế Giới (WTO), Trung Quốc chỉ đặt có một điều kiện duy nhất để hổ trợ Liên Sô đó là cho phép người lao động Trung Quốc được vào Liên Sô miễn chiếu khán nhập cảnh.

Một khi họ đă vào được Liên Sô, họ dùng mọi cách để ở lại hợp pháp. Ông Andrei Chernenko, vụ trưởng vụ Di Trú Liên Sô đă từng phát biểu rằng người Trung Quốc dùng mọi hình thức để hợp pháp hóa sự hiện diện của họ, chẳng hạn như kết hôn với người bản xứ, hoặc kinh doanh để tạo sản nghiệp lớn để dể dàng trong việc lưu trú vì tài sản lớn của họ.

Mặc dù đă ký kết hiệp định với Liên Sô, nhưng những vị lănh đạo của Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu B́nh vẫn khẳng định rằng vùng đất Vladivostok và Khabarovsk vẫn là của họ, và trong trường học họ vẫn tiếp tục dạy học sinh rằng Liên Sô đă dung bạo lực chiếm những vùng đất trên của họ.

Hơn thế nữa, họ đưa ra những bằng cớ về Nhân Chủng Học để chứng minh rằng những bộ lạc Trung Hoa có mặt ở đó rất lâu trước khi người Liên Sô tới.

Sự di dân của người Trung Quốc qua đường biên giới vẫn là nổi ám ảnh của chính quyền Liên Sô. Theo ước tính của các chuyên gia thì đến năm 2010 dân số Trung Quốc tại vùng Cận Đông của Liên Sô sẽ lên đến 10 triệu người (hiện tại khoảng 3, 26 triệu) và kiểm soát từ 30 đến 40 phần trăm nền kinh tế của vùng nầy. Vì vậy gần đây ông Viktor Ishayev, toàn quyền vùng Khabarovsk quyết định không cấp quyền công dân cho người Trung Quốc dù đă kết hôn với người Liên Sô tại địa phương ông, mặc dù người ngoại quốc khác được hưởng quyền nầy.

Với Ấn Độ, bắt đầu từ năm 1950 đă có những sự căng thẳng giữa hai quốc gia, nhất là vào những năm 1956-1957 khi Trung Quốc xây dựng trục giao thông quân sự trên vùng đất đang tranh chấp Aksai, phía tây Tân Cương. Ấn Độ lên án Trung Quốc xâm lăng vùng đất nầy của họ. Tiếp theo là cuộc đàm phán giữa đôi bên kéo dài trong ba năm không mang lại kết quả nào cả. Tháng Mười năm 1962 Trung Quốc đưa chín sư đoàn chiếm đóng dọc theo biên giới 3,225 kí lô mét vùng biên giới Hy Mă Lạp Sơn và Trung Quốc. Hai nước đă nổ ra một cuộc đụng độ về biên giới rất khóc liệt. Kết qủa là Trung Quốc đă đẩy lùi Ấn Độ sâu 50 kí lô mét vào vùng đất Aksai mà Ấn Độ cho là thuộc chủ quyền của họ, và Trung Quốc đơn phương tuyên bố ngưng chiến. Mười hai năm sau khi ngưng chiến, một cuộc họp song phương cao cấp về biên giới giữa hai quốc gia được tổ chức tại Tân Đề Ly (Ấn Độ) vào tháng Hai năm 1994. Một giai đoạn mới về sự bang giao giữa hai nước bắt đầu tuy vấn đề biên giới giữa hai nước vẫn xảy ra những mâu thuẩn gay gắt.

Với Mông Cổ, sau 11 năm làm chủ Hoa Lục, tháng Năm 1960, Thủ Tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc thăm Ulaanbaatar (U-Lan-Ba-To) của Mông Cổ để bàn về hiệp định hợp tác song phương, và cả hai bên đă đạt được một hiệp uớc về biên giới. Trong buổi tiệc khoản đải lănh đạo Mông Cổ tại Bắc Kinh ngày 27 tháng 12 năm 1960 Chu Ân Lai tuyên bố: “sự nhanh chóng giải quyết êm đẹp vấn đề biên giới giữa hai quốc gia không những đánh dấu sự cũng cố và phát triển t́nh hữu nghị giữa hai quốc gia, mà còn tạo gương sáng trong mối quan hệ giữa hai nước xă hội chủ nghĩa anh em”. Tiếc thay kỹ nguyên hợp tác thân thiện nầy tồn tại không lâu.

Mặc dù hiệp định về biên giới được ký kết chính thức năm 1962, nhưng măi đến 1982 mới được thực hiện. Trong khoảng thời gian 20 năm đó Trung Quốc luôn tìm cách lấn biên giới và cho di dân sang Mông Cổ. Năm 1981 dấy lên phong trào trục xuất người Trung Quốc ra khỏi Mông Cổ đă bùng nổ. Thêm vào đó, Liên Xô tố giác Trung Quốc đă vi phạm hiệp định về biên giới với Mông Cổ tất că hơn 400 lần chỉ riêng trong năm 1969. Tờ New York Times, ngày 27 tháng 5 năm 1983 chạy trang đầu tin Mông Cổ trục xuất nhiều ngàn công nhân Trung Quốc ra khỏi nước họ. Ngày 2 tháng 9 năm 1964, tờ Pravda, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cộng sản Liên Xô loan tin rằng Mao Trạch Đông rất hối tiếc vì không tranh thủ được sự đồng tình của Liên Xô để Trung Quốc chiếm Ngoại Mông. Trung Quốc, một quốc gia rộng mênh mông, nhưng người cầm quyền của họ luôn luôn tìm cách lấn chiếm lân bang mình dù chỉ năm, mười ngàn cây số!

Với Bắc Hàn, trong hai điện tín gởi cho Stalin vào tháng 10 năm 1950, Mao Trạch Đông khẳng định rằng nếu toàn bộ Đại Hàn bị Mỹ chiếm đóng, và lực lượng cách mạng Đại Hàn bị hủy diệt, bọn xâm lược Mỹ thêm kiêu căng, và toàn bộ vùng bắc Á sẽ bất lợi cho chúng ta (Liên Xô và Trung Quốc). Sau khi thấy Stalin ngần ngại trong việc gởi không lực yểm trợ, Mao kết luận rằng chúng ta phải tham chiến, tham chiến sẽ rất có ích lợi và ngược lại sẽ rất tai hại. Mao không ngần ngại tuyên bố mục tiêu của Trung Quốc trong việc xua quân chiếm Bắc Hàn là không những bảo vệ biên giới và cứu giản chế độ Bình Nhưỡng. Mao hứa với Stalin là sẽ gởi 12 sư đoàn vào Bắc Hàn vào tháng 10 năm 1950 và sẽ tiếp tục gởi thêm 24 sư đoàn nửa vào mùa xuân và hè năm 1951.

Với chiêu bài “Mặt Trận Giải Phóng” của thế giới, Mao quyết định chiếm Bắc Hàn để bảo vệ mặt trận giải phóng của xứ nầy, bảo vệ cả mặt trận giải phóng Trung Quốc và thế giới nửa. Mao lạc quan tin rằng Hoa Kỳ sẽ bị bại trận tại Bắc Hàn, hậu quả sẽ thuận lợi cho mặt trận giải phóng quốc tế. Rõ ràng là Trung Quốc nhận ra cuộc chạm trán giữa họ và Hoa Kỳ là không thể tránh được, nhất là khi hạm đội thứ bảy của Hoa Kỳ bắt đầu bỏ neo ngoài khơi Đài Loan trong lúc quân đội Liên Hiệp Quốc can thiệp vào cuộc chiến Triều Tiên. Họ muốn đem chiến tranh ra ngoài nước họ và Bắc Hàn là nơi Trung Quốc lựa chọn cho cuộc chiến. Tóm lại, mục tiêu của họ khi xua quân vào Bắc Hàn không phải vì bảo vệ nước xă hội chủ nghỉa anh em, mà là chiếm nước anh em làm chiến trường để đọ sức với địch thủ. Họ luôn coi các nước láng giềng là “ao nhà” và có quyền xử dụng vào bất cứ mục tiêu nào họ muốn.

Với Tây Tạng, sau khi chiếm được Hoa Lục vào năm 1949, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc lập tức đ̣i Tây Tạng phải chấp nhận (1) quốc phòng của Tây Tạng phải do Trung Quốc kiểm soát, (2) Tây Tạng là một bộ phận của Trung Quốc. Dĩ nhiên đề nghị phi lý nầy không được chấp nhận. Liền sau đó, ngày 7 tháng 10 năm 1950 Trung Quốc xua 40,000 quân đánh chiếm Chamdo, thủ đô miền nam Tây Tạng. Mặc dù Ấn Độ, Hoa Kỳ, Anh Quốc cùng một số quốc gia khác phản đối quyết liệt. Trung Quốc không những làm ngơ mà còn thách thức quốc tế bằng cách đưa thêm một quân đoàn tiến vào thủ đô Lhasa vào ngày 9 tháng 9 năm 1951. Lần lượt các thành phố khác của Tây Tạng rơi vào tay quân Trung Quốc. Mặc dù Tây Tạng đă anh dũng tạo ra hai cuộc khởi nghĩa vào các năm 1956 và 1959, nhưng tất că đều bị quân Trung Quốc đè bẹp. Kết quả là hơn hai chục ngàn người Tây Tạng bị giết, khoảng 80 ngàn người cùng Đức Dalai Lama phải lưu vong sang Ấn Độ.

Sau hai thập niên bi thống trị bởi Trung Quốc, khoảng 1.2 triệu người Tây Tạng, tức 20% dân số đă bỏ mình trong các trai tù hoặc tại các nông trường tập thể, hoặc bị thủ tiêu. Nhiều tù nhân bị bỏ đói đến chết. Hơn 6,000 cơ sở văn hoá, đền đài, chùa chiền, tu viện bị phá hủy. Để duy trì lực lượng thống trị tại Tây Tạng khoảng 300,000 binh sĩ và công an, phần lớn lương thực bị thu mua, vì thế đă gây ra hai nạn đói vào các năm 1958-1961 và 1966-1976.

Nhưng âm mưu thâm độc nhất vẫn là chánh sách đồng hoá cố hữu mà họ đă từng áp dụng không thành công tại Việt Nam khi họ đô hộ ta hàng ngàn năm trước. Họ đưa đến Tây Tạng khoảng 7,5 triệu người Trung Quốc, vượt xa dân số Tây Tạng khoảng nửa triệu. Người Tây Tạng trở thành dân thiểu số ngay trên chính quê hương cuả họ. Họ thống trị Tây Tạng không những về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá và xă hội, mà còn ngự trị về mặt ngôn ngữ, vì ngôn ngữ chính thức là tiếng Trung Hoa, và Tây Tạng chỉ là ngôn ngữ địa phương.

Tây Tạng là bài học xương máu mà nhà cầm quyền Hà Nội phải học để bảo đảm sự tồn tại, độc lập của đất nước.

Với Việt Nam, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, tổ tiên chúng ta trải qua muôn vàn khó khăn với nước lân bang khổng lồ Trung Quốc. Với quan niệm Bắc địch, Tây rợ, Đông di, Nam man, các triều đại vua chúa Trung Quốc luôn đánh phá, gây bất ổn để đồng hoá, hoặc thôn tính Việt Nam. Cộng Sản Trung Quốc giữ nguyên quan niệm Đại Hán lạc hậu đó.

Chỉ kể trong lịch sử cận đại, hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc rất thân thiện trong thời gian Việt Nam chống Pháp, nhưng sau khi Stalin qua đời, người kế vị là Khrushchev, quan niệm về cộng sản của ông khác hẳn, nhất là với Mao Trạch Đông, từ đó đưa đến tình trạng căng thẳng giữa hai đảng cộng sản anh em . Kể từ đó Việt Nam thân Liên Sô hơn Trung Quốc. Nắm cơ hội nầy, Liên Sô viện trợ nhiều cho Việt Cộng để chống Pháp, và hé lộ ý đồ giúp Việt Nam trở thành cường quốc cộng sản trong vùng Đông Nam Á. Trung Quốc rất khó chịu khi nhận ra điều nầy vi phía bắc của họ là Liên Sô, nếu phía nam Việt Nam trở thành cườnng quốc thì họ bị kẹt vào chính giũa, sẽ chận thế phát triển của họ về phía nam.

Phản ứng đầu tiên của Trung Quốc là bắt đầu liên hệ với Hoa Kỳ vào cuối năm 60, đầu năm 70 trên cấp bực cao với ngoại trưởng Henry Kissinger và rồi với Tổng Thống Nixon. Cùng lúc đó họ bắt đầu hổ trợ cho Cam Pu Chia dưới sự lănh đạo của Pol Pot vì ý thức hệ cộng sản, nhưng trên thực tế, họ muốn cô lập Việt Nam với Trung Quốc về phía bắc và Campuchia ở hướng tây.

Khi Khmer Đỏ của Pol Pot nắm quyền, họ bắt đầu đò lại lảnh thổ mà họ cho là Việt Nam đă chiếm trong quá khứ. Bị từ khước, Pol Pot bắt đầu tàn sát Việt Kiều ở Campuchia, và hổ trợ cho du kích đánh phá Việt Nam ở phía tây vào năm 1978 (theo Wikipedia, Google). Nắm lấy cơ hội nầy, Liên Sô giúp Việt Nam đánh chiếm Campuchia, trước hết để loại trừ ảnh hưởng Trung Quốc tại đây, và để chứng minh với đám cộng sản đàn em là theo Liên Sô có lợi hơn là theo Trung Quốc. Việt Nam cũng nhận thấy rằng đây là cơ hội, vì Lào đă theo Liên Sô, nếu lật đổ được Pol Pot lập chánh phủ bù nhìn th́ì Việt Nam sẽ trở thành cường quốc cấp vùng ở Đông Nam Á. Vào ngày 7 tháng Giêng 1979, Việt Nam xua quân chiếm Phnom Penh, chấm dứt chế độ Khmer Đỏ và lập lên chánh phủ bù nhìn thân Việt Nam.

Để trả đủa, ngày 15 tháng Hai năm 1979 Trung Quốc công khai tuyên bố hiệp định giửa Trung Quốc và Liên Sô hết hiệu lực, và họ có quyền gây chiến tranh với đồng minh của Liên Sô vì Việt Nam ngược đải Hoa Kiều và họ dùng chiêu bài bảo vệ kiều dân để gây chiến với Việt Nam. Hai ngày sau họ đưa 120 ngàn Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đánh chiếm các tỉnh Cao Bằng, Lao Cai, và Lạng Sơn vào sâu trong lănh thổ Việt Nam 30 cây số. Ngày 6 tháng Ba họ đơn phương tuyên bố nhiệm vụ “dạy cho Việt Nam một bài học” đă hoàn tất, và đơn phương rút quân. Và ngày 16 tháng Ba họ đă hoàn toàn triệt thoái khỏi biên giới Việt Nam.

Qua những sự kiện nêu trên ta thấy Trung Quốc luôn tìm cách di dân họ, lấn biên giới, và dùng kiều dân như một loại vũ khí để xâm lăng các nước láng giềng khi cần. Với những nước yếu kém, họ coi như là “sân sau” của họ và sẵn sàng dùng vũ lực để xử dụng theo nhu cầu chiến lược.

Chúng ta đều biết rằng con số người Trung Quốc hiện đang sinh sống tại Việt Nam không ít, và họ chiếm ưu thế trong lănh vực kinh tế. Nay cho phép người Trung Quốc vào Việt Nam không cần chiếu khán nhập cảnh sẽ tạo cơ hội cho một số trong đám họ ở lại, dù bất hợp pháp, điều ấy gây muôn vàn khó khăn cho đồng bào ta trong lănh vực kinh tế, đó là chưa kể đến vấn đề an ninh, chính trị.

Quyết định trên của nhà cầm quyền Hà Nội hết sức sai lầm, vô tình, hay hữu ý thực hiện chánh sách di dân của nhà cầm quyền Trung Quốc mà họ không tốn cống sức đòi hỏi, hoặc trả giá để có được như họ đă từng làm với Liên Xô hoặc với các nước khác. Khi có nhiều cư dân Trung Quốc trên lănh thổ Việt Nam đó là một trong nhiều nguyên cớ để họ dùng để xâm lấn ta khi họ có nhu cầu. Đành rằng họ có thể viện bất cứ nguyên nhân nào, nhưng chúng ta không nên tạo thêm nguyên nhân giúp họ.

Ngày nay Trung Quốc là một quốc gia hùng cường về kinh tế và quân sự đuợc cai tri bởi chế độ bá quyền đầy tham vọng, đó là hiểm họa cho thế giới nói chung và cho Việt Nam nói riêng. Nhà cầm quyền Hà Nội phải sáng suốt nhận ra cái hoạ mất nước từ Trung Quốc.

Vì quyền lợi tối thượng của dân tộc, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải mạnh dạn, nhanh chóng rút lại lệnh trên trước khi chánh quyền Trung Quốc lợi dụng nó gây bất lợi lâu dài cho dân tộc. Làm được việc nầy đảng cộng sản Việt Nam ít nhất còn có được một lần tuyên truyền với đồng bào rằng họ tranh đấu để bảo vệ quyền lợi dân tộc, và họ không phải là đấy tớ suốt đời của Trung Cộng.

Nhà cầm quyền Hà Nội luôn miệng hô hào hăy khép lại quá khứ thù nghịch, cùng nhau bắt tay xây dựng lại đất nước. Nhưng nghịch lý thay với người Trung Quốc đến Việt Nam thì được miễn chiếu khán nhập cảnh, còn người Việt Nam sống ở nước ngoài khi về thăm quê hương thì những khúc ruột ngàn dậm nầy bắt buộc phải có chiếu khán nhập cảnh. Người cộng sản Việt Nam nói một đàng, làm một nẻo. Không biết bao giờ họ mới bắt đầu sự chân thật và chấm dứt sự lừa dối. Họ vẫn tiếp tục nuôi dưởng thái độ thù nghịch với chính đồng bào của họ..

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẳng

Tài liệu tham khảo:

* Barnard, Calvin, J. Lieutenant Commander, U.S. Navy, The China- India Border War 1962, Marine Corps Publisher.
* Department of State, International Boundary Study, No 173, August 14, 1984.
* Nguyễn Quốc Khải, Liệu Tây Tạng.., Người Việt, số 7280, ngày 12/11/05.
* Sheng, Micheal M. Korea and World Affairs, Vol. XIX, No. 2, Summer 1995.
* World Press Review, No 12, Vol 50, December 2003.

BÁNH VẼ VỀ “AN SINH VÀ PHÚC LỢI XÃ HỘI” CỦA THỦ TƯỚNG CSVN NGUYỄN TẤN DŨNG

Hà Long
Sáng ngày 25/8/2010 cơ quan tối cao của cánh nhà báo gồm 700 tờ nhật báo đi theo lề phải và hơn 65 đài phát thanh phát hình, Cổng thông tin điện tử chính phủ đăng tải bài viết dài 2 trang của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đọc trước toàn dân qua kênh truyền hình nói về an sinh và phúc lợi xã hội với tựa đề thật dài: „Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020″

Những trang báo chưa kịp ráo mực thì nhiều giới mấp mé ven theo lề trái phản công tới tấp, điển hình Blogger Trương Duy Nhất phê bình „thẳng ruột tượng“ trong trang Blog của ông: „Một bài viết loằng ngoằng kín đặc 2 trang của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên hầu hết các tờ nhật báo sáng nay. Báo nào báo nấy đăng i hệt nhau, không sai một dấu phẩy. Thấy… nực cười!“

Trước tiên chúng ta tìm hiểu về an sinh và phúc lợi xã hội được định nghiã cho đúng vị trí như thế nào.

– Theo tự điển Wikipedia, an sinh xã hội chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ. Cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do người sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến an sinh xã hội.

– Còn phúc lợi là hạnh phúc và lợi lộc, rộng hơn chính là quyền lợi về vật chất mà nhà nước hay đoàn thể bảo đảm cho công nhân và viên chức được hưởng. Tóm gọn là lợi ích được hưởng, mà người khác không được xâm phạm đến.

Quá tốt đi chứ! thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bỗng yêu thương người dân đột phát, ông ta bỗng nhiên động lòng trắc ẩn đến hơn 80 triệu dân mà phần đông lúc nào cũng phải trông chờ chính sách xóa đói giảm nghèo, hoặc luôn thuộc vào diện như một bài trường ca dài muôn thuở: dân tộc ta còn nghèo đói.

Hình như ông trời làm ngược lại ý của thủ tướng bằng những cơn giông bão lên đến cấp 10, 11 thổi vào Thanh Hóa, Nghệ An trong lúc ông Dũng đang nói dai nói dài và nói dở từ „bài viết loằng ngoằng kín đặc 2 trang“ về an sinh và phúc lợi xã hội. Người dân lúc ý chỉ chờ một câu từ cửa miệng ông Dũng, động lòng nói đến nỗi khổ của dân nghèo đang mất nhà, đồng ruộng tan hoang và phải sống với lũ. Được như vậy, ít nhất họ cũng nhận được một chút an ủi từ cơ chế an sinh, cho dù mắt họ chưa bao giờ thấy. Blog Nguyễn Thế Thịnh đi ngay vào trung tâm vấn đề vào ngày 25/8/2010: „Bão lụt đang tàn phá bắc miền Trung, rất nhiều vấn đề bạn đọc quan tâm theo dõi, các đồng chí lãnh đạo qua đó cũng thấy được nhiều vấn đề phát sinh ở cơ sở để kịp thời chỉ đạo. Nhà tôi mà ở trong vùng bão lụt, cầm tờ báo lên, tôi cũng sẽ nói: An sinh xã hội cái gì, đang chằng chống nhà cửa, đắp đê cứu lúa đây này! Tức là đề cập đến thời điểm. Trong tuyên truyền, thời điểm rất quan trọng. Đó là sự thật, dù nhiều người biết nhưng không nói ra.“

Tiếp theo, ngày 26/8/2010 trong trang mạng Bauxite Việt Nam người dân đọc được bức thư ngỏ của TS Vũ Triệu Minh gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: „Thưa ông Thủ tướng, Trong khi không thấy cập nhật tin tức gì về sự tàn phá của cơn bão số 3, sáng nay ngày 25/8/2010 hầu hết các tờ nhật báo ở Việt Nam đều đăng một bài viết của Thủ tướng dài kín đặc 2 trang giấy. Báo nào báo nấy đều đăng y hệt nhau không sai đến một dấu phẩy. Tôi không hiểu có được bao nhiêu người đọc hết bài báo này. Tôi cũng xem lướt thôi và thấy trọng tâm của bài báo là ca ngợi những thành quả của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong 10 năm qua (2001-2010). Xin trích nguyên văn một đoạn: `Đến nay công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giá cao: số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn khoảng 10% (năm 2010); chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần (năm 1999) xuống còn 2 lần (năm 2008). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt`”.

Tiếp theo TS Vũ Triệu Minh chất vấn thủ tướng về những con số thống kê: „Xin hỏi ông Thủ tướng (vì không biết ai viết hộ ông) rằng có phải ông đang lấy chuẩn nghèo theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005″, thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo?

Theo cách tính này thì đến năm nay (2010) chỉ còn có 10% dân số Việt Nam là nghèo vì có thu nhập dưới 1 triệu đồng một năm. Như vậy cho phép tôi được ước lượng rằng người nghèo ở Việt Nam sẽ có thu nhập thực tế khoảng 500 ngàn đồng một năm (tôi lấy trung bình 50% của 1 triệu đồng). Như vậy, để xóa nghèo cho họ, chúng ta phải giúp họ thêm 500 ngàn đồng một năm nữa chứ gì? Chỉ trong một chớp mắt, mỗi người dân Việt Nam phải trả nợ cho Vinashin của ông một triệu đồng đấy. Số tiền này đủ để ông xóa nghèo cho toàn dân Việt Nam trong vòng 20 năm.“, hết trích!

Ối chao, dữ liệu do TS Minh đưa ra vẫn còn nóng hổi chưa kịp cất vào ngăn tủ của chương trình xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005, tạm gọi chưa kịp giảm nghèo lại còn nghèo thêm vì bị è cổ trả nợ cho Vinashin.

Điều này cho thấy chính sách của thủ tướng Dũng đang làm đảo ngược lại chương trình quốc gia đại sự của ông: nghèo mà vẫn bị bóc lột bởi nhà nước.

Ai đang hưởng cơ chế an sinh và phúc lợi xã hội của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng?
Theo định nghĩa về cơ chế an sinh và phúc lợi xã hội nhắc ở trên thì toàn dân có thể đồng lòng với một tiếng nói: đó là 3.000.000 đảng viên với những quyền lợi vô cùng to lớn, các thành phần từ trung ương đến tỉnh thành và nông thôn. Chúng bám chặt vào cơ chế này giống như một loại đỉa dai hút máu con người. Chẳng xa lạ gì, cứ nhìn về quê hương của thủ tướng Dũng tại Rạch Giá với nhà thờ tổ thờ gia tộc của ông thì rõ, cơ ngơi này giá trị trên 40 tỷ đồng, theo định giá trị của 2 năm trước. Nếu được nhắc thêm về tài sản do quan hệ gia đình ông Dũng đang quản lý, đó là: bệnh viện tư nhân, nhà hàng, khách sạn, kinh doanh bất động sản, kinh doanh công ty xe tắcxi, tàu biển, xăng dầu, v.v…

Nhơn nhởn ngoài đường của giới hưởng cơ chế an sinh và phúc lợi xã hội được nhìn thấy từ viên cảnh sát đứng đường, nhân viên thu thuế chợ rồi đến chủ tịch thôn, xã, tỉnh thành. Chỉ hình dung ra một vườn rau trên lầu cao của nguyên tổng bí thư đảng CSVN, ông Lê Khả Phiêu với vốn đầu tư không dưới 20.000 Đôla Mỹ vì một lý do không muốn ăn rau bẩn bên ngoài sợ ngộ độc hóa chất, thì thấy rằng quan viên chức nhà nước csVN muốn tận hưởng cơ chế an sinh và phúc lợi đúng mức tuyệt vời của nó.

Các ví dụ cụ thể đập vào mắt dân hằng ngày như thế, những lời vàng ngọc của ông Dũng chẳng khác nào so sánh trời và đất, an sinh hưởng phúc lợi và nghèo khó cách xa vời vợi. Blogger Trương Duy Nhất đã phải thốt lên: Nhìn đã ức rồi, huống chi đọc! (những lời của ông Dũng).

Nhìn toàn cảnh an sinh xã hội tại Việt Nam ai chẳng bức xúc, tác giả có nickname Sơn Tam đảo ủng hộ cách nhìn của Trương Duy Nhất: „An sinh gì mà toàn quốc cứ phải chạy ra đường. Nếu an sinh, phúc lợi tốt thì những người thất nghiệp được trợ cấp sẽ ít phải nhất quyết xuống đường như vậy, có thể họ sẽ yên tâm thanh bần ở làng quê và suy nghĩ gì đó… đằng này già trẻ lớn bé ra đường, về thủ đô và chất đống ở đó rồi lại phải nghĩ cách dời đô lên non. Thu hút, thu hút bán hết bán hết rồi lên non ở, chẳng khác nào bán đất đi mà ăn. Nhân dân lúc nào cũng chạy nháo nhào theo các dự án phá dỡ di dời. Phần lớn người ta về thành phố là để ăn theo trung tâm chính trị ăn bám, nếu TT ấy đi thì họ cũng sẽ theo… rồi lại dời dời chuyển chuyển nữa chẳng biết đường nào mà lần, chẳng có văn hoá địa phương nào nữa vì sự say trộn của quốc gia, chỉ có gà vịt cứ nhớn nhác nhớn nhác trên vườn của chính mình mà thôi. Nhìn chung thì chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa tư bản hiện đại cho các mẫu quốc của nó bằng cách bóc lột nhau và nộp sưu (bằng du học, bằng vay ODA, bằng du lich…) họ bây giờ chẳng cần đặt bản doanh ở bản địa nữa, chúng ta tự băm chém nhau vì tiền của họ (không hề vì tiền của ta, vì nếu của ta thì sau một thời gian phải có vật chứng nhìn được) là đủ rồi.“

Tiếp theo nickname „khóc rùi nè“ cho thấy chính sách của thủ tướng Dũng về an sinh được thực hiện qua cưỡng bách cướp đi ngày công của các lao động nghèo: „Anh Nhất ơi, chả biết an sinh và phúc lợi thế nào chứ mỗi lần hạn hán lũ lụt, bọn công chức chúng em thương đồng bào thế nào lại lo cho thân mình thế ấy, lương ba cọc ba đồng, thỉnh thoảng lại trừ một ngày lương vì quỹ nọ quỹ kia (vận động một cách bắt buộc anh à). Mỗi lần có thiên tai, hạn hán, tai nạn lớn chúng em lại “phải” tự nguyện ủng hộ ít nhất một ngày lương. Ủng hộ bà con, lá lành đùm lá rách thì có sao đâu anh, nhưng đôi khi thấy bà con mình bị mang lên truyền hình làm cớ để “gom bạc lẻ” thấy tội quá anh à, lại nghĩ thân mình lương chả đủ ăn, phải ăn bám thêm bố mẹ mà cũng “vung tay” ủng hộ, chả biết tiền an sinh và phúc lợi nhà nước cất đâu mà cứ phải hô hào quyên góp thế này, tội cả người cho và người nhận anh ơi… (nói rồi nghĩ lại, tự xỉ vả mình, thì công chức mình cũng đang sống bằng tiền thuế của bà con đấy thôi, bớt ra một tí có sao, dưng mà, tiền thuế của bà con, sức lao động của bà con, trong đó có cả mình, cũng có mô có phần cho an sinh và phúc lợi rồi mà), chỉ mong sao chiến lược của bác Dũng bác khỏe chi đó làm cái an sinh chi đó để cái sự ủng hộ tự nguyện nó là tự nguyện anh ơi…“

Cuối cùng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 dài loằng ngoằng kín đặc 2 trang của thủ tướng Dũng làm cho dân Blogger rù rì mấy ngày qua: „Có đọc cũng chả hiểu viết gì nói gì!“

Việc gì thì việc, làm gì thì làm, những nghị định của thủ tướng Dũng đưa ra cho dù „dài loằng ngoằng“ hoặc „ngắn cụt ngủn“ thì theo thói quen trong cuộc bàn thảo của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chiều 21/8 đã làm cho tờ báo VietnamNet phải đưa tin với hàng tít lớn: „Nhiều việc, Thủ tướng chỉ đạo cũng không ai giải quyết“ (Botay.com)!

Kết thúc bài viết này, người viết mạn phép ghi lại bài thơ trào phúng mới được sáng tác ngày 27/8 với tựa đề: „Nếu không có lũ tham quan“, của Bành Thanh Bần trong trang nhà Trannhuong, khi tác giả cảm tác lúc đọc bài viết: “Thư ngỏ của T.s Vũ Triệu Minh gửi: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” được phát hành trên trang mạng Bauxite Việt Nam.

Hộ nghèo năm hai linh hai *
Chiếm 29% phần trăm
Đúng? Sai? Ai tường?
Năm nay giảm xuống thấp hơn (10%)
Giảm 19% phần trăm nữa…
thành luôn nước giầu!
Mười lăm năm nữa lâu đâu…
Hộ nghèo hết nhẵn
Dân giầu… “dã man”!
Nếu không có lũ quan tham
Từ Thôn, Xã đến Trung Ương… đốn đời…
Toàn dân Việt đã giầu rồi
“Giầu nứt đố… đổ cả trời” cũng nên!
Thôi thì mang kiếp dân đen!
Cố gắng mà sống để xem sau này?
Biết đâu vận nước đổi thay?
Dẫu chờ mấy chục năm nay… hãy chờ!!!

(Ngày 27/8/2010 – Bành Thanh Bần)
Em Bé Lên Sáu Tuổi

Hoàng Cầm

Em bé lên sáu tuổi

Lủi thủi tìm miếng ăn

Bố: cường hào nợ máu

Đã trả trước nông dân

Mẹ bỏ con lay lất

Đi tuột vào trong Nam

Từ khi lọt lòng mẹ

Ăn sữa, ngủ giường êm

Áo hoa lót áo mềm

Nào biết mình sung sướng

Ngọn sóng đang trào lên

Ai nghĩ thân bèo bọt

Nhưng người với con người

Vẫn sẵn lòng thương xót

Có cụ già đói khổ

Lập cập đi mò cua :

Bố mẹ nó không còn

Bỗng thương tình côi cút

Cụ nhường cho miếng cơm

Chân tay như cái que

Bụng phình lại ngẳng cổ

Mắt tròn đỏ hoe hoe

Đứng nhìn đời bỡ ngỡ :

– “Lạy bà xin bát cháo

Cháu miếng cơm, thầy ơi!”

Có một chị cán bộ

Đang phát động thôn ngoài

Chợt nhìn ra phía ngõ

Nghe tiếng kêu lạc loài

Chị rùng mình nhớ lại

Năm đói kém từ lâu

Chỉ mới năm tuổi đầu

Liếm lá khoai giữa chợ

Chạy vùng ra phía ngõ

Dắt em bé vào nhà

Nắm cơm dành chiều qua

Bẻ cho em một nửa

Chị bần cố nông cốt cán

Ứa nước mắt quay đi :

– “Nó là con địa chủ

Bé bỏng đã biết gì

Hôm em cho bát cháo

Chịu ba ngày hỏi truy “

Chị đội bỗng lùi lại

Nhìn đứa bé mồ côi

Cố tìm vết thù địch

Chỉ thấy một con người

Em bé đã ăn no

Nằm lăn ra đất ngủ

Chị nghĩ : “Sau lấy chồng

Sinh con bồng bụ sữa”

Chị phải đình công tác

Vì câu chuyện trên kia

Buồng tối lạnh đêm khuya

Thắp đèn lên kiểm thảo

Do cái lưỡi không xương

Nên nhiều đường lắt léo

Do con mắt bé tẻo

Chẳng nhìn xa chân trời

Do bộ óc chây lười

Chỉ một màu sắt rỉ

Đã lâu nằm ngủ kỹ

Trên trang sách im lìm

Do mấy con người máy

Đầy gân thiếu trái tim

Nào “liên quan phản động”

“Mất cảnh giác lập trường”

Mấy đêm khóc ròng rã

Ngọn đèn soi tù mù

Lòng vặn hỏi câu hỏi :

“Sao thương con kẻ thù?

Giá ghét đươ.c đứa bé

Lòng thảnh thơi bao nhiêu!”

Hoàng Cầm

Chủ tịch Bắc Hàn bí mật rời khỏi Trung Quốc

RFA 28.08.2010

Chủ tịch Kim Jong-il của Bắc Hàn đã bí mật rời khỏi Trung Quốc sau ba ngày viếng thăm. Chuyến trở về của ông Kim cũng bí mật như khi ông tới Trung Quốc ba ngày trước đây.

Chuyến xe lửa bọc thép đặc biệt đã chở Chủ tịch Kim Jong-il về nước. Thông tin cho biết Kim Jong-il không đi đến tận Bắc Kinh, nhưng đã gặp chủ tịch Hồ Cẩm Đào; một cuộc gặp gỡ đặc biệt trong bối cảnh lãnh đạo Bình Nhưỡng chuẩn bị nhường chiếc ghế lãnh tụ cho con trai út. Một số viên chức Nam Hàn cho rằng Kim Jong-il đã được chủ tịch Hồ Cẩm Đào cam kết viện trợ kinh tế cũng như đứng sau lưng trong các vấn đề ngoại giao.

AFP trích dẫn hãng thông tấn Yonhap cho biết vào lúc 9 giờ sáng thứ bảy hôm nay, khoảng 20 chiếc xe của phái đoàn Bắc Triều Tiên được 10 xe an ninh Trung Quốc hộ tống đi về hướng đại học nông nghiệp trước khi dừng lại một khách sạn để ăn trưa và sau đó rời đi.

Việc Bắc Kinh đón tiếp chủ tịch Kim Jong-il một cách trịnh trọng chứng tỏ Trung Quốc đang tìm cách cho Washington và Nam Hàn thấy rằng họ không bỏ rơi con cờ Bắc Triều Tiên để đối phó với Mỹ, một thế lực đang đe dọa quyền lực của Trung Quốc trong khu vực.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: