RSS

Hàng Hải và rễ bản-địa của Dân-tộc

19 Jul

Tác giả: Vũ Hữu San

Ý-Kiến Ông Nhượng Tống

Ông Nhượng-Tống, dịch-giả sách “Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư Ngoại-kỷ” của Ngô-Sĩ-Liên và các Sử-thần đời Lê, năm 1944, đã nhận-định rằng người Việt-Nam là giống dân Bách-Việt về miền Biển:

… Dân Bách-Việt chia ở hai miền; miền núi và miền biển. Trong đám dân miền biển có nước Việt đã từng diệt nước Ngô ở thời Xuân-Thu. Quốc-gia thứ hai được tổ-chức do dân miền núi là nước Nam-Chiếu. Mạnh-Hoạch, người đánh nhau với Khổng-Minh, chính là vị anh-hùng nước này. Một quốc-gia thứ ba nữa thành-lập, đó là nước Việt-Nam chúng ta. Trong ba nước ấy thì chỉ có nước ta còn đến ngày nay. Nước Việt, nước Nam-Chiếu đã lần lượt bị người Tàu chiếm-lĩnh và đồng-hoá.

Nói tóm lại, giống người Việt-Nam chúng ta ngày nay là giống thuộc dòng Bách-Việt về miền Biển và vẫn ở đất này. (Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư Ngoại-kỷ, Ngô-Sĩ-Liên và các Sử-thần đời Lê, Bản dịch của Mạc Bảo Thần Nhượng-Tống, 1944, Đại-Nam, California in lại, thập-niên 1990.)

Những giả-thuyết về nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam

Theo nhận-xét của Giáo-sư Nguyễn-khắc-Ngữ vào thập-niên 1980, vấn-đề nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam tuy đã được khá nhiều học-giả Việt-Nam cũng như ngoại-quốc bàn đến nhưng đến nay vẫn chưa có giả-thuyết nào được coi là vững-chắc. Ông chia các giả-thuyết này thành 4 loại tiêu-biểu:

– Giả-thuyết Con Rồng Cháu Tiên

– Giả-thuyết Bách-Việt

– Các giả-thuyết của các tác-giả Miền Nam

– Các giả-thuyết của các tác-giả Miền Bắc.

Sau đó, ông Ngữ đưa ra một giả-thuyết của chính ông. Trong cuốn sách “Nguồn Gốc Dân-tộc Việt-Nam” (viết tắt NGDTVN) xuất-bản ở Montréal năm 1985, ông cho rằng nguồn-gốc chính-yếu của nhân-chủng Việt là từ hải-đảo phương Nam:

-Sắc-dân đầu-tiên sống trên giải đất của chúng ta là giống Melanesian đã theo gió mùa đi vào.

-Sắc-dân thứ hai đến xứ ta là giống Indonesian từ Nam-Dương di-cư lên trong thời-kỳ băng-giá cuối cùng (cách đây từ 10.000 đến 50.000 năm.)

Những tài-liệu do ông đưa ra chứng-minh rằng người Việt và người Melanesian có cùng cơ-cấu tổ-chức gia-đình cũng như phong-tục tập-quán giống nhau, cùng với đặc-điểm nhân-hình gần gũi. Dù sau hàng ngàn năm đô-hộ của người Tàu, người Việt vẫn giữ được bản-sắc Melanesian của mình.

Học-giả Trần-Trọng-Kim viết về gốc-tích người Việt-Nam như sau:

“Theo những nhà kê-cứu của nước Pháp thì người Việt-Nam và người Thái đều ở miền núi Tây-Tạng xuống. Có người Tàu và Việt-Nam lại nói rằng nguyên khi xưa ở đất Tàu có giống Tam-Miêu ở, sau bị giống Hán-tộc đánh đuổi đi để chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng-Hà lập ra nước Tàu. Người Tam-Miêu phải ẩn núp vào rừng hay là xuống ở miền Việt-Nam ta bây giờ. Những ý-kiến ấy chưa có gì làm chứng cho đích-xác. Người Việt-Nam ta trước có hai ngón chân cái giao nhau, nên gọi là Giao-Chỉ, mà xem các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải loài Tam-Miêu.” (Việt-Nam Sử-Lược, quyển 1, Sài-Gòn, 1971 trang 5.)

Một giả-thuyết nữa là của ông Bình-Nguyên-Lộc trình-bày trong cuốn sách khảo-cứu khá lớn của ông, mang tựa-đề là “Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam”, Bách Bộc Sài-gòn, xuất-bản 1971. Tài-liệu này đã được bàn cãi nhiều trong mấy thập-niên vừa qua, có người chống, có người bênh.

Bài sơ-khảo này trình-bày lại một số ý-kiến của Ông Bình-Nguyên-Lộc và thêm một số giả-thuyết nữa về nhân-chủng Việt-Nam liên-hệ đến hàng-hải chưa biết đúng sai ra sao, nhưng tương-đối mới lạ.

Các cuộc xa lầy trên đường đi tìm nguồn gốc dân-tộc Việt-Nam

Theo Ông Bình-Nguyên-Lộc, trên đường đi tìm nguồn gốc dân-tộc Việt-Nam, thiên-hạ đã trải qua hai cuộc sa lầy rưỡi từ 1918 đến 1964, năm mà chúng tôi (lời Ông Bình) khởi thảo soạn sách NGDTVN:

1/ Sa lầy thứ nhứt của hai ông L. Aurousseau và H. Maspéro là chỉ dựa vào sử Tàu.

2/ Sa lầy thứ nhì của tất cả mọi người vì ngỡ rằng nguồn gốc dân ta ở tại giai-đoạn Đông-Sơn.

3/ Phân nửa một cuộc sa lầy thứ ba là không biết thuật-ngữ Indonesien có nghĩa là gì.

Cho đến năm 1964 thì đáng lý ra ta đã thoát khỏi được cuộc sa lầy thứ ba đó, nhưng ta vẫn không thoát…”

Và … cho đến khi chúng tôi hoàn-tất sách này, có nhiều học-giả cho rằng thuyết của Ông Bình-Nguyên-Lộc cũng … sa lầy.

Một ánh-sáng mới: công-trình của Bác-sỹ Trần-Đại-Sỹ

Bác-sỹ Trần-Đại-Sỹ là Giám-Đốc nghiên-cứu kiêm Giáo-Sư Cơ-quan Nghiên-Cứu Tổng-Hợp Y-học Âu-Á, Giáo-sư diễn-giảng khoa Lịch-sử và Triết-học Á-châu tại viện Pháp-Á. Ông đã trước-tác 20 tác-phẩm tổng-hợp y-học bằng Pháp-văn và rất nhiều sách bằng Hoa-văn, Việt-Văn, Trong những tác-phẩm của Ông, độc-đáo nhất là các bộ trường-thiên lịch-sử tiểu-thuyết: Anh-hùng Lĩnh-Nam, Động-đình hồ Ngoại-sử, Cậm-Khê Di-hận, Anh-hùng Tiêu-sơn, Thuận-thiên Di-sử, Anh-hùng Bắc-cương. Anh-linh Thần-võ, Nam-quốc Sơn-hà…

Trong thập-niên 1990, Bác-sỹ Trần-Đại-Sỹ cho biết trong khi khảo-cứu nguồn gốc tộc Việt, Ông đã dùng phương-pháp y-khoa nhiều nhất, và khoa-học mới đây.

Với lý-luận y-khoa, với anatomie, với lý-thuyết y-học mới về tế-bào, với những khai-quật của người Pháp tại Đông-Dương, của Việt-Nam, của Trung-Quốc cùng hệ-thống máy móc tối-tân đã giúp tôi (lời Ông Sỹ) phân-loại xương sọ, xương ống quyến, cùng biện biệt y-phục của tộc Hoa, tộc Việt, rồi đi đến kết-luận về lãnh-thổ nước Văn-Lang tới hồ Động-Đình.

Vị Bác-sỹ này nhắc lại lời tuyên-bố của các giáo-sư đồng-nghiệp khi hay biết công-trình của Ông như sau: “Từ nay không còn những giả-thuyết về nguồn-gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc tìm kiếm của Ông.” Theo lời chú-thích của bài “Biên-Cương nước Cổ Việt”do Ông viết thì “chính công-trình nghiên-cứu của tác-giả đã kết-thúc cuộc tranh-luận 90 năm qua về Nguồn-gốc Dân-tộc Việt-Nam.

Tóm tắt kết-quả công cuộc tim kiếm của Bác-sĩ Trần-Đại-Sĩ như sau:

– Nguốn gốc tộc Việt , lĩnh-thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ-học.

– Các nhá cổ-học coi lĩnh-thổ Việt bao gồm phần phía Nam sông Trường-Giang, lấy mốc là hồ Động-Đình. Tộc Việt sống rải rác tờ phía Nam sông Trường-Giang xuống mãi vịnh Thái-Lan

-Sau này tộc Việt, tộc Mã đã giao-tiếp với nhau ở vùng Kampuchea, Nam Việt-Nam. Tộc Việt hỗn-hợp với tộc „n ở phía Tây Thái-Lan

-Giống Thái, một trong Bách-Việt chính là tộc Thái từ Tượng-quận, Bắc-Việt di-chuyến xuống lập ra nước Lào, nước Thái.

-Người Việt từ sông Trường-Giang, từ Phúc-Kiến đi xuống Bắc-Việt, không có nghĩa ở Bắc-Việt không có giống Việt, phải đợi họ di-cư xuống mới có. Mà có nghĩa là người Việt di-chuyển trong đất Việt. (Việt-Nam Đệ Ngũ Thiên kỷ, USA, 1994, trang 215-241.)

Các nguồn gốc khác-biệt giữa Văn-hoá, Quốc-gia và Dân-tộc

Đôi khi chúng ta nghĩ rằng các công việc đi tìm (1) nguồn gốc của Văn-hoá, (2) sự hình-thành Quốc-gia và (3) gốc rễ của Dân-tộc chỉ là một vấn-đề. Sự thực không phải như thể.

Trong một nước, ta thấy dân-chúng có vẻ như thuộc cùng một dân-tộc và chung nhau một nền văn-hoá. Tuy vậy; ba thứ Văn-hoá, Quốc-gia và Dân-tộc đã đến từ ba khởi-điểm khác nhau cả thời-gian lẫn thời-gian. Loài người vón là một động-vật ưa di-chuyển, luôn luôn đi tìm kiếm môi-trường để dễ dàng sinh-hoạt. Thể nên, dân-chúng một nước có thể từ xa di-cư đến, trong khi văn-hoá, ngôn-ngữ thường chịu ảnh-hưởng địa-phương và thay đổi theo sinh-hoạt tại chỗ.

Trường-hợp chủng Bách-Việt (hồi xưa sinh sống dọc duyên-hải nước Trung-Hoa ngày nay) đáng kể là một thí-dụ điển-hình về sự phức-tạp giữa các yếu-tố quốc-gia, chủng-tộc, văn-hoá. Những học-giả Trung-Hoa-học tăm-tiếng nhất đều đồng-ý là một chủng lớn cư-ngụ trên một địa-bàn rộng như vậy không thể bị hoàn-toàn tiêu-diệt hay hơn nữa, tự-động biến mất. Con cháu những nhóm Việt này vẫn ở đó, nhưng khi cái “gốc” hay “căn-cước” đã mất, sự hiện-diện của họ trong xã-hội không còn đáng nói nữa. Harold J. Wiens viết rằng :

“Khi dân Bách-Việt đã bị Hán-hoá, sinh-hoạt như dân Tàu, người Trung-Hoa không còn bận tâm đến sự hiện-diện của những giống dân dị-chủng này nữa một khi đám người này đã mất đi cái tổ-chức “quốc-gia”. (China’s March Towards the Tropics, Yale University, 1954, pp. 114-115.)

Ngày nay nhiều người sống tại vùng Đông-Á thường tự nhận họ là người Tàu Trung-Nguyên hay con cháu Hoàng-Đế. Sự thật họ thuộc các chủng-tộc khác hẳn với người Tàu gốc rễ vùng Hoàng-Hà, sông Vị. Những “người Tàu tưởng-tượng” này quên rằng lãnh-thổ cũ của họ đã bị xâm lăng, tiền-nhân của họ đã bị kẻ thù truy-diệt. Nước Trung-Hoa thống-nhất ngày nay to lớn đã bao trùm lên nhiều quốc-gia mất gốc cùng những người dân vong-quốc bị đồng-hoá không còn nhớ được tổ-tiên.

Cùng với các học-giả Á-Đông-Học khác đi trước Ông như Needham, Fitzgerald…; Stan Steiner đã nghiên-cứu tinh-thần tự-chủ, ý-chí quyết-tâm bảo-vệ nòi giống và lãnh-thổ, tính quật-cướng chống xâm-lăng được tìm thấy nơi những người dân hàng-hải sống trên tàu thuyền. Cả những người đánh cá hay nông dân làm ruộng nước đều sẵn có tinh-thần độc-lập, không chịu Hán-hoá (Fusang, Chinese Who Build America, New York, 1979: 71.)

Đối với Việt-Nam, nguồn gốc dân-tộc cũng lâu đời không kém nguồn gốc văn-hoá và đi trước cả thời lập-quốc khá lâu. Việc nghiên-cứu ca-dao, tục-ngữ có thể dẫn dắt ta một phần con đường tìm nguồn-gốc, nhưng không đi được xa vào quá-khứ. Ông Bình-Nguyên-Lộc quả-quyết rằng: “Muôn ngàn nỗ-lực để phanh phui các yếu-tố văn-hoá như ca-dao, ngôn-ngữ, cổ-tích cũng không bao giờ cho ta biểt nguồn gốc của dân-tộc Việt-nam thật đúng (NGDTVN, trang 893.)

Chìa khoá có thể ở ngay trong túi

Nhiều cuộc khai-quật cổ-vật mới đây tại Việt-Nam đã cho phép các nhà nghiên-cứu có một cái nhìn mới và đúng đắn hơn về tình-trạng đất Việt cổ-thời với những nền văn-hoá bản-chất dân-tộc, phát-sinh tại chỗ, liên-tục tiến-triển và không bị ảnh-hưởng ngoại-lai. Giáo-sư Sử-học Trần-Quốc-Vượng cho rằng: “Thành tựu quý giá nhất của giới khảo cổ học Việt Nam trong mấy chục năm qua là làm sáng tỏ sự phát sinh và phát triển tại chỗ của nền văn minh châu thổ sông Hồng, với bề dầy thời gian diễn tiến của nó (vài thiên niên kỷ trước công nguyên tới một vài thế-kỷ sau công-nguyên)”. (Trong Cõi, trang 54-55.)

Từ sau năm 1985, tức thời-gian ông Nguyễn-Khắc-Ngữ phát-hành sách NGDTVN đến nay, những giả-thuyết khác về nguồn gốc dân-tộc vẫn tiếp-tục được đề ra. Tuy vậy, hầu hết các giả-thuyết này đều bị ám-ảnh quá đáng vì ý-niệm về những cuộc di-dân từ Nam-Đảo tiến vào nước ta. Cũng như trước đây có một số người đã từng yên-tâm nghĩ rằng người Việt-Nam là con cháu các giống người di-cư đến từ Trung-Hoa, từ Tây-Tạng, từ Đông-Âu, từ nước Việt thời chiến-quốc…

Một quan-điểm mà chúng tôi trình-bày qua cuốn sách này là sự liên-tục trong tiến-trình hàng-hải của dân ta. Đặc-điểm này không thể vì ngẫu-nhiên lại phù-hợp với sự liên-tục về tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của người Việt-Nam. Các chứng-cớ này hiển-nhiên tự nó đã mạnh mẽ nói đến một yếu-tố quan-trọng về nhân-chủng mà từ lâu hầu như vô-tình bị quên lãng. Đó là yếu-tố bản-địa của nguồn gốc dân-tộc.

Lý-do tại sao các nhà nghiên-cứu nhân-chủng lại cứ hùa nhau đi tìm nguồn gốc ở những “giả-thuyết xa sôi đâu đó” thật là khó hiểu. Xưa nay có ít người chịu lưu-tâm tìm hiểu đến nguồn-gốc chúng ta ngay trên vùng đất quê-hương hiện-thời. Chúng tôi kêu gọi sự nỗ-lực đóng góp của mọi người theo chiều-hướng này, trước khi đi tìm kiếm ở những nơi xa xôi khác. Trường-hợp quan-niệm “bản-địa” này có sai lầm, nó cũng giúp chúng ta dò tìm ra được những con đường khác đúng hướng hơn để tiếp-tục đi tới.

Chuyện “tìm chìa khoá xe” hẳn ai cũng gặp. Có những nhà nghiên-cứu hăng-hái, nhưng lại chỉ nghĩ đến những nơi xa. Thật chẳng khác chi việc chúng ta quýnh quáng sợ đi làm trễ, thúc-dục cả nhà chạy toán loạn đi kiếm chìa khoá ở ngoài đường ngoài ngõ, trong khi chúng ta không ngờ chìa khoá ấy vẫn nằm trong túi áo tự ngày hôm qua!

Dân Việt trong môi trường Đông-NAm-Á

Trên bản-đồ ngày nay, Việt-Nam có vẻ như chiếm vị-trí ở phía Bắc vùng Đông-Nam-Á. Tuy vậy, vào thời tiền-sử, nước ta nằm đúng trong khu trung-ương của toàn-thể vùng này. Trước khi Trung-Hoa nam-xâm, khu-vực từ châu-thổ sông Hoài xuống phía Nam sông Dương-Tử qua đến biên-giới Việt-Nam thực-sự đã thuộc vào Đông-Nam-Á trên các phương-diện về địa-lý và sinh-hoạt văn-hoá.

Học-giả Anthony Reid nhận thấy rằng “nguồn-gốc chung của tổ-tiên những người Đông-Nam-Á” là một một sự kiện có thể giải-thích được một phần nào do sự tương-đồng ngôn-ngữ của các sắc dân trong vùng. (Southeast Asia in the Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Yale University Press, 1988, trang 3.)

Vào thời tiền-sử, nhiều bộ-tộc Việt đã sinh sống tại duyên-hải Trung-Hoa. Địa-bàn của họ nằm trên các vùng châu-thổ những con Sông Hoài, Dương-Tử, Tây-Giang, sông Hồng, sông Mã. Một số nhà ngữ-học đã tìm ra nhiều chứng-cớ hiển-nhiên rằng những bộ-tộc gọi chung là Bách-Việt này lúc xưa cùng nói một loại ngôn-ngữ Nam-Á giống như thứ ngôn-ngữ người Việt-Nam đang sử-dụng ngày nay. Hai tài-liệu như sau:

(1) J. Norman and T. L. Mei, ‘The Austroasiatics in ancient South China, some lexical evidence” Monumenta Serica, 32 [1976].

(2) E. G. Pulleyblank, Chinese and their Neighbors in Prehistoric and Early Historic Times, in “The Origins of the Chinese Civilization” edited by David N. Keightley, University of California Press, 1983, trang 437-438.)

Nước Việt-Nam và Biển Đông của chúng ta nằm đúng vào khu trung-ương của ĐNÁ. Chính nơi đây vào cuối thời Băng Đá, khi nước biển dâng lên, làm ngập vùng đất thấp Sundaland, một cuộc di-dân từ biển vào bờ đã xảy ra. Những người dân “nước” đầu tiên theo các dòng sông như sông Hồng, sông Mã, sông Mê-Kông… chạy vào đất liền.

Hai nền văn-hoá sông biển và núi non lần đầu đã kết-hợp trên quê-hương ta, sau này tạo nên cái nền móng sinh-hoạt văn-hoá chung của toàn vùng Đông-Nam-Á.

Hai chục ngàn năm trước, nền văn-hoá Hoà-Bình phát khởi. Tiến-trình đó liên-tục từ thời Đồ Đá qua thời Đồ Đồng, rồi rực sáng với nền văn-hoá Đông-Sơn vào thiên-kỷ thứ nhất trước tây-lịch (TTL.)

Những người “dân nước” từ vùng Biển Đông tiến vào đất liền Việt-Nam đã mang theo cả những đặc-tính của ngôn-ngữ và triết-lý cuộc đời:

– Việt-ngữ là loại ngôn-ngữ nhuốm màu hàng-hải. Tuy được đề-nghị sắp xếp vào họ Nam-Á trong lục-địa, nhưng Việt-ngữ lại có nhiều điểm tương-đồng với ngôn-ngữ Nam-Đảo ngoài Thái-Bình-Dương. (Southeast Asia in the Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Anthony Reid, Yale University Press, 1988, trang 3.)

– Về triết-lý, Bernard Philippe Groslier nhận-xét rằng quan-niệm và niềm tin của dân Việt về biển cả thật sâu đậm. Ông viết như sau: Biển cả trải dài, vượt cả ra ngoài chân trời và tầm hiểu biết của con người, gợi ra cái ấn-tượng về nguồn gốc của muôn loài, cả đến một thế-giới trước khi khai-thiên lập-địa và cũng là nơi quê-hương cho người chết trở về. (The Art of Indochina, Bernard Philippe Groslier, bản dịch của George Lawrence, Crown Publishers, inc., New York, 1962, trang 21.)

Hầu hết các phát-minh thuyền bè, buồm, chèo, lái … của nhân-loại ngày nay đều có gốc rễ từ bán-đảo Đông-Dương. Chừng 60,000 năm trước, khi những nhóm cư-dân Đông-Nam-Á đầu tiên dùng bè vượt biển tới Úc-Châu, tiền-nhân Việt-tộc chắc chắn cũng đã dùng phương-cách di-chuyển như vậy. Nhiều tiến-bộ về kiến-trúc thuyền bè đã đạt được và thành-quả đáng kể nhất có lẽ là cách sử-dụng phối-hợp tài-tình hai hệ-thống buồm và xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái. (Connaissance du Việt-Nam, Pierre Huard và Maurice Durand, Hanoi 1954, trang 232.)

Hoà-Bình và Đông-Sơn là những nền văn-hoá đầu-tiên của nhân-loại tỏa rộng ra khắp nơi bằng đường hàng-hải. Oswald Menghin đã nhận-xét rằng: “dù một nền văn-minh nào đó có phát-khởi ở đâu chăng nữa, có rực rỡ đến thế nào đi nữa, sự truyền-bá cũng cần một nền văn-minh hàng-hải làm phương-tiện chuyên-chở ngang qua biển cả ra hải-đảo xa xăm, vượt đại-dương tới đất mới như Mỹ-Châu.” (Relaciones transpacificas de America precolumbina, Báo Runa 10(1-2), 1967: 83-97.)

Chưa có một nền văn-hoá nào trên địa-cầu này mà địa-bàn lại rộng rãi, vượt cả các đại-dương bao la đến như vậy. Nước Văn-Lang là quốc-gia được thành-lập sớm nhất ở Đông-Nam-Á. Hình ảnh chiến-sĩ và chiến-thuyền ghi khắc trên trống đồng gần 3,000 năm trước đây cho thấy rõ sự hiện-hữu của một lực-lượng thủy-quân có tổ-chức chặt chẽ và lâu đời nhất thế-giới trên đất nước Việt-Nam.

ĐNÁ, vùng Đất thuận-hảo cho sự sinh-tồn của con người

Đi theo thuyết Darwin, nhiều khoa-học-gia hiện nay đồng-ý với nhau về tiến-trình loài linh-trưởng (primate) tiến-hoá thành loài người đã diễn ra tại Phi-Châu. Từ chỗ đó, loài người mới di-chuyển qua các nơi khác trên địa-cầu. (Origins. Richard E. Leakey and Roger Lewin, MacDonald and Jane’s, London, 1977, trang 88, 117.)

Tuy vậy vẫn còn nghi-vấn về “Đông-Nam-Á có thể đã là nơi phát-tích một nhánh chủng-tộc riêng của loài người” vì mấy khám-phá mới đây như sau:

– Tại Mandalay, Miến-Điện năm 1979, người ta tìm ra nhiều xương hoá-thạch của loài Primate lâu tới 40 triệu năm. Vì chứng-tích này cổ hơn bất cứ nơi đâu trên trái đất nên đã có kết-luận rằng: loài Primate thoạt tiên sinh sống trong vùng Đông-Nam-Á trước, sau mới di-chuyển ngang qua khu-vực Tây Á-Châu rồi sang Phi-Châu (Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific, viết tắt Naga, Sumet Jumsai, xuất-bản tại Singapore, Oxford University Press, 1988, trang 2.)

– Trong giai-đoạn tiến hoá của loài người, giống Homo-Erectus (người đứng thẳng) có lẽ tồn-tại lâu nhất tại vùng đất liền Đông-Nam-Á, lâu hơn tại tất cả các nơi khác trên địa-cầu, kể cả Phi-Châu và Âu-Châu (People of the Earth, An introduction World Prehistory, Brian M. Fagan, Harper Collin Publishers, New York, 1992, trang 155-156.)

– Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai tìm ra rằng chỉ có 3 vùng trên trái đất thuộc vòng đai nhiệt-đới là thuận-hảo cho sự sinh-tồn của loài người trong thời Băng Đá. Đó là vùng bình-nguyên sông Amazone Nam-Mỹ, vùng Trung Phi-Châu và vùng Đông-Nam-Á. Ông so sánh tình-trạng như sau: Mỹ-Châu thời đó chưa có người, Phi-Châu có nhiều giống thú dữ và khu duyên hà, duyên-hải không có dấu tích sinh-hoạt loài người. Chỉ còn vùng Đông-Nam-Á mới thực-sự là nơi hội-tụ những điều-kiện tiện-lợi để cho loài người sống sót. (Naga, trang 3.)

– Constance Mary Turnbill viết trong sách Lịch-sử Mã-Lai-Á, Tân-Gia-Ba và Brunei như sau : “Những khu rừng già (nhiều mưa) Đông-Nam-Á, với những nguồn thực-phẩm dồi dào; nhiều loại cây trái, súc-vật và tôm cá; có lẽ là một trong những môi-trường sinh-hoạt sớm sủa và thuận-tiện nhất để nhân-loại tiến-hoá. (A History of Malaysia, Singapore and Brunei; in tại Hong Kong, 1989, trang 7).

Ronald Provencher còn phỏng-đoán loài người đã xuất-hiện sinh sống tại Đông-Nam-Á từ 2 triệu năm trước đây. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, viết tắt: Mainland Southeast Asia, Nhà xuất-bản Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17.)

Người Vượn, Người Cổ và Người Khôn-ngoan trên đất nước ta

Mười mấy ngàn năm trước, môi-trường Đông-Nam-Á, đặc-biệt ở Việt-Nam, đã được chứng-minh là nơi thuận-tiện cho việc gây giống và trồng cấy những cọng rau, cây trái đầu tiên.

Với những thành-tựu của người dân thuộc các nền văn-hoá Hoà-Bình – Bắc-Sơn, lịch-sử dân-tộc ta cũng như cả vùng Đông-Nam-Á bước vào một bước ngoặc lớn: một trung-tâm nông-nghiệp vào loại sớm nhất của nhân-loại đã ra đời vào khoảng vạn năm trước. Con người từng bước giã-từ hái lượm, săn bắn bước vào cuộc sống sản-xuất. (Lịch Văn-hoá Việt-Nam – Viết tắt LVHVN – Sài-Gòn, 1988: trang 36.)

Sự kiện quan-trọng không kém trong ngành Tiền-sử-học là những khám-phá mới đây về nhân-chủng. Kể từ năm 1960 đến nay, khoa khảo-cổ đã phát-hiện nhiều di-tích quan-trọng chứng-minh sự có mặt của Người Vượn, Người Cổ và Người Khôn-ngoan trên đất nước ta. Một số tài-liệu được LVHVN gọi là “vô cùng quan-trọng” để tìm-hiểu quá-trình chuyển-biến từ Homo-Erectus sang Homo-Sapien (người khôn ngoan.) Đây là vấn đề đã và đang được các nhà nhân-chủng-học trên thế-giới hết sức quan-tâm.

Sau khi duyệt qua những khám-phá trong thập-niên 1960 về người vượn Thẩm Khuyên, người vượn Thẩm ồm, người cổ Hang Hùm, người khôn ngoan Kéo Lèng; các giáo-sư Phan-Huy-Lê, Hà-Văn-Tấn và Hoàng-Xuân-Chinh mạnh dạn kết-luận rằng: Trên đất nước ta hàng mấy chục ngàn năm trước đã từng diễn ra quá-trình tiến-hoá từ người vượn thành người hiện-đại. (LVHVN, trang 35.)

Ngày nay, Việt-Nam là nơi lôi-cuốn nhiều nhà khoa-học đến nghíên-cứu về tiến-trình nhân-chủng. Nhà Nhân-chủng-học Russell Ciochon (tác-giả bài “The Ape That Was”, Natural History, November 1991) và nhà Khảo-cổ-học John Olsen đã khám-phá ra nhiều chứng-tích ở Việt-Nam cho thấy giống người vượn khổng-lồ Gigantopithecus cao 10 bộ Anh đã từng sinh sống đồng-thời với giống người Homo-Erectus trong khoảng thời-gian dài tới 500,000 năm. (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 16-17.)

Brian M. Fagan cho biết tại những hang của Làng Trang, Việt-Nam, người ta tìm thấy di-cốt của người Homo-Erectus cổ tới 500,000 năm. Chứng-tích này thuộc loại cổ nhất Đông-Nam-Á (People of the Earth, An introduction to World Prehistory; 1992, trang 129.)

Hình 1 Một số địa-danh mới và cũ của vùng Đông-Nam-Á

Nơi khai-sinh nền Văn-minh Nước và Văn-minh Thực-Vật

Đất nước chúng ta nằm trong vùng nhiệt-đới gió mùa. Có nhiều ý-kiến khác nhau về ảnh-hưởng vị-trí đối với trình-độ sinh-hoạt của dân ta.

Một số nhà địa-lý và nhân-chủng-học đã cho rằng nền Văn-minh Việt-Nam đặt trên vị-trí “bình-nguyên nhiệt-đới” (Những đặc-điểm của nền văn-minh Việt-Nam, Thái-Văn-Kiểm trong Tuyển Tập Ngôn ngữ Văn tự Việt-Nam, Dòng Việt, San José, 1993, trang 141-151.) Tuy vậy, văn-minh của chúng ta không hoàn-toàn mang tính-cách của một bình-nguyên nhiệt-đới vì các lý-do như sau:

-Về vị-trí, lãnh-thổ Việt-Nam không nằm sâu trong nội-địa mà lại nằm cạnh Biển Đông. Việt-Nam có lẽ là quốc-gia độc-nhất trong đất liền nhiệt-đới mà một phần duyên-hải lại mang tính-chất riêng-biệt của hải-đảo. Linda Norene Shaffer cho rằng trải dài suốt mấy trăm hải-lý, bờ biển lồi lõm Trung-Việt có đặc-tính rõ rệt của hải-đảo nhiều hơn các đặc-tính thuộc về lục-địa. (Maritime Southeast Asia to 1500, USA, 1996, trang 3.)

-Về văn-hoá, người Việt-Nam hướng đến các hoạt-động về nông-nghiệp và hàng-hải. Dân ta không nhận ảnh-hưởng từ một nền văn-minh thạch đá nào như các dân-tộc khác trên những bình-nguyên nhiệt-đới như Ai-cập, Mễ-Tây-Cơ v.v… Mặc dù tiến-bộ sớm nhất Đông-Nam-Á, người Việt-Nam không bao giờ theo đuổi chiều hướng xây cất đá khối nặng nề như các dân-tộc láng giềng như Nam-Dương, Khmer, Lào…

Học-giả Sumet Jumsai đã dùng ý-kiến của học-giả Buckminster Fuller để viết phần kết-luận cho quyển sách khá nổi tiếng của ông, cuốn “Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific”, (Singapore, Oxford University Press, xuất-bản 1988, p. 174.) Buckminster Fuller đã bị thuyết-phục và mong rằng vì sự sống còn của nhân-loại trong tương-lai, con người nên noi theo chân-lý “nước” đó mà tiết-kiệm vật-liệu, năng-lượng v.v… (Nguyên-văn: He (Fuller) was convinced that future worlds will survive only if humans create more by using less-less material, less weight, less enegy, etc.)

Vì những lý-do hiển-nhiên như vậy, các nhà khảo-cổ như Carl Sauer, Solheim đã tin-tưởng Đông-Nam-Á là nơi thuận-tiện nhất để con người có thể dễ-dàng chuyển-biến cây rừng cỏ dại thành rau trái trồng trọt được trong vườn. Chỉ nhờ những sự thuần-hoá đó, nhân-loại mới sản-xuất thêm nhiều thực-phẩm. Vì không còn phải nay đây mai đó, tốn kém quá nhiều thời-giờ để gom nhặt thực-phẩm một cách khó khăn, tiền-nhân bắt đầu định-cư lại. Cùng với nền văn-minh hàng-hải, một nền văn-minh thực-vật đã xuất-hiện rất sớm sủa.

Lawrence J. Ma thuộc University of Akron nghĩ rằng giống người Homo-Sapien xuất-hiện rất sớm tại Đông-Nam-Á, sau này là tiền-nhân của chủng-loại Austroloid. Ma ước-lượng thổ-dân vùng này khởi sự gia-súc-hoá loài vật và trồng trọt từ 15,000 trước đây, tức là sớm sủa hơn vùng Tây-Nam Á-Châu (hay Bán-nguyệt Phì-nhiêu) tới 5,000 năm. (Cultural Diversity, Laurence J. Ma; sách “Southeast Asia, Ream of Contrasts”; edited by Ashok K. Dutt, Westview Press, Colorado, 1985, p. 54.)

Nước Việt-Nam nằm trên một bán-đảo có nhiều vùng châu-thổ rất thấp ở về phía cực Đông Nam của lục-địa Á-Châu. Quanh năm khí trời ấm áp, nhiệt-độ tuy cao nhưng đều đều ít thay đổi. Ánh nắng mặt trời chan-hoà, vũ-độ thường-niên rất cao và bầu trời ít khi u-ám. Hai mùa gió Đông-Bắc, Tây-Nam đối-nghịch đem theo hai mùa mưa nắng rõ rệt. Trên có rừng ngăn chặn lối đi, dưới có biển mở rộng đường qua nhiều xứ sở. Địa-thế và môi-trường như vậy được kể là độc nhất, không có vùng đất nào trên thế-giới tương-tự như vậy.

Dân-cư Đất liền và Hải-đảo

Đất liền luôn luôn chiếm ưu-thế hơn hải-đảo về môi-trường sinh sống cho con người. Đặc-biệt trong thời tiền-sử, khi kiến-thức và phương-tiện còn yếu kém, những hòn đảo nhỏ bé thường hoang vắng không có người ở.

Điều chắc chắn là nếu có khả-năng để tự-do chọn lựa, “Người Khôn-ngoan” đương-nhiên đã chọn lựa được sinh sống trên bán-đảo Đông-Dương còn hơn là phải cư-trú trên các hải-đảo xa xôi ngoài khơi (như các đảo Nam-Dương và Đại-Dương-Châu), hay vùng đất giá lạnh (đất Hoa-Bắc ngày nay.) Khi đó cả hai nơi này rất ít người cư-ngụ.

Lịch-sử nhân-loại chứng-minh rằng các nền văn-minh lớn đều phát-sinh từ ven bìa lục-địa, nơi những vùng duyên-hà duyên-hải. Lẽ thường cũng thấy rằng loài người sinh sôi nẩy nở đông-đúc hơn ở trên lục-địa, sau đó mới di-cư qua các hải-đảo. Khoa khảo-cổ nhờ dựa vào cách định tuổi Carbon 14 đã cho biết sự chiếm-ngự các đảo ngoài biển chỉ mới xảy ra gần đây mà thôi.

.Hình 2.-Loài người từ đất-liền Cổ Việt đến cư-trú trên các đảo rất trễ. (Wangka, Edwin Doran, Jr.; Texas University Press, 1981, trang 54.)
Từ thời cổ cho đến ngày nay, trừ ra trên những hòn đảo to lớn như Anh-Quốc, như Nhật-Bản; mức sống của dân-cư các hải-đảo rõ rệt là thua kém dân trên đất liền rất xa. Trong cổ-thời, hải-đảo dù có vĩ-đại cỡ Úc-Châu cũng rất vắng vẻ, ít có dấu chân người!

Trong trường-hợp liên-hệ Việt-Nam và Nam-Dương, người ta không hiểu giả-thuyết dân Nam-Dương di-cư lên xứ ta vững-chắc bao nhiêu không biết, nhưng các học-giả ngày nay chứng-minh rõ ràng sự hiện-diện của những con đường biển đi theo chiều ngược lại suốt nhiều ngàn năm. Trước thì văn-minh Hoà-Bình từ Việt-Nam đi Nam-Dương đi Úc. Sau này văn-minh Đông-Sơn cũng từ Việt-Nam tràn qua các hải-đảo khắp xứ Nam-Dương, cùng những đảo khác miền Đông-Nam Á. Khi đọc tài-liệu khảo-cổ Nam-Dương, ta thấy ngay những trang sách nói về ảnh-hưởng của văn-hoá Hoà-Bình / Đông-Sơn qua mọi sinh-hoạt xứ này như hàng-hải, mỹ-thuật, cổ-tục v.v.

Hiện nay, sinh-hoạt của loài người trên các hải-đảo Thái-Bình-Dương đã được nghiên-cứu tường-tận. Tuy vậy, chưa có tài-liệu vững-chắc nào nói về sự di-dân hay ảnh-hưởng văn-hoá từ phía các đảo Đại-Dương-Châu trở vào đất liền Việt-Nam. Trái lại, sách vở bàn về sự bành-trướng dân-cư từ vùng đất liền Đông-Dương và Đông-Nam Trung-Hoa tràn ra ngoài biển đến Đại-Dương-Châu hay các đảo khác trên Thái-Bình-Dương lại rất phong-phú trong thư-viện.

Ronald Provencher viết rằng : Do sự tương-tự về ngôn-ngữ hải-đảo Malayo-Polynesian tìm thấy tại nhiều nơi tại khu-vực, người ta có thể cho rằng di-dân từ đảo đã đi vào đất liền được không? Dù sao thì lý-lẽ con người di-chuyển từ lục-địa đi ra các đảo không thể phủ-nhận được. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, Ronald Provencher, Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, p. 16.)

Dân Hải-đảo Đông-Nam-Á từ đất liền đi ra

Dunn cho rằng dân Đông-Nam-Á, vì sự cần-thiết phải “lập đầu cầu” nối-tiếp những vùng biển càng ngày càng rộng ra khi nước dâng lên vào cuối thời Hồng-tích-kỳ (Pleistocene) mà phát-triển nghệ-thuật hàng-hải. Golson nghĩ rằng khoảng 3,000 tới 1,000 năm TTL., Biển Đông Việt-Nam là trung-tâm phát-sinh hàng-hải. Ling đưa ra bằng-chứng của bè mảng 3.000 năm TTL. là chỉ dấu cho rằng khu-vực Hoa-Nam (gồm cả Bắc Việt) đã khởi-xuất những chuyến đưa người di-dân ra ngoài khơi Thái-Bình-Dương.

Thời-gian này đúng vào giai-đoạn phát-triển (thịnh-đạt) của thuyền buồm. David Lewis trình-bày sinh-hoạt hàng-hải phát-nguyên từ vùng ven biển Á-Châu trước, sau đó ảnh-hưởng của nó mới theo di-dân mà lan tràn ra các hải-đảo ngoài Thái-Bình-Dương. (The Pacific navigators’ debt to the ancient seafarers of Asia, , trong The Changing Pacific, edited by Neil Gunson, Oxford University Press, 1979, trang 46.)

Riêng quan-niệm “sắc-dân đầu-tiên sống trên giải đất của chúng ta là giống Melanesian đã theo gió mùa đi vào” có nhiều phần không hợp-lý theo quan-điểm hàng-hải. Khả-năng hải-hành của dân Melanesian cách nay 50,000 năm không cho phép họ làm như vậy. Vả lại không có lý-do gì thúc-đẩy họ phải rời bỏ các đảo vùng Melanesia. Nếu từ đó, họ di-cư về phía Tây Tây Bắc, họ đã gặp các đảo Phi-luật-Tân và Đông Nam-Dương. Lý-do tại sao dân Melanesian không ngừng lại đó mà tiến vào xứ ta, cũng là một câu hỏi không có câu trả lời thích-đáng.

Giáo-sư Nguyễn-khắc-Ngữ lại ước-đoán rằng “Dân Melanesian đến xứ ta trước giống Indonesian, mà sắc dân từ Nam-Dương sau này đã di-cư lên trong thời-kỳ băng-giá cuối cùng, tức cách đây từ 10.000 đến 50.000 năm.” Thực ra, trong thời-gian 10,000 – 50,000 năm trước, loài người chưa sinh sống ngoài các hải-đảo nhỏ bé và xa vắng như Melanesia. Trường-hợp có dân-cư, số lượng còn quá ít để phải di-cư.

Thời-gian trước đó (tức trước đây 50,000 năm), quần-đảo mà ngày nay chúng ta gọi là Melanesia chắc chắn chưa có bóng người cư-ngụ.

Việt-ngữ: gạch nối nhiều Ngôn-ngữ

Theo nhiều nhà ngôn-ngữ-học, Việt-ngữ thuộc về loại Mon-Khmer. Người chủ-trương danh-tiếng nhất của thuyết này là Wilhelm Schmidt. Trong cuốn sách “Grundzuge einer Lautlehre der Mon-Khmer Sprachen”, Wien: Alfred Holder xuất-bản, 1905, nơi trang 3; vị Tu-sĩ kiêm nhà Ngữ-học này cho biết mặc dầu ông có tìm ra vài yếu-tố dấu, giọng của Việt-ngữ xa lạ đối với nhóm Mon-Khmer, song ông vẫn cho rằng tiếng Việt, “không nghi ngờ gì nữa, phải được sắp xếp trong nhóm Mon-Khmer.”

Loại ngôn-ngữ này là ngôn-ngữ cổ xưa trong vùng Đông-Nam-Á. Người dân địa-phương sử-dụng Mon-Khmer từ thời tiền-sử, địa-bàn của nó đã lan tràn khắp vùng đất rộng lớn nằm giữa „n-Độ-Dương và Biển Đông.

Ngày nay tiếng Mon ở Diến-Điện, tiếng Khmer ở Cambodia, tiếng Jakun ở bán-đảo Mã-Lai, tiếng Việt, Mường và tiếng nói của một số dân thiểu-số trên bán-đảo Đông-Dương cùng thuộc gia-đình ngôn-ngữ này. Sau khi cuốn “Mon-Khmer Sprachen” đã kể ở trên được xuất-bản, Wilhelm Schmidt lại đưa ra thêm cuốn Die Mon-Khmer-Volker, ein Bindeglied zwischen Volkern Zentralasiens und Austronesiens, cho rằng “Các dân-tộc Mon-Khmer là gạch nối giữa các dân-tộc Trung-Á và Nam-Đảo,” (Braunschweig,1906.) Những công-trình khảo-cứu này được hầu hết các nhà ngữ-học công-nhận sau thế-chiến II.

Học-giả Anthony Reid đồng-ý với Schmidt đã phát-biểu rằng giọng nói (tones) của người Việt có vẻ như xuất-xứ từ tiếng Hoa, tiếng Tạng, nhưng số ít giọng biệt-lệ này chỉ mới xuất-hiện trong thời-gian gần đây mà thôi. Reid nói: “Việt-ngữ thuộc họ Nam-Á, liên-hệ với nhóm Mon-Khmer. Thời tiền-sử, nhóm ngôn-ngữ này đã có một địa-bàn còn rộng rãi hơn ngày nay nữa.” (Southeast Asia in the Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Yale University Press, 1988, trang 3.)

Sự lan-truyền của Mon-Khmer ngữ thật bao-la. Terry G. Jordan, Mona Domosh, Lester Rowntree xác-định rằng trước đây 5,000 năm, ngôn-ngữ vùng đất liền nằm giữa Bắc-Việt-Nam và Miến Điện đã được những cánh buồm và hàng-hải chuyên chở qua tận New Zealand, Easter island, Hawaii. and Madagascar. (The Human Mosaic, A Thematic introduction to Cultural Geography, 7th Edition, Terry G. Jordan, Mona Domosh, Lester Rowntree; Longman, New York, 1997, p. 178-179.)

Nhà ngôn-ngữ-học Paul Rivet cho rằng rằng tính chất hàng-hải của ngôn-ngữ Đông-Nam-Á, đã theo đường biển lan-truyền qua Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-Hải, Phi-Châu, Mỹ-Châu. (Sumérien et Océanien, trong Collection linguistique, publiée par la Société de linguistique de Paris 24, Paris, 1929.) Theo Bernard Philippe Groslier, Mon-Khmer liên-hệ với cả hai họ ngôn-ngữ Nam-Á Austroasiatic lẫn Nam-Đảo Austronesian (The Art of Indochina, trang 27.)

Những tranh-luận về gốc gác ngôn-ngữ Việt trong Mon-Khmer tuy có thể còn tiếp-tục, nhưng xem ra sự chống-đối đang suy-giảm rõ rệt. Cho dù giả-thuyết ngôn-ngữ có nhiều, nhưng chưa có giả-thuyết nào cho rằng gốc gác tiếng nói dân ta đến từ các hải-đảo Melanesian nhỏ bé ngoài khơi.

Trong khi đó, các Biên-tập-viên của tổ-hợp Time-Life Books xác-nhận rằng: “Cho đến nay, quan-niệm đươc mọi người chấp-nhận một cách rộng rãi là sự di-dân đường biển đã do người Việt-Nam, Mã-Lai, Nam-Dương thưc-hiện. Những thủy-thủ “nước sâu” này đã vượt biển thật xa, tới tận bờ biển Phi-Châu một thế-kỷ TTL., thường-xuyên hải-thương với „n-Độ, Hồng-Hải, và ra các đảo Thái-Bình-Dương, mà ở đó họ lần lượt chiếm-cứ và định-cư lại.” (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 66.)

Tóm lại sở dĩ Việt-ngữ cũng như Môn-Mên-ngữ được kể là cái gạch nối nhiều loại ngôn-ngữ khác như vậy chính nhờ vào đường chuyển-vận hàng-hải cổ-thời của dân ta.

Nguồn Gốc Dân-tộc qua chứng-tích ngôn-ngữ và Sự liên-tục của tiến-trình văn-hoá

Theo sự tin-tưởng của nhiều học-giả Việt-Nam, danh-tự “Việt” có nghiã là tiến lên, vượt trội lên… Tính kiên-quyết của dân ta vượt mọi khó khăn trở ngại biểu-lộ ngay từ trong những ngày đầu sinh-hoạt. Nhà địa-lý-học Carl Sauer đề-cao tinh-thần tiến-bộ của dân-cư giống Việt (Yủeh) vào giai-đoạn khởi-nguyên nền văn-hoá Hoà-Bình như sau: Một thế-giới mới đã thành hình, sự thay đổi môi-trường vật-lý địa-dư đã trở thành cơ-hội thuận-tiện tối-đa cho những dân thích phiêu-lưu và mong tiến-bộ… Người dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí óc tò mò để tìm thử-nghiệm, một cộng-đồng như vậy chỉ cần một thơì-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng nông-nghiệp”. (Environnement and Culture During the Last Deglaciation, trong Proceedings of the American Philosophical Society Vol. 92, 1948: trang 65-77.)

Tiến-trình văn-hoá liên-tục của Đông-Nam-Á đã được các khoa-học-gia nghiên-cứu khá đầy đủ với những lập-luận vững chắc. Sự liên-tục này cũng chứng-minh rằng những dân gốc địa-phương vẫn liên-tục cư-ngụ và nắm giữ vai trò chính- yếu.

William Meacham mô-tả sự liên-tục trong tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của người Việt-Nam như sau: “… nền văn-minh Đồ Đá Hoà-Bình đã tiến-triển trong khoảng thời-gian 9,000- 5,600 năm TTL., sang Bắc-Sơn 8,300-5,900 năm TTL., liên-tục qua nhiều nền văn-minh; sau này tới thời Đồ Đồng của Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng nhuốm mầu sắc hàng-hải.” (Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia, viết tắt Origins and Development of the Yủeh, sưu-tập The Origins of Chinese Civilization, edited by David N. Keightley, London 1983: 147-175.)

Cũng theo các Biên-tập-viên của tổ-chức Time-Life Books: “Cuộc khảo-sát tại Non Nok Tha (năm 1965-1966) cho thấy việc luyện-kim rất cổ xưa và là kỹ-thuật bản-địa tại Đông-Nam-Á. Sau Non Nak Tha, nhiều cuộc khảo-cổ đã thực-hiện tại 30 địa-điểm khác nữa cho thấy có những nền văn-hoá đi trước Đông-Sơn. Chẳng hạn như tại Bắc Việt-Nam; nền văn-hoá Phùng-Nguyên với niên-đại 2,000 năm TTL. Văn-hoá Đông-Sơn như vậy, hiển-nhiên có gốc rễ tại chỗ đã ăn sâu vào đất nước quê-hương (Việt-Nam) với những làng xóm cổ xưa nhất trong vùng.” (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 50-51.)

Văn-hoá Đông-Sơn đã được các giới khoa-học Việt-Nam xếp vào sinh-hoạt của thời-đại Hùng-Vương. Những nền văn-minh trước đó như Phùng-Nguyên, Hoà-Bình cũng thuộc dòng văn-hoá chung của dân-tộc. Dân-cư Phùng-Nguyên năm ngàn năm trước và dân-cư Hoà-Bình mười ngàn năm trước, hẳn nhiên xứng-đáng được coi như “trực-thuộc vào rễ cái” của dân-tộc chúng ta.

Nhân-chủng và sinh-ngữ của một dân-tộc là hai yếu-tố có thể đến từ hai nguồn-gốc khác nhau. Tuy vậy ở xứ ta, hai yếu-tố này đã hiện-hữu song-hành từ rất lâu đời. Nếu các kết-quả khảo-cứu về hàng-hải được kể ra trong tập tài-liệu này là đúng, dân ta đã khởi nguyên, đã phát-triển và đã sinh-hoạt liên-tục quanh khu-vực Biển Đông từ thời Băng Đá. Nhờ may mắn không có tai-nạn diệt-chủng, những căn-bản ngôn-ngữ của tiền-nhân từ năm mười ngàn năm xưa vẫn còn hiện-hữu một cách trực-tiếp hay gián-tiếp cho đến bây giờ.

Thật rõ ràng, ngôn-ngữ Việt không có gốc rễ từ hải-đảo, cũng không khởi-nguyên từ Hoa-ngữ. Nhà Dân-tộc Ngôn-ngữ-học Nguyễn-bạt-Tuỵ đã từng kêu gọi: Ngữ ta thuộc hệ-thống ầu (tức Mon-Khơme) với một hệ-thống phụ-âm đầu đặc-biệt mà người Trung-Hoa (kể cả người “Việt” Hoa-Nam) không có, vậy ta phải tôn-trọng tinh-thần xuôi ý của ta mà không ăn nói như người Hán.

Suy rộng ra, nguồn-gốc dân-tộc và ngôn-ngữ của ta có tính-chất bản-địa Đông-Nam-Á. Những hoạt-động hàng-hải đã mang những “mảnh vụn” sinh-hoạt văn-hoá, trong đó có ảnh-hưởng của ngôn-ngữ từ lục-địa đi ra những vùng rất xa, rất rộng ngang qua mặt đại-dương.

Xuôi ý đúng là cách sinh-hoạt của người đi thuyền, không phải dân cưỡi ngựa hay dùng xe.

Biển Đông không chia cắt mà còn nối các dân-tộc quanh vùng với nhau

Các chủng tộc sống trong vùng Đông-Nam-Á lúc xưa rất gần gũi nhau. Biển Đông không ngăn-cách họ xa nhau như người ta vẫn tưởng-tượng xưa nay. Biển Đông đã nối kết họ lại với nhau qua đường hàng-hải. Lý-luận “biển cả – hành-lang giao-tiếp” tương-tự như vậy đã được Thor Hayerdahl trình-bày rất cặn kẽ trong cuốn sách “Early Man and the Ocean”, (xuất bản tại New York, 1979.)

Thời chiến-tranh Quốc-Cộng vào thập-niên 1960, một số người Phi-Luật-Tân phục-vụ ngành Tâm-lý-chiến ở Việt-Nam đã bất ngờ khám-phá ra một sự kỳ-thú về ngôn-ngữ. Họ có thể nói chuyện bằng thổ-ngữ của Phi với một số đồng-bào Thượng của ta ở cao-nguyên Trung-phần không cần thông-ngôn.

Càng ngày ánh sáng văn-minh càng rọi vào những vùng u-tối của suy-luận. Rất nhiều nhà nghiên-cứu hiện-đại đã thấy rằng người Việt-Nam rất gần với những người dân thiểu-số trên cao-nguyên. Sinh-hoạt của dân-tộc ta cũng không xa xôi gì với các dân-tộc láng giềng Đông-Nam-Á. Khi nói “đồng-bào thiểu-số” trên một căn-bản giới-hạn về nhân-chủng nào đó, ta nhận rằng họ đúng là đồng-bào với ta.

Bản-chất nguyên-thủy của chúng ta không phải “„n-Độ / Chi-Na” như tên người Tây-phương đã đặt cho bán-đảo chúng ta cư-ngụ. Chủng Việt không những quá xa-lạ với Aryan „n-độ và cũng quá khác-biệt với Hoa-chủng phương Bắc. Những dị-biệt về nhân-hình giữa ta và Tàu cùng những tương-đồng giữa ta với các dân hải-đảo thuộc chủng Mã-Lai Nam-Á đã được chứng-minh rõ ràng qua những chi-tiết về chỉ-số sọ, máu, chiều cao, mầu da, tóc v.v… Sau khi đọc qua những bản báo-cáo đặc-tính nhân-hình kèm theo đầy đủ các bảng thống-kê, xem đến những tập-tục, huyền-thoại … của các giống dân Đông-Nam-Á, không một người Viêt-Nam nào còn dám nhận mình là Tàu nữa. Hai tập tài-liệu sau đây trình-bày đầy đủ về những yếu tố nhân-hình và tập-tục khác-biệt này:

– Nguyễn-khắc-Ngữ, Nguồn Gốc Dân-tộc Việt-Nam, xuất-bản ở Montréal năm 1985.

– Bình-Nguyên-Lộc, Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam, Bách Bộc Sài-gòn xuất-bản, 1971.

Gốc, rễ và Một giả-thuyết có giới-hạn

Quan-sát một cái cây, ta thấy gốc của nó toả ra nhiều rễ. Nhựa nuôi cây hút từ rễ qua gốc. Trong cái “cây” Việt-Nam, chúng tôi nhận rằng có nhiều “rễ” lớn nhỏ quây chung quanh cái “gốc” chủng-tộc. Rễ “bản-địa” mang nhiều chất dinh-dưỡng, bâm sâu nhất xuống lòng đất, rất xứng đáng được coi như rễ cái vậy.

Truyền-thuyết dân-tộc và “Ranh giới Hồng-Lạc với 4,5 ngàn năm văn-hiến” nên được để nguyên trong vòng huyền-thoại thiêng-liêng. — đây, chúng tôi mời gọi mọi người đi lùi xa thêm vào dĩ-vãng để khảo-sát thêm những cái rễ của dân ta theo với những kiến-thức hiện-đại .

Hãy tưởng-tượng trên cả vùng đất duyên-hải nằm phía Đông và Đông-Nam Á-Châu, cách xa chân núi Himalaya vào thời Đồ Đá một nhóm dân-cư nhờ hoàn-cảnh đặc-biệt địa-dư, khởi sự góp nhặt sò, hến, ốc, rong biển cạnh duyên-hải. Rồi băng đá tại hai cực và đỉnh các núi cao tan dần. Nước Biển Đông dâng lên đã mang đến không biết là bao nhiêu thay đổi ảnh-hưởng mạnh mẽ đến sinh-hoạt con người.

Các từ “Bản-Địa” hay “Tại Chỗ” trong giả-thuyết gốc rễ dân Việt mà chúng tôi đưa ra khởi-sự từ giai-đoạn này, ít nhất cũng đã trên mười ngàn năm trước đây.

Khi viết sách “Nghệ-thuật Đông-Dương”, Philippe Groslier cũng nghiên-cứu cả địa-hình và thấy rằng bán-đảo này bị thiên-nhiên chia cắt ra khỏi lục-địa Á-Châu. Tuy vậy, nhờ mở được con đường ra ngoài biển, dân-cư Đông-Dương đã đóng vai trò quan-trọng trong vùng Đông-Nam-Á. Cho dù Java có thể là nơi con người xuất-hiện trước hết, Đông-Dương luôn luôn là cái kho chứa nhân-lực mà từ đó gửi đi khai-hoá khắp vùng Đông-Nam-Á. (The Art of Indochina, Bernard Philippe Groslier, trang 39.)

Vì đặc-điểm địa-hình bị núi non chia cắt như vậy nên dân-cư quanh khu-vực Biển Đông chỉ có đường biển đi ra mà ít có đường cho người ngoài đi vào. Sự cô-lập giúp cho các thổ-dân Đông-Nam-Á gìn giữ được bản-chất nguyên-thủy của họ. Cho dù có di-dân, những người mới đến cũng là những dân hàng-hải như họ. Dân mới, dân cũ nhờ sự tương-đồng, đã hoà-nhập với nhau trong mọi sinh-hoạt. Những dân đi biển theo bản-chất, thường dễ dàng thông-cảm, giúp đỡ nhau.

Ronald Provencher chứng minh rằng một số dân Đông-Nam-Á ngày nay là một giống người đã tiến-hoá tại chỗ. Ông cho rằng những liên-hệ (mật-thiết) về chủng-tộc, ngôn-ngữ và văn-hoá của các dân-tộc trong vùng không thể nào giải-thích một cách thỏa-đáng được với những quan-niệm dản-dị (và sai lầm) là di-dân từ ngoài đi vào. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, Ronald Provencher, Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17.)

Sự chính-xác của giả-thuyết chỉ tương-đối và chỉ kèm theo một vài sự nới lỏng về không-gian và thời-gian. Chữ bản-địa được dùng trong giả-thuyết này không chỉ giới-hạn trong lãnh-thổ Bắc Việt và bắc Trung-Việt ngày nay mà được nới rộng ra vùng Biển Đông và cả địa-bàn rộng rãi của Đông-Nam-Á thời tiền-sử. Còn thời-gian cũng không giới-hạn trong một giai-đoạn ngắn ngủi. Rễ cái dân-tộc khởi-sự “mọc ra” vào cuối thời Băng Đá. Rễ cái dân-tộc vẫn tiếp-tục mọc sâu, mang sắc-thái đặc-trưng của Việt-Nam vào thời văn-minh Đông-Sơn

Còn nếu nói loài người phát-sinh từ một điểm gốc ở đâu đó (rất có thể là Phi-Châu) rồi mới tỏa ra đi khắp mặt địa-cầu thì làm sao có người bản-địa Việt-Nam theo đúng nghĩa tuyệt-đối cho được!

Sự sụp đổ của các giả-thuyết nhân-chủng

Tất các giả-thuyết về nhân-chủng Việt-Nam đều sẽ sụp đổ, kế cả giả-thuyết này của chúng tôi.

Theo với thời-gian, giả-thuyết mới hôm nay rồi cũng hoá ra cũ ngày mai. Nhờ phương-pháp khoa-học, những công cuộc khai-quật, ngành khảo-cổ-học sẽ tìm ra nhiều kiến-thức mới và thời-gian tiếp-tục chôn vùi vào dĩ-vãng các giả-thuyết cũ.

Thuyết “bản-địa” sẽ có thể bị “sa lầy”, nhưng chúng tôi hy-vọng kiến-thức này là viên đá lót đường qua bãi lầy nghiên-cứu chủng Việt về sau.

Thời-gian sẽ mang lại quyết-định chung-thẩm. Còn nghiên-cứu là còn hy-vọng tìm ra chủng gốc Việt-Nam. Trung-tả M. Abadie, tác-giả quyển “Những chủng-tộc ở Thượng-du Bắc-Việt” đã viết rằng: Trong cuộc hợp-chủng nào, sau hàng ngàn năm, các chủng gốc cũng xuất-hiện trở lại, chớ không mất bao giờ. (NGDTVN trang 736.)

Cho dù sẽ có thêm thuyết “người Việt di-cư” từ đâu tới, phương-tiện di-dân đường biển cũng nên được lưu-tâm duyệt xét…

Sinh-hoạt khi nước Biển Đông bắt đầu dâng lên

William Meacham đã cho rằng vào thời Băng-Đá, tức hơn một chục ngàn năm trước đây đã có dân-cư sinh sống dọc bờ Đông-Á. Dân này là tiền-nhân giống Việt sau này.

Khi nước biển dâng cao, bờ biển từ hàng trăm dậm Anh ngoài khơi, rút gần về vị-trí như hiện nay. Sự gia-tăng mật-độ dân-số tạo nên nhiều dịp trao-đổi tư-tưởng, cải-tiến kỹ-thuật. và một nền văn-minh hàng-hải đã phát-triển. Thuyền đi ven biển đầu tiên có lẽ là loại bè tre, xuất-hiện khoảng 10,000 năm TTL. Liên-tục qua nhiều nền văn-minh, tới Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng sinh-hoạt của người Việt nhuốm mầu sắc hàng-hải. (Bài “Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia,” William Meacham trong The Origins of Chinese Civilization, edited by David N. Keightley, London 1983, trang 147-175.)

Theo Sumet Jumsai, tại Á-Châu vào khoảng 16,000 năm trước đây, khi mực nước biển dâng lên nhanh thì những cư-dân sinh-sống tại vùng duyên-hải Đông-Á phải dồn về những vùng đất cao hơn. Họ di-chuyển ngược theo các dòng sông. Một số lớn di-chuyển nhiều về khu-vực phía Bắc vùng rộng lớn Sundaland. (Naga, trang 4.) Khu-vực châu-thổ Sông Hồng, Sông Mã có lẽ đã hội-tụ nhiều yếu-tố thuận-tiện nhất cho sự phát-triển ở Đông-Nam-Á, ngay từ những ngày xa xưa đó!

Trong sách “Les Paysans du delta tonkinois”, xuất-bản tại Paris 1936, Pierre Gourou biểu-lộ ý-tưởng rằng những đặc-điểm của nền văn-minh vùng châu-thổ Sông Hồng, Bắc Việt-Nam chứng-minh cho một nền văn-minh được phát-sinh và tiến-triển tại chỗ.

Còn theo Ông Cao Thế Dung: Dòng Lạc-Việt ở Văn-Lang không phải di cư từ phương Bắc mà là giống dân tuy cùng dòng Bách-Việt nhưng đã có mặt ở Bắc-Việt hiện nay rất sớm. (Tự hào là người Việt-Nam qua chứng liệu văn hoá lịch sử, Florida, 1989, trang 5.)

Trong những chi-tộc vùng Đông-Nam-Á, người Việt-Nam không những luôn luôn là giống dân đồng nhất mà lại còn đông đảo nhất. Qua suốt mấy ngàn năm qua, mật-độ dân-số tại Miền Bắc khai-nguyên của dân ta cũng cao hơn tất cả những nơi khác trong vùng.

Một hình-thái quốc-gia nào đó của dân Việt-Nam ở lưu-vực Hồng-Hà nếu đã thành-hình cách nay 5, thiên-kỷ cũng là chuyện dĩ-nhiên, có lẽ không làm các nhà khảo-cổ ngạc-nhiên cho lắm!

Hình 3 – Khi nước biển dâng lên vào cuối thời Băng Đá, Di-dân theo dòng sông chạy vào đất liền. Nhóm số 1 sau này tiến-triển mạnh nhất (Naga, trang 4)

Huyền-thoại, chỉ dấu về giống dân bản-địa

Phải có dân, rồi mới có nước. Huyền-thoại dân ta chứng-minh sự hiện-diện của dân bản-địa trước khi dựng nước. Xin hãy đọc những dòng chữ đầu tiên về Họ Hồng-Bàng trong sách Việt-Nam Sử-Lược của Trần-Trọng-Kim:

“Cứ theo tục-truyền thì vua Đế-Minh là cháu ba đời của vua Thần-Nông, đi tuần-thú phương Nam đến núi Ngũ-Lĩnh gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế-Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế-Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc-Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh-Dương-Vương, quốc-hiệu là Xích-Quỷ…

Kinh-Dương-Vương làm vua nước Xích-Quỷ vào quãng năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) và lấy con gái Động-đình-Quân là Long-Nữ đẻ ra Sùng-Lãm nối ngôi làm vua, xưng là Lạc-Long-Quân.

Lạc-Long-Quân lấy con gái vua Đế-Lai tên là Âu-Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai …” (Việt-Nam Sử-Lược, trang 11-12.)

Theo ông Đỗ-trọng-Huề thì những thần-thoại ấy tuy có tính-cách hoang-đường… nhưng đầy ý-nghĩa tượng-trưng (Hương Trà, Đỗ-trọng-Huề, Nhà Xuất-bản Hoa-Lư, Sài-Gòn 1968, trang 119.) Đứng trên các quan-điểm khác nhau đã có nhiều công-trình nghiên-cứu sâu xa, đôi khi đưa đến tranh-luận gay gắt về ý-nghĩa của đoạn tục-truyền này. — đây chúng tôi chỉ xin bàn về tính-cách bản-địa của dân-cư Việt trước thời lập-quốc với một quan-niệm mới có tính-cách dùng khoa-học rọi ánh-sáng vào huyền-thoại.

Phần lớn ý-kiến sau đây phỏng theo tài-liệu của sử-gia Trần-Quốc-Vượng (Trong Cõi, trang 54-55), chúng tôi xin phép để phụ thêm vài chi-tiết cập-nhật-hoá như sau:

-Đã có dân-cư sinh sống trên đất nước ta vào trước thời vua Hùng-Vương thứ nhất. Chỉ vì đồng-bào ta lập-nghiệp đông-đảo ở “phương Nam” nên vua cha Đế-Minh mới đi tuần-thú (như kiểu “xem dân cho biết sự tình”.) Vua Hùng đầu tiên tức Kinh-Dương-Vương (hiệu Lục-Dục-Vương) lên ngôi vua năm 2879 TTL., cách nay gần 4900 năm.) Nguồn gốc dân ta rõ ràng có tính-chất bản-địa. Theo chứng-luận ngày nay về khảo-cổ, chúng ta có thể nói là người Việt đã xuất-hiện từ nhiều thiên-niên-kỷ trước thời-đại vua Hùng dựng nước.

-Vua Đế-Minh là cháu ba đời vua Thần-Nông. Chi-tiết này hợp cùng với tên Lộc-Tục cho ta hai danh-từ riêng chỉ tên tuổi theo cách-thức của người Việt phương Nam. Nói rõ hơn, các vua Hùng đều là dân bản-địa với tên gọi đặc-biệt “phi Hán”.

Những điểm sau đây xin được nêu lên để làm sáng tỏ vấn đề:

1- Ngườì Trung-Hoa không gọi vua Thần-Nông mà theo căn-bản ngôn-ngữ của họ thì Nông-Thần, Nông-Thần-Vương hay Nông-thần Hoàng-Đế v.v…mới đúng. Danh-từ Thần Nông hay Ông Thần Nghề Nông đúng là theo sát với tinh-thần “xuôi ý” trong ngôn-ngữ Việt-Nam. Nhận-xét “xuôi ý” này của riêng ngôn-ngữ ta đã được các ông Nguyễn-bạt-Tuỵ và Kim-Định cùng một số học-giả Việt-Nam khác nêu ra trong hai ba thập-niên vừa qua.

2- Theo đúng truyền-thuyết của người Tàu, Vua Thần-Nông không có vẻ gì là người Trung-Nguyên. Ông họ Khương, khi chết mộ chôn ở gò đất Thương-Ngô, Trường-Sa; đất ấy trước đời Tần – Hán là đất đai Bách Việt, không phải đất Hoa-Hạ.

3- Vị-trí sao Thần-Nông trên bầu trời phương Nam. Ca-dao nông-nghiệp Việt-Nam cũng thường nói đến sao này. Cũng vậy tên mẹ Kinh-Dương-Vương là Vụ Nữ hay Vụ Tiên Nữ cũng là tên một chùm sao ngay trên đỉnh bầu trời Bắc Việt Nam. Eberhard, Wolfram đã chứng minh tỉ mỉ trong sách “The Local Cultures of South and East China” là Thần-Nông vốn không có gốc Trung-Hoa, đó là một thần-linh nông-nghiệp có nguồn gốc từ văn-hoá ruộng nước phương Nam.

4- Lộc Tục là một cái tên Việt cổ hiếm hoi may mắn còn sót lại trong tâm-thức Việt-Nam và được huyền-tích bao bọc bảo tồn.

Tuy tên Kinh-Dương-Vương là một danh-hiệu Hán-Việt nhưng đất Kinh-Dương cũng như hồ Động Đình và Ngũ-Lĩnh vốn không phải đất Trung-Hoa vào thời ấy. Thần Nông là Thần-linh nông-nghiệp của Việt-tộc, đã bị nhập nhằng nhận là của Tàu. Cách nay 5,000 năm, trong khi đất cổ Việt đã đi vào văn-minh ruộng nước thì sinh-hoạt của người Trung-Hoa còn mang mầu-sắc du-mục nặng về săn bắn,.

Sự hiện-hữu của vua Đế-Minh luôn luôn là một câu hỏi. Nếu ông đúng là ông vua Trung-Hoa và là cha của vua Hùng Việt-Nam thì sử nào ghi điều đó?

Dù thế nào chăng nữa, sau khi có con là Đế Nghi, Ông Đế-Minh đã lấy thêm vợ nữa là Bà Tiên ở Ngũ-Lĩnh. Có lẽ cuộc tình-duyên của Ông Bà cũng ngắn ngủi. Con của họ là Kinh-Dương-Vương không sống với cha, mà ở với mẹ tại quê mẹ. Vị vua này là người miền Nam và theo chế-độ mẫu-hệ thời đó, ông không thể là Sở (vùng biên-địa) cũng không phải Tàu (vùng Hoàng-Hà, sông Vị) mà là người địa-phương. Hơn nữa, tính cách thổ-dân hay bản-địa của Kinh-Dương-Vương biểu-lộ chính-xác nhất qua cái tên hoàn-toàn địa-phương cổ Việt là Lộc-Tục.

Tập-tục địa-phương của dân ĐNÁ thời cổ

Trong cuốn “Nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam”, Giáo-sư Nguyễn-khắc-Ngữ đã cho biết một số tài-liệu quý-giá về tâp-tục Lạc-Việt hồi xưa. Sau đây là một vài đoạn trích-dẫn:

a – Chế-độ Mẫu-hệ.

Mẫu-hệ là một chế-độ gia-đình bản-địa của Đông-Nam-Á, cũng như ở các sắc dân Malayo-Polynesian. Ông Ngữ bàn đến truyện các vua Hùng đầu tiên như sau:

-Mẫu-cư. Ông vua Hùng đầu tiên là Kinh-Dương-Vương, khi nhỏ sống với mẹ ở Ngũ-Lĩnh, sau lấy con gái Long-Vương ở hồ Động-Đình và ở nhà vợ dưới Thủy-phủ. Cũng vì đặc-tính mẫu-cư này, con ông là Lạc-Long-Quân cũng ở nhà mẹ dưới Thủy-phủ.

Mấy ngàn năm sau tiếp theo đời Lạc-Long-Quân sang đến đời các nhà Thục, nhà Triệu; tục này vẫn còn giữ. Trọng-Thủy sau khi lấy Mỵ-Châu, đã ở nhà vợ vì thế mới có cơ-hội cho Trọng-Thủy ăn cắp lẫy nỏ thần.

-Mẫu thống. Lạc-Long-Quân là con Kinh-Dương-Vương (em Đế-Nghi) cũng là em chú bác với Đế-Lai (con Đế-Nghi.) Âu-Cơ là con gái Đế-Lai, phải gọi Lạc-Long-Quân là chú. Nếu tính theo phụ-hệ thì Lạc-Long-Quân không thể lấy Âu-Cơ được. Nhiều người cho rằng chú cháu lấy nhau là loạn-luân bởi họ quên hẳn “mẫu thống” là tập-tục địa-phương hồi đó. Lạc-Long-Quân nhận mình không còn đồng-tộc với Âu-Cơ hay Đế-Lai nữa nên đã lấy Âu-Cơ làm vợ.

-Mẫu-tộc. Lạc-Long-Quân không những chẳng nhận mình thuộc dòng họ Đế, lại chẳng nhận mình giống cha.

Khi chia tay với Âu-Cơ, Lạc-Long-Quân đã nói:”Ta là nòi Rồng”. Rõ ràng ông Vua Hùng thứ hai này đã nhận mình thuộc dòng giống Thủy-tộc, tức là họ nhà mẹ (Long-Nữ)

B-Tục cướp vợ.

Trong truyền-thuyết họ Hồng-Bàng trên, ta thấy dù Âu-Cơ đã vui lòng theo Lạc-Long-Quân, ông Vua này cũng phải đem dấu Âu-Cơ trong Long-Đài-Nham và hoá phép thành yêu-tinh, quỷ-sứ, rồng rắn, hổ voi để chống lại bọn đi tìm.

Cũng như dân các hải-đảo Miền Nam ngày nay còn lưu giữ, người Việt thời Hùng-Vương theo tục cướp vợ. Tuy có tổ-chức đám cưới nhưng hai gia-đình lại làm cuộc lễ dưới hình-thúc cuộc cướp vợ. Họ nhà trai mang giáo mác, cung tên đến nhà gái, bắt cô dâu mang đi. Sau đó nhà gái cũng mang khí-giới, reo hò giả vờ đuổi theo .

Truyện cướp vợ của Lạc-Long-Quân là tập-tục dân Lạc-Việt hồi đó, rõ ràng không ảnh-hưởng tí Tàu nào cả.

Chúng tôi đồng-ý với ông Nguyễn-Khắc-Ngữ về những dẫn-chứng của ông dùng chứng-minh rất xác-đáng cho sự tương-đồng tập-tục giữa ngườì Việt và ngườì Melanesian, tuy-nhiên chúng tôi giữ lập-trường khác ông là những tập-tục đó đã khởi-nguyên từ đất liền Đông-Nam-Á (trong đó có Việt-Nam) thời Đồ Đá xa xưa, trước khi những tập-tục đó ảnh-hưởng ra ngoài hải-đảo.

c – Các đặc-điểm khác.

Ngoài ra, truyền-thuyết họ Hồng-Bàng còn cho chúng ta biết khá nhiều về những đặc-điểm của dân ta hồi đó như:

Căt tóc ngắn Xâm mình, vẽ chàm Ăn trầu

Ăn cơm gạo Đóng khố, mặc váy Ăn hải-sản

Làm nhà sàn Làm rẫy Lấy vỏ cây làm vải Thổi cơm bằng ống tre

Làm nghề chài lưới

Thích sinh-hoạt cạnh sông hồ, biển cả…

Toàn là những tục-lệ địa-phương thuộc vùng Đông-Nam-Á, dị-biệt hoàn-toàn với tình-trạng sinh-hoạt của Trung-Nguyên vào thời đó.

Qua nhiều lý-do như vậy, chúng ta thấy các vua đầu tiên của nước Văn-Lang đúng là có nguồn gốc bản-địa. Chỉ khi nào người ta cảm-nhận tình quê, đất nước, tổ-tiên thì người ta mới giữ gìn tập-tục. Vua Hùng là dân bản-địa, không phải người ngoại-lai. Nhà vua cũng giống như những di-dân Á-Đông ngày nay, dù có bị bắt buộc phải sống lưu-lạc ở xứ người nhưng cứ giữ tập-tục quê-hương.

Dân ta bị ngoại-bang đô-hộ một ngàn năm, ảnh-hưởng đồng-hoá văn-hoá Trung-Hoa rất mạnh. Vậy mà người Việt vẫn bảo-tồn tập-tục riêng, Cái rễ dân-tộc phải sâu, phải già đến năm mười ngàn năm trước đó mới có đủ sinh-lực giữ cho cái cây Việt sinh-tồn được đến ngày nay.

Hãy quên đi ý-nghĩ nguồn gốc từ Tàu phương Bắc

Ông Bình-Nguyên-Lộc đã viết rằng: “Càng chứng-minh được rằng Việt không là Trung-Hoa, thì sự chứng-minh Việt là Mã Lai càng được củng cố hơn lên (NGMLCDTVN, trang 213.) Mệnh-đề “Việt là Mã-Lai” mà tác-giẩ “Nguồn gốc Mã Lai của Dân tộc Mã Lai” đã dùng trong trường-hợp này, có thể hiểu được là Việt có nguồn gốc chung Đông-Nam-Á hay Việt có nguồn gốc tại chỗ (mà không phải là Tàu!).

Ta không phải là Tàu

Có một ông Tàu, bà Tàu chính-cống nào mà lại nhuộm răng đen, ăn trầu, búi tóc, đóng khố hay mặc váy, đi thuyền, tham-dự hội nước, đối đáp nam nữ vv… không?

Thế mà trước kia, một số nhỏ nhà nho Việt-Nam say mê ảnh-hưởng Trung-Hoa, cho rằng những truyền-thuyết dân-tộc nói lên nguồn gốc phương Bắc của người mình. Qua chiếc lăng-kính Hán-học và cái mãnh-lực kinh-khủng của số lượng kinh sách khổng-lồ Trung-quốc, trước đây ít nhiều người đã có những cái nhìn sai lạc về hình-ảnh trung-thực của những ngày đầu lập-quốc. Sự diễn-dịch kiểu “bảo-hoàng hơn Vua”, “Tàu hơn cả Tàu” như vậy không thể nào hợp-lý được.

Phải làm sao thực-hành được như lời của Dr. Nyi Nyi, một thời là Phụ-tá Bộ-trưởng Giáo-Dục Miến-Điện: “Cái gì cũng nói là nguồn-gốc „n-Độ, cái gì cũng nói là nguồn gốc Trung-Hoa. Chúng tôi đang phải vứt bỏ tất cả những điều vớ vẩn như vậy khỏi các sách sử của chúng tôi”.

Có thể là chính ông Nyi Nyi này lại đang mặc váy longyi là một danh-từ „n-độ và đang khoác trên mình chiếc áo ba túi với cái nút áo đúng kiểu Trung-Hoa (National Geographic, Vol.139, No.3, March 1971, trang 304.) Thật buồn nếu số phận các dân nhược-tiểu là như vậy, nhưng muốn cho quốc-gia tiến-bộ thì nguồn gốc của dân-tộc phải hiểu sao cho được đúng đắn. Thời-đại khoa-học ngày nay chứng-minh Miến đi từ Miến, cũng như Việt đúng là có nguồn gốc Việt, không có tí „n hay tí Tàu nào trong đó cả.

Chỉ cần bỏ ra một chút thời-giờ để suy-luận, chúng ta nhận biết rõ ràng dân-tộc Việt-Nam là thuần-tuý. Đặc-biệt truyền-thống “nước” đã cho người Việt-Nam một chỗ đứng độc-lập riêng rẽ.

Việt là Việt

Kể từ một vài thế-kỷ trước Công-nguyên, văn-hoá Trung-Hoa đã ảnh-hưởng nhiều đến dân-cư vùng Đông-Nam-Á nhưng không phải vì thế mà nghĩ rằng Tàu là cha đẻ của dân vùng này.

Dr. Paul K. Benedict khi bàn về văn-hoá cổ-thời đã phát-biểu một câu chí-lý “… there were many other cultural exchanges between the Chinese and the early inhabitants of Southeast Asia, -with the Chinese as the recipients rather than the donors” (cũng báo National Geographic kể trên, trang 306.) Ý-tưởng “Tàu chỉ thừa-hưởng, không có ban-phát gì hết” cũng đúng cho cả vấn-đề tranh-luận về nguồn-gốc chủng-tộc. Nói nôm na: “Tàu quá trẻ để làm cha đẻ ra các chủng-tộc Đông-Nam-Á.”

Theo các nhà nhân-chủng học, tổ-tiên các dân-tộc Đông-Nam-Á đã xuất-hiện từ lâu. Trước đây 60,000 năm, phương-tiện vượt biển của họ đã đủ khả năng để đưa các “thuyền-nhân” sang sinh sống tại Úc-Châu. (East of Wallace’s line: issue and Problems in the Colonisation of the Australians, Jones, R., in The Human Revolution: Behavioural and Biological Perspectives on the Origins of Modern Humans, ed. P. Mellars and C. B. Stringer, Edinburgh University Press, 1989, pp. 743-782.),

Trong khi những người bản-địa như Việt đã sinh sống ở vùng Đông-Nam Á-Châu ngay từ thời Băng-Đá thì ở vùng Hoa-Bắc, mãi sau này người Tàu mới xuất-hiện. Họ đến đó không sớm lắm, chỉ chừng 4,000 năm qua mà thôi. Còn Sử-ký của Tàu, nói cho xác-thực, chắc phải muộn hơn nữa. Sử-gia Ray Huang xác-nhận thời-gian gọi là “hữu-sử” đó khởi-sự khoảng năm 1600 TTL. Nguyên-văn như sau: “As things stand today, the first page of Chinese history that has archaeological backing bears the relatively late date of 1600 B.C. at the founding of the Shang dynasty…” (China: A Macrohistory, Ray Huang, New York, 1988, trang 6.)

Thời-gian lại cũng quá muộn màng cho họ khi vượt được Dương-Tử-Giang để tiến về Hoa-Nam. Giống dân hiếu-chiến này ra sức tàn-phá, giết chóc, tiêu-diệt văn-hoá bản-xứ. Có lẽ họ đã thành-công một số mưu-đồ xấu xa. Thế nhưng trong mục-tiêu chót là diệt-chủng dân (Lạc-)Việt thì người Hán đã thất-bại và nước Việt vẫn còn tồn tại đến bây giờ.

Nếu như lịch-sử đổi dòng, chẳng có thiên-tai “Đại-Hán”, nguồn văn-minh Hoà-Bình Đông-Sơn vẫn tiếp-tục chảy xuôi, không có ngàn năm bị trị và đời sống dân ta đã muôn phần tốt đẹp hơn. Bản-năng bảo-tồn nòi-giống của dân Việt chứng-minh giả-thuyết về “rễ cái bản-địa” vậy!

Chứng-tích Khảo-cổ

Có lẽ những chứng-cớ quan-trọng nhất về sinh-hoạt của dân trong thời hậu Băng-Đá tại vùng duyên-hải phía Đông Á-Châu đã bị đại-dương chôn vùi dưới đáy nước sâu của Biển Đông từ hàng chục ngàn năm qua, (Vietnam, World Bibliographical Series, Vol 147 — David G. Marr, CLIO Press, England, 1992, p xvi.) Tuy vậy, những dấu-tích còn lại của tiền-nhân chúng ta trên lãnh-thổ hiện nay cũng đã đủ để chứng-minh rằng giống Việt là một chủng-tộc rất xưa cũ, đồng-thời cũng là chủng-tộc tiền-tiến trong các hoạt-động hàng-hải. Thời-gian này tính ra nhiều ngàn năm trước khi người dân Trung-Nguyên đầu tiên phát-xuất từ Trung-Á, di-chuyển qua lập-nghiệp cạnh sông Hoàng-Hà.

Trong thập-niên 1920, Trung-tâm Văn-Hoá Hoà-Bình được cô Madeleine Colani, một nhà thảo-mộc-học, sau náy trở thành nhà khảo-cổ người Pháp danh tiếng tìm ra… (Wilhelm G. Solheim, ‘New Light on a Forgotten Past,” National Geographic Magazine, March 1971, trang 333.) Tài-liệu báo-cáo của cô về văn-minh Hoà-Bình cho đến nay vẫn được coi là rất có giá-trị như sau:

-1927, L’ age de la pierre dans la province de Hoa Binh (Tonkin.) MSGi 14, fascicle i.

-1928, Notice sur le prehistoire du Tonkin: station de Cho Ganh, atelier. BSGi 17, fascicle 23-37.

-1929, Quelques stations hoabinhiennes: note preliminaire. BEFEO 29:261-72.

-1930, Recherches sur le prehistorique Indochinoises. BEFEO 30: 299-422.

-1935, Megalithes du Haut-Laos. 2 volumes. Publications de l’école francaise d’Extreme-Orient nos. 25, 26.

-1940, Emploi de la pierre en des temps reculés: Annam – Indonesie – Assam. Publication des Amis du Vieux Hue, Hanoi: imprimerie d’Extreme-Orient.

Trong khoảng ba chục năm trở lại đây, khoa Khảo-cổ cung-cấp thêm nhiều tài-liệu mới lạ. Những kiến-thức cận-đại về cổ-sử có thể làm những người sống trước đây một vài thế-hệ giật mình, tưởng như truyện giả-tưởng. Nguồn gốc dân-tộc Việt đáng được kể là rất cổ và văn-hoá ta phát-sinh ngay tại địa-phương nơi vùng đất quê-hương của ta:

-Văn-minh Hoà-Bình đã khởi-nguyên trên đất nước ta hồi mười lăm, mười sáu ngàn năm trước đây

-Đà tiến-triển văn-minh của dân ta được giữ liên-tục, không ngừng nghỉ; đi từ Bắc-Sơn, Hoà-Bình chuyển tiếp qua Đồng Dậu, Phùng-Nguyên, cuối cùng rực sáng ở Đông-Sơn. Có chỉ-dấu cho thấy văn-minh Ngưỡng-Thiều, Long-Sơn Trung-Hoa và Đài-Loan do văn-minh Miền Nam khai sáng.

-Tính-chất văn-minh nặng phần hàng-hải và ruộng nước.

Solheim tìm ra rằng ngay từ thời Đồ Đá, ảnh-hưởng Hoà-Bình đã tới Úc. Lúa gạo xuất-hiện ở Đông-Nam-Á trễ nhất là 3,500 năm TTL.Kỹ-thuật Đồ Đồng khởi-sự trước Trung-Hoa cả ngàn năm, cũng trước cả „n-Độ và Lưỡng-hà-Địa. Đường biển trở thành hệ-thống chuyển-vận viễn-duyên, người Việt từ Đông-Sơn đi đi lại lại khắp vùng Đông-Nam-Á .

Carl Sauer cho rằng dân bản-địa Đông-Nam-Á đáng ghi (??) những công-lao to lớn. Họ đã làm một bước đi quyết-định cho loài người trên đường tiến-bộ. Đó là việc thuần-hoá cây cỏ đầu tiên, một phát-triển sớm sủa nhất của nhân-loại trong nông-nghiệp. (Agricultural Origins and Dispersals, New York, 1952, Chapter 2.)

Lea E. Williams lý-luận rằng nhờ những hoàn-cảnh chung quanh thuận-lợi, cũng như khối óc năng-động của chính họ, người Đông-Nam-Á đã đạt đến một trình-độ kỹ-thuật cao. Những khả-năng về tự-tồn trên biển và sản-xuất nông-phẩm là kết-quả của những phát-triến đặc-thù Đông-Nam-Á. Rất có thể là dân-cư vùng này đã sớm đạt đến những tình-trạng tiến-bộ tương-tự như ở vùng Bán-nguyệt phì-nhiêu. (Southeast Asia: A History, Lea E. Williams, Oxford University Press, New York, 1976, trang 25.)

Khoa khảo-cổ khám-phá rằng Đông-Nam-Á đã trồng cấy cây lúa 3,500 năm TTL. (National Geographic, Vol.139, No.3, March 1971, trang 335), gia-súc-hoá súc-vật từ 5,000 năm TTL, tức là hàng ngàn năm tiến-bộ hơn những nền văn-minh cổ xưa khác. Luyện-kim ở vùng Đông-Bắc Thái-Lan/ Bắc Việt-Nam tiến-bộ ngay thời 3,000 năm TTL, khoảng ngàn năm trước kỹ-thuật đúc đồng Trung-Hoa và „n-Độ.

Như đã trình-bày ở trên, Hoà-Bình là trung-tâm văn-hoá tiên-khởi của toàn vùng Đông-Nam Á-Châu. Theo đường hàng-hải, ảnh-hưởng văn-hoá này truyền-bá đi khắp các hải-đảo, vùng duyên-hải và đất liền gần nửa vòng trái đất.

Trên những miền đất xa cách với Hoà-Bình như tại cửa sông Dương-Tử, những chi-tộc Việt cũng rất văn-minh Vùng Thái-Hồ đã tiến đến chế-độ “đại tù-trưởng” ngay từ thiên-kỷ thừ 3 TTL. Trong thời-gian đó, vùng Hoa-Bắc sau này là cái nôi văn-minh Trung-Hoa còn chậm tiến hơn.

Giáo-sư Tsui-Mei Huang thuộc phân-khoa Mỹ-thuật viện đại-học Pittsburgh đã đúc-kết và nhận-xét về những khám-phá mới đây về khảo-cổ trong tạp-chí Antiquity 66 (1992): 75-83 như sau:

– Hơn một trăm địa-điểm khảo-cổ có số tuổi từ 3,310 đến 2250 năm TTL., trong vùng Thái-Hồ đã được khám-phá. Đất này sau đó xuất-hiện nước Việt, hàng trăm năm liền xưng bá thời Chiến-quốc. Các di-tích tìm thấy cổ hơn rất nhiều so với các di-tích tương-tự tìm thấy ở Hoa-Bắc và dĩ-nhiên trước triều-đại nhà Chu tới vài ngàn năm.

– Sự khai-quật các cổ-vật vùng Liangzhu đã làm thay đổi quan-niệm trung-tâm văn-hoá nằm ở Hoa-Bắc và thúc-đẩy các nhà khảo-cổ nên chấp-nhận sự hiện-hữu của một nền văn-hoá bản-địa miền Nam; nền văn-hoá này đã đóng góp một vai trò rất có ý-nghĩa trong suốt thiên-kỷ thứ 3 TTL. vào việc phong-phú-hoá tình-trạng đời sống và xã-hội nước Tàu “

Chỉ có hợp-chủng mà không có diệt-chủng

Sự thật hiển-nhiên chứng-minh rằng không có một dân-tộc nào trên thế-giới ngày nay là một chủng-tộc thuần-tuý. Chúng tôi không bao giờ phủ nhận về sự hiện-hữu của những đợt di-dân từ ngoài vào đất nước Việt-Nam. Chúng tôi chỉ xin nêu ra quan-điểm là sự cần-thiết phải suy xét cho đúng mức tầm quan-trọng của những sự “nhập nội” này.

Đi sau những người dân nước của Biển Đông, các dân di-cư đến xứ ta sau này tuy có, nhưng số lượng mỗi đợt không nhiều lắm so với dân-số địa-phương. Họ thuộc những sắc dân tương-cận, cùng ưa thích vùng duyên-hải và sinh-hoạt sông nước. Hầu hết di-dân thuộc nhóm Bách-Việt, số rất nhỏ là người Tàu chính gốc và các dân khác.

Bác-sĩ Trần-Đại-Sỹ, thác lời các bạn đòng-nghiệp của Ông, đã phát-biểu những ý-tưởng về nguồn gốc tộc Việt, một phần nào tương-tự như những sự di-dân trình-bày ở trên như sau:

“Tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường-giang: Đông tới Biển . Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thái-Lan. Người Việt từ Ngô-Việt di-cư xuống phương Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao-Chỉ. Người Việt di-cư từ Nam sông Trường-Giang tránh lạnh xuống Bắc-Việt đều đúng. Đó là những cuộc di-cư của tộc Việt trong lĩnh-thổ của họ, chứ không phải họ là tộc khác di-cư tới đất Việt.” (Việt-Nam Đệ Ngũ Thiên kỷ, USA, 1994, trang 223.)

Thủy-thổ đặc-biệt xứ ta đã ngăn cản nhiều chuyến di-cư khởi đi từ các vùng đất có địa-thế khác-biệt. Tài-liệu biện-luận cho quan-niệm này là cuốn sách “Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam”. Tác-giả sách này, Ông Bình-Nguyên-Lộc cho rằng có hai (??) chuyến di-cư vĩ-đại nhất vào xứ ta. Tiền-nhân Việt thuộc nguồn-gốc Mã-lai, đã từ Hoa-Bắc thực-hiện việc di-cư đến Bắc-Việt bằng đường biển.

Cho dù đồng-ý là dân ta có nhiều đặc-điểm giống Melanesian hay giống Indonesian chăng nữa, chúng ta cũng không thể vội vàng kết-luận dân-tộc Việt-Nam là con cháu các dân đến từ Nam-đảo.

Tại nhiều nơi khác trên thế-giới, ngôn-ngữ, tục lệ cổ xưa thường bị chuyển-hoá vì nhiều đợt di-dân ồ ạt ở ngoài đổ vào. Trái lại trên đất nước chúng ta, những truyền-thống xưa cũ hàng mấy ngàn năm vẫn còn được bảo-tồn. Những đợt di-dân vào đất nước ta về sau này đã không tiêu-diệt những dân-cư bản-địa sống ở đất này trước họ. Hầu hết những yếu-tố căn-bản về nhân-hình nguyên-thủy và văn-hoá đầu tiên còn tồn-tại.

Giống dân đầu tiên sống trên giải đất ta là giống da đên (Négritos), Me-la-nê-xi (Mélanésiens) và giống Úc-Châu (Australiens) , (Địa-Lý Việt-Nam Lớp MườI Một, Nguyễn-Khắc-Ngữ và Phạm-Đình-Tiếu, Cơ-Sở Xuất-bản Sử-Địa, 1991(??), trang 120-121.)

Sử Đông-Nam-Á đã được nhiều học-giả thuộc đủ mọi mầu da trắng, vàng, nâu viết lại nhưng không ai nghĩ rằng đã có những chuyện diệt-chủng đáng kể nào xảy ra trên đất nước chúng ta. Người đến sau đã hội-nhập với những người ở đây trước để cùng kiến-tạo cuộc sống chung. Những người Mường, người Mán, người Kinh, kẻ Chợ, người miền Cao, đường Ngược … rõ ràng vẫn tiếp-tục sinh-sống hoà-thuận vui vẻ ngay trong thời-đại chúng ta. Những vì vua đầu thời tự-chủ như các nhà Đinh, nhà Lê sinh ở xứ Mường. Trước đó lại có anh-hùng Phùng-Hưng ông cha đời đời làm Quan Lang hay Tù-trưởng châu Đường-Lâm. Có thể nói các vị này gốc-tích dân thiểu-số cũng đúng. Tuy vậy nhưng điều đúng hơn hết: các vua anh-hùng này chẳng phải là Vua của nước Việt hay sao ? Tất cả chúng ta dù người mang họ Nguyễn (40% dân-số), người kia họ Đinh, họ Lê, họ Phùng, họ Hà, họ Vũ … cũng một dòng máu đậm mầu dân bản-địa chảy trong huyết-quản mà thôi!

Trong khi nghiên-cứu, thâu-lượm thêm tài-liệu Đông-Nam-Á cổ-thời, chúng tôi càng yên-tâm nghĩ rằng gốc rễ bản-địa là quan-trọng và rằng khi đi sâu vào cổ hàng-hải chúng tôi thấy sắc đân Việt-Nam “đa-số” rất gần với những sắc dân “thiểu-số” như Mường, như Mán, như Rhadé, như Chàm., như Bà-Nai … Một thuở xa xưa nào đó tiền-nhân của họ đã cùng tiền-nhân Việt sinh-hoạt hay hải-hành qua lại trên biển Đông, mà thời Băng Đá chỉ như một hồ nước chung quanh có đất liền bao bọc gần như khép kín.

Có lẽ sự phân chia chủng-loại một cách khe khắt như ta thấy ngày nay chỉ mới xảy ra trong thời gần đây mà thôi.

Tổng-hợp: Những chỉ-dẫu hướng về một nguồn gốc

Luận-lý “rễ cái – bản-địa” của dân-tộc Việt-Nam được xây- dựng trên chứng-tích phát-sinh “tại chỗ” của các chủng-tộc Đông-Nam-Á. Tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của dân Việt chói sáng nhất trong vùng và liên-tục ngay từ thời cổ sơ. Đặc-biệt những phát-triển hàng-hải đáng kể là vượt bực. Đi từ việc sử-dụng những vật-liệu thông thường tại chỗ như tre nứa làm bè, người Việt đã tiến đến sự hoàn-thiện phương-cách vận-chuyển Tàu thuyền tự-động, không cần người lái.

Muốn đi tìm một khuôn mẫu”gốc rễ tại chỗ” cho một dân-tộc, người ta không thể tìm được một sự tiêu-biểu nào hoàn-bị hơn cho bằng trường-hợp dân-tộc Việt-Nam.

Những giả-thuyết về phân-tán nhân-chủng, ảnh-hưởng văn-hoá cùng những sinh-hoạt hàng-hải tỏa ra các nơi mà tâm-điểm là Việt-Nam đã được trình-bày trong hầu hết tập tài-liệu này. Sau phương-cách phân-tích có tính-chất “phân-kỳ” này, chúng tôi lại xin dùng một phương-cách …… đưa ra một tổng-hợp mà luận-lý có tính-chất “hội-tụ”. Đi từ những dữ-kiện về sinh-hoạt rộng lớn, xa xôi thu góp lại, chúng ta cũng có thể tìm ra tâm-điểm phát-nguyên hay nguồn gốc người Việt-Nam là tại chỗ.

Trên cả một vùng không-gian rộng lớn, hơn nửa vòng trái đất từ Madagascar tới Easter Island, loài người tuy sử-dụng nhiều loại sinh-ngữ khác nhau nhưng xem ra chúng có khá nhiều đặc-điểm tương-tự. Một số nhà ngữ-học nhận thấy nên xếp chung hơn một ngàn sinh-ngữ này vào một họ lớn là Nam-phương-ngữ. Về hàng-hải, địa-bàn của các ghe thuyền có thân phụ và bè mảng chạy buồm gần như trùng-hợp với địa-bàn ngôn-ngữ “Nam-phương”. Hai địa-bàn ngôn-ngữ và thuyền bè này khởi-sự từ Đông-Nam-Á.

Trong cổ-thời, toàn vùng Đông-Nam-Á, lan qua cả Úc-Châu, Đài-Loan và Nhật-Bản, sinh-hoạt chung của các dân-cư chịu ảnh-hưởng nền văn-hoá Hoà-Bình. Hai địa-bàn của văn-hoá Hoà-Bình này và ngôn-ngữ Nam-phương, xem ra gần như trùng-hợp với nhau.

Trên khu-vực duyên-hải kéo dài từ cửa sông Hoài đi về phía Nam tới Mã-Lai-Á, qua các hải-đảo Nam-Dương, Phi-luật-Tân; các nền văn-minh thực-vật và văn-minh “nước” bao trùm nhiều sinh-hoạt, ghi dấu vết thời Đồ Đá / Đồ Đồng đén từ các trung-tâm Hoà-Bình / Đông-Sơn. Nền văn-hoá của ta, không ảnh-hưởng “thạch đá” như kiểu kiến-trúc đá khối tại Nam-Dương, Khmer, Lào… Chỉ có ở Việt-Nam, người ta mới có thể tìm thấy một nền văn-hoá “nước” thuần-túy nhất, nhẹ nhàng và nhân-bản.

Vào cuối thời Băng Đá, khi nước Biển Đông dâng lên cao, dân cư vùng đồng-bằng Sundaland kéo nhau rút vào vùng đất liền theo các dòng sông. Khu vực phía Bắc Sundaland, dân đông nhất hội-tụ tại vùng các sông Hồng, sông Mã. Sau này, sinh-hoạt văn-hoá của người Việt phát-triển mạnh nhất trong vùng qua suốt một thời-gian dài hàng chục ngàn năm.

Dân-cư vùng Đông-Nam-Á rất có thể là một chủng-loại phát-triển tại chỗ. Xương hoá-thạch của người vượn tìm thấy ở Trung-Hoa, cũng thấy tại Việt-Nam. Nhiều chứng-cớ cho chỉ dấu tại nước ta đã diễn ra tiến-trình người vượn tiển-hoá thành người hiện-đại.

Ngay từ thời Băng Đá, do địa-thế núi non chia cắt, dân-cư Đông-Nam-Á bị cô-lập với phần thế-giới ở ngoài. Trong khi dân-cư vùng này không đông đảo cho bằng ở „n-Độ hay Trung-Hoa, riêng đất Việt từ thời cổ vẫn luôn luôn có một mật độ dân-cư cao nhất trên thế-giới.

Không những Việt-Nam chỉ là địa-bàn phát-nguyên của chủng Việt, mà theo Học-giả Groslier, còn có nhiều đợt di-cư từ Đông-Dương đi ra các hải-đảo Thái-Bình-Dương. Di-dân gồm có các giống dân Austroloid, Melanesians, Indonesians Mongolians (The Art of Indochina, trang 39.) Như vậy thật rõ ràng, học-giả không có gợi ý hay phát-biểu ý-tưởng cho rằng người Đông-Dương đã đến từ Australia, từ Melanesia, từ Indonesia, từ Mongolia v.v…

Nhiều sắc dân khác nhau đã sinh sống trên lãnh-thổ Việt-Nam từ cổ thời. Người Việt chiếm đa-số, cư-ngụ tại những vùng đất thấp. Vì là giống người đến trước, người Việt sinh sống trên những đất đai thuận-hảo, trong khi các di-dân đến sau đành phải canh-tác nơi những nơi núi cao, rừng rú.

Việt-tộc tại khắp ba miền Trung, Nam, Bắc đều bảo-tồn cổ-tục. Tinh-thần đó chứng-minh tính-cách bản-địa của chủng-tộc. Tuy vậy, không có miền nào mà người dân còn giữ gìn tập-tục lâu dài như nhuộm răng đen, ăn trầu, đóng khố… và nhất là mặc váy cho bằng những dân miền Bắc Việt-Nam. Rễ Việt-tộc chắc đã ăn rất sâu nhất vào những vùng đất khai-nguyên này.

Tổng-hợp lại, những tập-tục, các hoạt-động về hàng-hải, ngôn-ngữ và nhiều sinh-hoạt văn-hoá khác đều quy-tụ về một địa-điểm gốc là vùng đồng-bằng Sông Hồng của Bắc Việt-Nam. Cái rễ cái bản-địa của dân-tộc ta vì thế, không những quan-trọng cho riêng Việt-Nam chúng ta mà còn có nhiều liên-hệ đến các sắc dân khác tại Đông-Nam-Á và Thái-Bình-Dương.

Tâm-lý và đặc-tính bản-địa

Bản-chất dân ta rất hiền-hoà. Nhiều du-khách đến thăm xứ ta đã nói như vậy. Mấy lời sau đây trích ra từ tập sách “The Mandarin Road to Old Hué, Narrative of Anglo-Vietnamese Diplomacy from the 17th century to the eve of the French Conquest, Altair Lamb, London, 1970, trang 132 & 270):
-Dân Việt-Nam là một giống dân lịch-sự (They are a courteous, affable, inoffensive race, rather inclined to Indolence- The Chapman Mission, 1778.)

– Người Việt bản-tính tốt tự-nhiên, ít thù-hận, không gây nhiều tội ác, rất hiếu khách (… that docility and good nature … that they were so little actuated by the spirit of revenge that murder and assassination were crimes little heard… they make no objections to give to foreignerrs their personal services… we found the Cochin Chinese ready to perform for us cheerfully every menial office… We went freely into the villages and were everywhere treated with hospitality, kindness and good nature – The Crawfurd Mission, 1822.)

Người Việt lịch-sự, nể-trọng người ngoại-quốc, nhưng trong sự giao-thiệp đôi khi có một sự “bất thường”: chúng ta đã tự kiêu về đất nước, về dân-tộc Việt của chúng ta một cách quá đáng. Chính Bác-sĩ Crawfurd đã viết trong báo-cáo đã kể ở trên, rằng : They look upon themselves as one of the first people in the world and their King as one of the first of princes. (sách “The Mandarin Road to Old Hué, Narrative of Anglo Vietnamese Diplomacy from the 17th century to the eve of the French Conquest, Altair Lamb, London, 1970, trang 270.)

Cũng vậy, rất đông học-giả ngoại-quốc khi nghiên-cứu tâm-lý người Á-Đông, thắc mắc không hiểu tại sao dân Việt lại hay có tinh-thần dân-tộc quá cao, cao hơn các dân-tộc láng giềng. Trong khi đất nước nghèo đói, đồng-bào chậm tiến, xuống đốc thê-thảm: người Việt vẫn tự đề-cao họ lên. Họ nghi-kỵ các chính-quyền ngoại-bang, đặc-biệt chính-quyền Trung-Hoa và nhiều khi cả dân Trung-Hoa nữa. Vấn-đề tâm-lý này rất sâu sắc. Dáng dấp người Việt trông hơi giống người Tàu, nhưng nếu tưởng lầm một người Việt là một người Tàu, họ sẽ giận ngay.

Người Thái-Lan có thể không “cuồng-tín” như vậy, có lẽ chỉ vì dân họ mới di-cư đến lập-quốc trên đồng-bằng sông Ménam.

Dân-cư sinh sống ở Hoa-Nam, ở Đài-Loan, ở Hoa-Bắc, ở Tân-Cương cùng được gọi chung là dân Tàu nhưng họ có những vẻ gì đó không giống nhau. Họ không có cái niềm hãnh-diện dân-tộc quá khích như người Việt-Nam. Vì thế mà Hoàng-đế Trung-Hoa có thời đã là những “người ngoài” xuất-xứ từ Mông-Cổ, từ Mãn-Châu…

Người Việt “cuồng-tín” chăng?

Người Việt-Nam khác hẳn các dân khác, rất hãnh-diện được làm một người Việt-Nam. Chúng ta có thể hy-sinh tất cả để bảo-vệ lãnh-thổ. Sở dĩ người Việt “cuồng-tín” như vậy vì chúng ta cảm thấy bản-thân gắn liền vào đất nước Việt-Nam. Sự gắn liền đó đã khởi-sự từ lâu đời. Nó biểu-lộ tính-chất thuần-nhất và đặc-tính “bản-địa” của gốc rễ dân-tộc. Từ mười mấy ngàn năm trước liên-tục đến nay, giống Việt đã là chủ-nhân-ông đầu tiên của vùng đất cạnh Biển Đông này.

Tự thâm-tâm người Việt-Nam nghĩ rằng chúng ta có gốc rễ tại chỗ. Lẽ tự-nhiên chúng ta không thích bị gọi là “con đẻ của Tàu” hay giống dân từ núi rừng cao-nguyên (như Tây-Tạng) đi xuống, cũng không ưa bị gán cho là từ hải đảo xa xôi (như Melanesia) đi vào.

Vũ Hữu San

Nguồn: http://vuhuusan.110mb.com

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: