RSS

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á (Tiếp theo)

18 Jul

Thomas Suárez

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN

VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ

VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á (TT)

Ngô Bắc dịch

*****

Phụ Lục 15

Lục Địa Đông Nam Á

Trong Bản Đồ Của Gastaldi năm 1548

(các trang 148-149)

Mã Lai

Sự minh họa của Gastaldi về Bán Đảo Mã Lai và Đông Dương, mặc dù là một sự miêu tả “hiện đại”, vẫn mang các cội rễ xa xôi trong bản đồ Golden Chersonese (Bán Đảo Vàng) của Ptolemy.  Giống như một nhà điêu khắc nhồi nhét và vắt nặn đất sét của mình trước khi nó khô đi với thời gian, Gastaldi đã cố khuôn đúc kiến thức địa dư của thời đại ông vào bản đồ Bán Đảo Vàng của Ptolemy hơn là vứt bỏ nó toàn bộ để làm một tác phẩm điêu khắc hoàn toàn mới chưa từng có.  Ông ta lấy phần vẽ lục địa Đông Nam Á của Ptolemy (so sánh phần vẽ về Mã Lai của ông với phần tương ứng trong bản đồ của Ptolemy, Hình 27), và đã kiểu chính vĩ độ của Mã Lai để nới dài về phía nam tới 1 ½ o bắc vĩ độ, như được báo cáo một cách chính xác trong nhật ký của Pigafetta, chứ không phải là 1 ½ o nam vĩ độ được tìm thấy trong bản thảo và ấn bản lần đầu tiên quyển nhật ký của ông ta, và được sử dụng bởi Fine hồi năm 1531, hay 3o nam, như trong chính bản đồ của Ptolemy.  Hình dạng chiếc lá lật ngược cho phần đất phía nam của Mã Lai trong bản đồ của Ptolemy (có thể là Sumatra) giờ đây nghiêng về phía đông một cách chính xác, và mỏm trên đó Ptolemy vẽ ra có thể tượng trưng cho phía nam của Đông Dương (thi trường Zaba, được trích dẫn bởi Ptolemy nằm ở tọa độ 4o45” băc vĩ độ) và giờ đây nằm ngay trên 10o (số tọa độ chính xác là ngay trên 8o).  So sánh hai bán đảo này với hai phần đất tiền thân của chúng trong bản đồ Ptolemy cho thấy rằng Gastaldi đã đánh đồng vùng Sinus Perimulicus của Ptolemy với Vịnh Xiêm La (Gulf of Siam) – một danh xưng mà trong thực tế, ông giữ lại trên bản đồ là Golfo Permuda.

Singapore ….

Căm Bốt và Miến Điện …

Xiêm La và Các Vương Quốc Khác Trên Bản Đồ Năm 1548

Davsian, vương quốc phía bắc của Ava, là Sian (Siam: Xiêm L), cách đọc sai từ từ ngữ d’Ansian (có nghĩa vương quốc của Xiêm La) được nhận thấy trong các bản đồ chẳng hạn như bản đồ của Ribero năm 1529.  Nagogor, trên bờ biển phía đông của Mã Lai, là Lugor (Nakhon si Thammarat), một thành phố tại miền nam Thái Lan, thành phố Nagaragoy trên các bản đồ sớm hơn như bản đồ của Waldseemmuller năm 1513 (Hình 57).  Trong trận chiến dành quyền kiểm soát Malacca, người Bồ Đào Nha đã sớm vương vấn vào một sự say đắm với Xiêm la, vừa bởi sự giàu có và quyền lực dự tưởng của nó, vừa bởi sự cạnh tranh của nhà vua của nó với các nhà lãnh đạo Malacca mà Albuquerque đang giao tranh.  Chính vì thế, Albuquerque đã phái một sử giả, Duarte Fernandes, đến Ayuthaya ngay trước khi ông ta chiếm đoạt được Malacca.  Người Bồ Đào Nha cảm thấy an tâm khi biết rằng nhà lãnh đạo Xiêm La, Rama T’ibodi II, đang bận tâm về chiến cuộc với Chiang Mai, và không có ý đe dọa cán cân giữa những kẻ đang dành giựt Malacca.  Một sứ bộ Bồ Đào Nha khác đã đi đến Ayuthaya trong năm 1518, lần này để thiết lập một hiệp ước với Vua Rama T’ibodi II.  Người Bồ Đào Nha được cho phép định cư tại Xiêm La và được mua bán tại Ayuthaya, Lugor, Patani, và Mergui, trong khi người Xiêm La được phép định cư tại Malacca, và được hứa hẹn súng ống cho cuộc chiến tranh của họ chống lại Chiang Mai.

Comche China (Cochin-China), một từ ngữ được đặt ra bởi người Bồ Đào Nha và được sử dụng trước tiên để chỉ bất kỳ phần đất nào của Việt Nam khác hơn là xứ Chàm hay miền Châu Thổ sông Cửu Long, được ghi tên bên cạnh Đông Dương.  Từ ngữ này có thể có nguồn gốc từ tiếng Mã Lai là Kuchi, bản thân có thể đến từ danh xưng bằng tiếng Hán, “Chiao-Chili: Giao Chỉ”, hay Tongking (Đông Kinh, [tức Bắc Kỳ]).  Tomé Pires đã giải thích rằng “Cochin-China” là một từ ngữ được dùng tại Malacca, [trong thành ngữ] “xét về miền Cauchy Coulam”.  Người Bồ Đào Nha có thể đã bổ túc từ ngữ “China” vào từ ngữ “Cochin” để phân biệt nó với vùng Cochin thuộc Ấn Độ.  Barros xem vùng Cochin-China là vùng ít được biết tới nhất trong các vương quốc Đông Dương (sau Căm Bốt và Chàm).  Ông cho rằng sự thiếu hiểu biết của Tây phương về vùng Cochin-China là hậu quả của các đại dương giông bão và bất trắc ngoài bờ biển của nó, và vì sự kiện rằng người Cochin-China ít khi tham gia vào các cuộc mạo hiểm đường biển.  Một thế kỷ sau đó, giáo sĩ Dòng Tên Marini đã phàn nàn rằng các nhà địa dư đã sử dụng sai từ ngữ “Cochin-China” để chỉ toàn thể Đông Dương bởi họ không hay biết gì về miền này và lịch sử của nó.

Pires có báo cáo rằng vương quốc này, giống như xứ Chàm, là một dân tộc nặng về nông nghiệp hơn là đi biển, mặc dù ông ta tin rằng nước này được ban cho nhiều con sông lớn, có thể hải hành được, và hay biết rằng các thương nhân của nó thường xuyên du hành sang Trung Hoa, và đôi khi sang Malacca.  Cochin-China liên hệ chặt chẽ với Trung Hoa về văn hóa, thương mại, và ngay bởi sự kết hôn giữa các hoàng tộc.  Sự quen thuộc với Tongking (Bắc Kỳ) – được làm chứng bởi sự xuất hiệu danh xưng của nó trên các bản đồ Âu Châu – gia tăng khi người Bồ Đào Nha tự định cư tại Macao, nơi đã cung cấp một căn cứ thực dụng để với tới Việt Nam.  Một khi từ ngữ Tongking đã được đặt cho miền bắc Đông Dương, danh xưng Cochin-China đã được dùng để chỉ An Nam (Trung Kỳ), phần đất Việt Nam tập trung quanh thành phố Huế. [hết trích dịch]

Hình 73: Đông Nam Á, Giacomo Gastaldi, 1548 (13 x 17 cm)

*****

Phụ Lục 16

Lục Địa Đông Nam Á

Trên Bản Đồ của Ramusio năm 1554 và

Trên Bản Đồ của Gastaldi năm 1561

(các trang 150-151)

       [Bắt đầu trích dịch] Nói chung, những gì có thể nói về lục địa trên bản đồ của Ramusio năm 1554 có có thể đúng như vậy đối với Bản Đồ Của Gastaldi năm 1561.  Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến Bản Đồ Của Ramusio khi Bản Đồ Gastaldi khác biệt một cách đáng kể.

Trong khi hình dạng của Mã Lai trên Bản Đồ Gastaldi năm 1548 có giữ lại một sự ám chỉ đến Bán Đảo Vàng của Ptolemy, Bản Đồ Của Ramusion có một hồi ức mơ hồ về bán đảo Cantino cổ xưa (Xem Bản Đồ Waldseemuller Asia, Hình 57), tương tự cũng chính xác về vĩ độ, với sự định hướng mỏm phía nam cũng được quay ngược lại một cách chính xác.  Tuyệt vời hơn rất nhiều về hình vẽ của Mã Lai so với bản đồ năm 1548, đây là nền tảng của Mã Lai, Đông Dương, và đúng ra lục địa Đông Nam Á hiện đại.  Một vài bản đồ thế giới được ấn hành vào khoảng cùng lúc với bản đồ Ramusio cũng cho thấy các sự cải tiến trên vùng lục địa, nổi bật là bản đồ khá thô sơ của Lopez de Gómara năm 1552-53, và, đặc biệt hơn, bản đồ của Michele Tramezzino năm 1554.

Việt Nam

Sông Hồng có được bước khởi đầu, ở đây, và được trình bày cùng với thành phố của Cochinchina (Hà Nội) được vẽ bên bờ sông của nó.  Tiếp tục đi xuống phía nam, chúng ta đến một bán đảo nhô ra về phía đông được đặt tên là Capo pulocanpola.  Tên này là cách gọi sai của danh xưng “Pulo Condore” (Côn Sơn), một hòn đảo ngoài khơi Châu Thổ sông Cửu Long, và là một biến thể của từ ngữ fulucandoia trong nguyên mẫu bán đảo Đông Dương trên bản đồ của Cantino năm 1502 và nhiều bản đồ kế tiếp của cùng gia tộc này (xem trang 109 [trong nguyên bản, chú của người dịch] bên trên).  Bản đồ của Ramusio gần với sự thực hơn, với từ ngữ fulu của Cantino giờ đây được đánh vần một cách chính xác hơn là pulo (hòn đảo).

Sông Cửu Long

Theo sau quái trạng này, chúng ta đi qua xứ Chàm (Campa) và có được cái nhìn thoáng qua dòng sông dũng mãnh Cửu Long và vùng châu thổ trải rộng của nó, được ghi theo tên hiện đại của nó (Mécon), mà theo Camões có nghĩa là “Ông Hoàng Của Các Dòng Sông” (Prince of Waters).  Quyển Travels của Pinto đề cập đến dòng sông là Pulo Cambin, mặc dù đây rõ ràng là một cách gọi sai lạc theo văn bản bởi pulo, như Pinto hẳn phải hay biết, có nghĩa “hòn đảo” (island).  Nhiều nhà vẽ bản đồ sau này đơn giản chỉ sông Mekong là Sông Căm Bốt (River of Cambodia).

Dòng chảy của sông Cửu Long là một sự đoán mò, dòng sông được hình dung như một hải lộ gần như thẳng tuột, thông suốt, đến tận nội địa Trung Hoa xa xôi.  Chính vì với quan điểm ngây thơ về dòng chảy của sông Mekong này, chúng ta nhìn thấy sự mở màn cho hai sự ngụy biện có tầm quan trọng bao la.  Sự sai lầm thứ nhất là giấc mơ rằng con sông có thể cung cấp một thông lộ thương mại dễ dàng vào đến tận trung tâm của Vương Quốc Thiên Triều, một cuồng vọng ám ảnh các kẻ tìm kiếm của cải người  Âu Châu mãi cho đến cuối thế kỷ thứ mười chín.  Thứ nhì, bởi vì người Âu Châu đã nhận thức sông Mekong như xác định biên giới phía đông của Xiêm La, dòng chảy phán định dành cho con sông huyền bí – thiếu mất bước ngoặt gắt sang phía đông ở phía bắc Phnom Penh – đã làm giảm bớt lớn lao sự nhận thức của khối Tây về kích thước của Xiêm La.  Sự sai lầm này, như chúng ta sẽ thấy sau này, giúp cho Xiêm La tránh được sự đô hộ của ngoại bang trong thế kỷ thứ mười chín.

Biển Hồ Tônle Sap

Cả bản đồ của Ramusion và của Gastaldi năm 1561 đều trình bày sơ sài về Biển Hồ Tônle Sap, hồ được đổ nước vào từ một phụ lưu của hạ lưu sông Cửu Long với bờ hồ tây bắc giáp ranh với kinh đô cổ thời ở khu đền Angkor.   Nhưng kích thước của hồ khác nhau một cách rõ rệt giữa hai bản đồ.  Bản đồ của Ramusio cho thấy nó như một hồ tương đối nhỏ được giới hạn vào miền châu thổ sát cạnh, trong khi bản đồ của Gastaldi chạy dài gần đến vĩ độ 5o .  Tại sao lại có một sự khác biệt đến thế giữa hồ trên hai bản đồ có các vùng lục địa, mặt khác, liên hệ chặt chẽ với nhau?  Chiều rộng của hồ Tônle Sap trong thực tế thay đổi một cách sâu xa, mở rộng và thu nhỏ khi mà hạ lưu sông Mekong thực sự đảo ngược dòng chảy hai lần trong một năm.  Giống như một lá phổi của lưu vực sông Mekong, hồ nhiều cá mở rộng và thu nhỏ theo mùa,thay đổi kích thước gần mười lần từ khoảng 2600 đến 25,000 kilomét vuông, và chính vì thế các nhà thám hiểm nhìn thấy hồ ở các thời điểm khác nhau trong chu kỳ của nó sẽ báo cáo các cảnh tượng hoàn toàn khác biệt.  Ramusio chỉ đơn giản chỉ danh hồ là Lago, trong khi Gastaldi dùng chữ Lago de Cambodia (Hồ của Căm Bốt).  “Tônle Sap”là một từ ngữ tiếng Căm Bốt có nghĩa “hồ vĩ đại”, giống như Chao Phraya hay Sông của Thái Lan từ lâu được gọi bằng một danh từ của Thái để chỉ con sông, “menam”. [hết trích dịch]

Xin xem và so sánh các hình 74 và 75 bên trên, chú của người dịch.

***

Hình 78: Thuyền xưa đáy bằng, boong thấp, chèo bằng tay của nhà vua Bắc Kỳ, và (góc dưới, bên phải], cách họ ăn cơm bằng đũa.  Trong tập Delle Missionidé Padri della Campganiadi Giesu của Marini, Rome, 1663.  Vị tu sĩ địa phận Choisy thuật lại một sự trình bày sống động về các chiếc thuyền này mà ông đã nghe được trong cuộc du hành đến Xiêm La năm 1685 của ông, và tương hợp một cách chặt chẽ với hình minh họa của Marini.  “Mỗi thuyền đáy bằng [của Cochin-China] có ba mươi sáu tay chèo ở mỗi bên,” (được vẽ với con số chính xác) và chỉ có một người cho mỗi mái chèo.  Phần mũi và đuôi tàu bỏ trống  và đài cao dành cho các sĩ quan.  Không có gì ngăn nắp cho bằng các người này.  Các tay chèo phải luôn luôn trông chừng vị thuyền trưởng, kẻ bằng động tác của chiếc gậy chỉ huy ra hiệu cho họ thi hành các mệnh lệnh của ông.  Tất cả nằm trong một sự hòa hợp đến nỗi một nhạc trưởng khó làm khá hơn trong việc phối hợp nhịp điệu các nhạc sĩ của mình cho bằng một vị thuyền trưởng một chiếc thuyền đáy bằng của Cochin-china tuân theo sự di chuyển của chiếc gậy chỉ huy.  ”Vị nhạc trưởng” đứng trên “bục” bên trái, tay cầm gậy chỉ huy.  Mặt ngoài của thuyền được quét sơn bóng màu đen và mặt trong có một lớp sơn mài màu đỏ trên đó người ta có thể thấy phản chiếu khuôn mặt của mình.  Tất cả mái chèo đều được thếp vàng.” (Cảm ơn hảo ý của Martayan-Lan, New York)

*****

Phụ Lục 17

Các Phái Bộ Truyền Giáo Âu Châu Đến Việt Nam

(các trang 216-217)

       [Bắt đầu trích dịch] Các giáo sĩ Dòng Tên Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha, và Pháp đã bắt đầu tổ chức các phái bộ sang Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ mười bẩy.  Alexandre de Rhodes, quê quán tại Avignon đã làm việc trong hai thập niên tại Đông Á Châu, được phái đến Bắc Kỳ (Tongking) trong năm 1627 bởi các bề trên của ông ở Ma Cao.  Đã sẵn học ngôn ngữ Việt Nam trong thời cư trú trước đó tại nước này, ông đã thành lập một phái bộ ở Hà Nội và tuyên bố đã thụ hưởng sự thành công mau chóng và vững chắc trong các sự cải đạo (mặc dù Willam Dampier tường thuật rằng nhiều người cải đạo được báo cáo bởi các nhà truyền đạo Thiên Chúa là các kẻ nghèo đói đã tìm đến các người Âu Châu để có gạo “trong các thời kỳ khan hiếm”).  Tuy nhiên, ông Rhodes đã bị trục xuất ba năm sau đó, nhiều phần bởi các bà vợ của nhà vua cùng gia đình của họ, các kẻ lo sợ tương lai sẽ ra sao nếu các giáo lệnh của Thiên Chúa chống lại chế độ đa thê được chấp nhận, đã áp lực nhà vua cấm đoán ông ta.  Trong năm 1650, một năm sau khi trở lại Rome, ông Rhodes đã xuất bản một tập tường trình về Việt Nam có chứa một bản đồ phần miền bắc của xứ sở (Hình 130).  Nhan đề của bản đồ trưng dẫn danh xưng cổ xưa, “An Nam”, có nghĩa “miền nam đã được bình định”, một sự ám chỉ đến sự khuất phục của nó dưới sự cai trị của Trung Hoa từ khoảng 111 trước Công Nguyên đến năm 939 sau Công Nguyên.  Bản đồ phản ảnh hình ảnh của miền bắc Việt Nam như có nhiều con sông ngắn, điều mà Choisy đã mô tả trong năm 1685 như “quá ngắn và quá nhiều đến nỗi không ai đặt tên cho chúng cả.”

Một bản đồ Việt Nam đáng lưu ý khác được họa vào thời khoảng này bởi Daniel Tavernier, kẻ đã thực hiện mười một hay mười hai cuộc du hành đến Bắc Kỳ trong thập niên 1640 từ các tiền trạm tại Nam Dương.  Daniel mất năm 1648, nhưng người (anh) em nổi tiếng hơn của ông, Jean Baptiste, đã công bố bản đồ của Daniel vào năm 1679 (Hình 131) như một phần của phụ lục cho tập tường trình các cuộc du hành của chính ông đến Á Châu, vốn đã mang lại cho ông một sự giàu có đáng kể nhờ việc mua bán kim cương.  Bản đồ và các phần ghi chú khác nhau, giống như sự tường thuật về Bắc Kỳ của tác giả, chứa đựng cả các tin tức xác thực lẫn hoang đường.

Dampier đã để lại cho chúng ta các cảm tưởng của ông về việc ngược dòng sông lên Hà Nội (Kecio trên bản đồ của Rhodes, Checo trên bản đồ của Tavernier):

Trong khi chính từ đó chúng tôi đi ngược dòng Sông, đôi khi chèo tay và đôi khi trương buồm, chúng tôi nhìn được một cảnh tượng ngoạn mục trên Xứ Sở phì nhiều bằng phẳng khoảng khoát.  Tổng quan, hoặc Đồng Cỏ hay các cánh đồng ruộng Lúa và vắng bóng cây cối, chỉ ngoại trừ gần các Ngôi Làng, mọc lên san sát, và trông có vẻ vô cùng thích thú từ xa.  Có nhiều Ngôi làng nằm sát các bờ của các con Sông, bao quanh bởi Cây Cối chỉ mọc ở phía đàng sau , nhưng để ngỏ ở mặt hướng đến con Sông.

Dampier đã mô tả thành phố là đông đảo, nhưng kinh đô rất ngăn năp được chia thành 72 khu vực, mỗi khu có một con đường chính rộng lớn với nhiều phố bên hông nhỏ hơn.  Nó là thị trường chính cho vùng Châu Thổ sông Hồng.  Trong khi bản đồ của Rhodes dành cho An Nam (miền bắc Việt Nam) [tức Đàng Ngoài khi đó, chú của người dịch], bản đồ của Tavernier bao gồm toàn thể bờ biển Đông Dương.  Bên ngoài vùng Châu Thổ sông Mekong vẽ rất sai lạc của mình, Tavernier có xác định Quần Đảo Condore (Côn Đảo) với tên Tortues bởi các con rùa được thấy thật nhiều ở đó.  Dampier có nói nhiều về các con rùa màu lục tìm thấy ở Condore và các đảo lân cận, và đặt giả thuyết rằng chúng có thể đã di tản sang từ mãi Đảo Ascension.

Sau khi người Anh đóng cửa cơ xưởng của họ tại Hà Nội trong năm 1697 (người Hòa Lan đóng cửa xí nghiệp của họ trong năm 1700), người Anh đã nhắm Côn Đảo (Pulo Condore) như một địa điểm thay thế.  Dampier đã nêu ý kiến về Côn Đảo như một căn cứ; dừng chân tại hòn đảo trong năm 1687, ông ghi nhận rằng “Côn Đảo là đảo chính của một đống các hòn đảo, và là hòn đảo duy nhất có người cư ngụ trong số các hòn đảo”, bổ túc rằng “ các hòn đảo này nằm rất gần nhau, rằng với một khoảng cách khiến chúng trông có vẻ chỉ là một hòn đảo độc nhất.”

Dampier tiếp tục mô tả các tính chất thể hình của người dân tại Côn Đảo, nhừng người ông xem ra tìm được sự hấp dẫn, và ca tụng sự tự do của phụ nữ trên đảo.  Nhưng ông cũng có các kế hoạch cho nước ông ở đó.  “Các hòn đảo này”, Dampier giải thích,

Nằm rất thuận lợi trên đường đến và đi từ Nhật Bản, Trung Hoa, Manila, Đàng Ngoài (Tonquin), Đàng Trong (Cochinchina), và nói chung mọi vùng ở Bờ Biển Cực Đông của Lục Địa Ấn Độ này …  Bất kỳ Tàu Thuyền nguy khốn nào có thể được tái tiếp tế và bổ sung tại đây một cách rất thuận tiện …   nó cũng có thể là một địa điểm thuận tiện để dẫn đường cho một công cuộc Thương Mại với nước Láng Giềng của Đàng Trong, các Đồn Lính có thể được xây dựng để bảo toàn cho một Cơ CXưởng, đặc biệt tại Bến Tàu, với khả năng có thể được củng cố một cách hoàn hảo.

Dampier có bao gồm một bản đồ Côn Đảo vào tập tường trình của ông bởi, ông giải thích, địa dư của nó ít được hay biết đến.  Trong năm 1702, như ông dự kiến, Công Ty Đông Ấn Độ (East India Company) trong thực tế đã thiết lập một cơ xưởng trên Côn Đảo, nhưng nó chỉ tồn tại trong ít măm.  Khi nhìn lại, Alexander Hamilton, kẻ đã đến Đông Nam Á ngay sau Dampier và đã ở lại cho đến năm 1723, đã ghi nhận rằng Côn Đảo là “một sự lựa chọn tồi để làm thành một thuộc địa, rằng đảo không sản xuất gì khác ngoài gỗ, nước, và cá để bắt.”

Hình 130: Regnu Annam, một bản đồ sớm sủa của riêng biệt Việt Nam, từ sách của A. de Rhodes, quyển Relazione dé felici successi della SanteFede nel Regno di Tunchino, 1650 [Antiquariaat Forum, Catalogue 105]

***

Hình 131: Việt Nam, của Daniel Tavernier.  Từ J. Chr. Wagner, Delineatio Provinciarum Pannonise … 1684-86 (16.5 x 21 cm)

*****

Phụ Lục 18

Hải Lộ Singapore – Trung Hoa và Quần Đảo Hoàng Sa

(các trang 244-245)

       Các người đi biển Bồ Đào Nha trở nên quen thuộc với Quần Đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) hồi đầu thế kỷ thứ mười sáu, khi họ trước tiên trương buồm về hướng đông bắc từ Malacca dọc theo bờ biển Trung Hoa.  Nhưng trong khi các đảo như Tioman và Condore (Côn Đảo) là các nơi trú náu an toàn trên lộ trình giữa Trung Hoa và Ấn Độ Dương, Quần Đảo Paracel là một mối đe dọa.  Dampier đã ghi nhận sự nguy hiểm của chúng, và sau đó không lâu, Alexander Hamilton nhận xét rằng Quần Đảo Hoàng sa là “một chuỗi đá nguy hiểm, dài khoảng 130 hải lý, và rộng khoảng mười lăm hải lý, và chỉ có một số ít đảo ở mỗi đầu cực.  Có nhiều thủy triều nội vi giữa các đảo đó, nhưng không có dấu hiệu hay biết nào để cảnh báo tránh xa các nguy hiểm gần đó.”  Hamilton ghi nhận rằng nỗi lo sợ bị vỡ tàu tại Quần Đảo Hoàng Sa khiến cho các lái thuyền bám sát lấy bờ biển Đông Dương.

Trong năm 1808, một họa đồ Quần Đảo Paracels được ấn hành và công bố bởi James Horsburgh,  Nhà Vẽ Thủy Đạo của Công Ty Đông Ấn, và được mang theo trên các chiếc tàu Anh Quốc chạy đường Trung Hoa và Singapore.  Nhưng thí dụ được trình bày nơi đây (Hình 152), là một bản đồ vẽ tay, chứ không phải là bản đồ được ấn loát.  Mặc dù các bản đồ được in vào thời điểm này đã thay thế phần lớn các bản đồ vẽ tay làm tài liệu tham khảo chính yếu cho các kẻ dẫn đạo và các thuyền trưởng trên các lộ trình thường xuyên, bản vẽ tay vẫn tiếp tục phục vụ như một phương cách tái sản xuất mau chóng trong khi trên biển hay ở một hải cảng xa xôi.  Khi các bản sao phụ trội của một bản đồ cần đến trên đường đi, nó sẽ được sao chép lại bằng tay.  Đây là một thí dụ của một sự sản xuất như thế, được sao chép tỉ mỉ từ bản in (hay một bản sao chính MS [?] khác từ bản đồ được chạm khắc), có lẽ trên một chiếc tàu Anh Quốc tại Ấn Độ. 282 Ngay tên người chạm khắc, một đặc điểm xem ra dư thừa cho mục đích sao chép, đã được giữ lại.

Hình 152 Quần Đảo Hoàng Sa (The Paracel Islands, một bản sao vè tay từ họa đồ được ấn loát của James Horsburgh, khoảng 1810 (61.5 x 61.5 cm).  Bản sao chép bằng tay này có lẽ đã được thực hiện tại Ấn Độ trên một chiếc tàu hay một hải cảng nơi mà các bản sao phụ trội của bản đồ đã  ấn hành không được cung cấp.  Bờ biển có đường chéo  ở góc dưới bên trái là Đà Nẵng, Việt Nam.  Macao được đánh dấu theo hướng góc trên bên phải, Thành Phố Quảng Châu được chấm định ở đường biên, phía bên trên của bản đồ và đảo Hải Nam nằm ở trong khu vực bị chiếm bởi nhan đề bản đồ dài rộng.  Các hòn đảo khác nhau tạo thành Quần Đảo Hoàng Sa hiện ra ngay phía trước.

*****

Phụ Lục 19

Các Bản Đồ “Âu Châu” Được Lập Tại Đông Nam Á

(trang 251)

       [Bắt đầu trích] Các bản đồ Forrest lập cho triều đình Mindanao và các người quen biết ở Bugis đã là các bản đồ “Âu Châu” được thực hiện tại vùng Đông Ấn Độ.  Sự sản xuất bản đồ, trong thực tế, là một cuộc kinh doanh tiếp diễn của người Âu Châu tại Đông Nam Á.  Gần như tất cả các bản đồ như thế đều ở dạng vẽ bằng tay, được sản xuất vừa cho sự sử dụng địa phương của các kẻ định cư, vừa để xuất cảng về mẫu quốc, nơi chúng sẽ phục vụ cho việc tu sửa các bản vẽ chính phủ chính thức về miền đất này.  Các bản vẽ của Tây Phương về Á Châu như thế thì hiếm có, bởi không chỉ các bản đồ vẽ tay tự nó đã hiếm hoi, được sản xuất từng bản một,  mà chúng còn phải chịu đụng sự hư hao của việc chuyên chở bằng tàu, và sự sử dụng địa phương, cũng như khí hậu nóng và ẩm.  Đối với người Hòa Lan, trung tâm chính cho sự sản xuất bản đồ tại Đông Nam Á là Batavia; Hình 157 tượng trưng cho một công trình vô danh ở Batavia như thế. [hết trich]

Hình 157: Một họa đồ vô danh của V.O.C. (Công Ty Đông Ấn của Hòa Lan) bao gồm vùng Biển Nam Hải (South China Sea), từ bắc Borneo chạy xuyên qua Việt Nam và Mã Lai, được lập ra tại Batavia hồi đầu thế kỷ thứ mười tám.  Mặc dù Căm Bốt đã là một mục tiêu của Công Ty Đông Ấn (V. O. C.) kể từ năm 1620, sự xâm nhập nghiêm chỉnh của Hòa Lan vào xứ sở này chỉ diễn ra sau khi thương mại của Nhật Bản với Căm Bốt bị đình chỉ sau năm 1635.  Công Ty V. O. C. đã thiết lập các căn cứ tại Phnom Penh để thực hiện công cuộc mậu dịch bị bỏ rơi bởi người Nhật, hoạt động một cách bất thường xuyên cho đến khoảng 1670, khi sự bất ổn chính trị của xứ sở chứng tỏ là một gánh nặng quá to lớn.  Sự kiện rằng Âu Châu phần lớn vẫn còn ngây ngô về Căm Bốt cho đến thời đại tương đối gần đây được phản ảnh qua việc rằng các sự tường thuật về tầm mức vĩ đại có thực của khu đền Angkor vẫn không được xem là khả tín cho đến thế kỷ thứ mười chín. (100.5 x 66 cm) (Paulus Swaen Old Maps Internet Auction)

*****

Phụ Lục 20

Xứ Chàm Trên Bản Đồ Của Johann Ruysch (1507),  và

Trong Các Văn Bản của Odoric, Mandeville và Tomé Pires

(các trang 104-105)

       [Bắt đầu trích dịch] Ở phía trên bên phải hình thu nhỏ bản đồ của Ruysch, có một bán đảo với một thành phố tên là Zaiton.  Hải cảng này, từ đó đòan người của Marco Polo khởi sự cuộc phiêu lưu kỳ thú của họ xuyên qua các hải phận Đông Nam Á, là Ch’uan-chou [Quanzhou: Tuyền hay Tòan Châu?], tại miền hải cảng Amoy của Trung Hoa 153.  Từ Zaiton, họ đã hộ tống một thiếu nữ có tên là Kokachin, được tuyển chọn để trở thành hoàng hậu của Persia, “1500” dậm ngang qua một vịnh đến Ciamba (Champa, tức Chàm hay Chăm), một vương quốc duyên hải cổ xưa ở phần giờ đây là miền trung Việt Nam, được biết bởi người Trung Hoa là Lin-yi (Lâm Ấp).  Polo đã đến thăm người Chàm đang tiến đến hồi kết thúc nền văn minh của họ, vốn đã phát triển trong hơn một nghìn năm, từ khoảng thế kỷ thứ nhì cho đến thế kỷ thứ mười bốn.  Polo đã xem xứ Chàm như khởi điểm phía đông của Đông Nam Á, phần mà ông gọi là “Tiểu Ấn Độ” (Lesser India: Ấn Độ Nhỏ Hơn” và đã mô tả như miền trải rộng từ xứ Chàm ở phía đông xuyên qua Motupalli (đông Ấn Độ) sang phía tây.

Ruysch đặt định Silva Aloe tại miền nam xứ Chàm.  Danh xưng để chỉ một khu rừng có cây lô hội [aloes trong nguyên bản, nhiều phần phải là aloeswood, tức cây gỗ trầm hương, chú của người dịch] quý báu mà Polo nói là vua Chàm đã dâng hiến như một phần trong cống phẩm hàng năm của ông lên Kublai Khan.  Tại vùng núi bên trên xứ Chàm, cũng như đi sâu hơn về phía nam dọc theo bờ biển Việt Nam, Ruysch cho thấy silva ebani (rừng gỗ mun màu đen; forests of ebony), loại gỗ mà Polo cho chúng ta  biết, được dùng để làm quân cờ và các hộp đựng bút.  Polo đã dùng danh từ bonus cho ebony, từ chữ abnús của tiếng Persian (Ba Tư).

Theo Polo, không người đàn bà nào của Chàm có thể kết hôn cho đến khi nhà vua nhìn thấy cô ta đầu tiên, bởi “nếu cô ấy làm vừa lòng ông, khi đó ông sẽ lấy làm vợ”. Các sử gia hiện đại không nghĩ rằng Polo đã nói quá đáng khi ông báo cáo rằng nhà vua Chàm đã có 326 đứa con (con số thực sự sai biệt đôi chút) từ nhiều bà vợ của ông ta.  Odoric của Pordenone, người đã đến xứ Chàm từ Java khoảng năm 1323, đã tán đồng.  Nhà vua xứ Chàm “đã có quá nhiều vợ và nàng hầu, rằng ông ta đã có ba trăm đứa con trai và con gái từ họ.” Odoric cũng lấy làm kinh sợ bởi sự thu thập đàn voi của nhà vua, ghi nhận rằng “nhà vua đã có 10,004 con voi đã được thuần hóa, được bảo quản y như chúng ta đi chăn bò, hay các đàn cừu trên đồng cỏ.”  Vị tu sĩ lương hảo có nêu ý kiến rằng xứ Chàm là “một xứ sở giàu có và xinh đẹp nhất, và trần đầy mọi thứ lương thực.”

Cứ cách một năm, theo Odoric, cá bơi vào bờ biển của xứ Chàm “một cách phong phú đến nỗi, nhìn ra rất xa ngoài biển, không thấy gì ngoài các cái lưng của bầy cá.”  Cá tự quăng mình lên trên bờ biển nơi, trong một thời khoảng ba ngày, người ta “đến đó có thể bắt nhiều cá đến mức mình muốn .”  Bầy cá còn lại sau đó trở về biển, và một loại cá khác đến hiến mình theo cùng cách thức như thế.  Câu chuyện về cá của xứ Chàm đã gợi hứng cho John Mandeville, tác giả thế kỷ thứ mười bốn bịa đặt ra một hòn đảo gọi là Calonak cho quyển sách kiến thức du lịch của ông ta.  Mandeville, với năng khiếu thông thường của ông, đã lãng mạng hóa sự mô tả của Odoric về xứ Chàm, khai triển một cách đầy tưởng tượng trên đó.  Hiện tượng của nhiều đoàn cá tự quăng mình trên bờ biển của Chàm, Mandeville giải thích, được nói là kết quả của sự sinh sản phi thường đàn con của nhà vua.  “Bởi vì ông đã chu toàn lời răn mà Chúa đã yêu cầu ông Adam và bà Eve, khi Thượng Đế phán, Crescite et multiplicamini et replete terram [trích dẫn từ Thánh Kinh Công Giáo, Genes 1.28, có nghĩa: Hãy sinh sản, làm đông gấp bội và bồi bổ cho trái đất, chú của người dịch] .. do đó Chúa đã gửi đến nhà vua đủ mọi loại cá khác nhau có mặt ngoài biển, để bắt lấy tùy ý nhà vua cho chính ông và dân chúng của ông.”

Các báo cáo đầu tay mới về xứ Chàm xảy ra không lâu sau bản đồ của Ruysch, với quyển Suma Oriental của Tomé Pires (1515).  Pires thuật lại rằng xứ Chàm là một vương quốc nông nghiệp và không có các hải cảng thích hợp cho các thuyền buồm lớn, nhưng có một ít thị trấn nằm trên các con sông của nó.  Sản phẩm xuất cảng chính yếu của nó là cá khô, gạo, đồ dệt, hạt tiêu, và gỗ trầm hương (calambac hay aloe-wood), với phẩm chất thượng hạng, chủ yếu được chở sang Xiêm La. [hết trích]

Hình 55: Bản Đồ Thế Giới, Johann Ruysch, 1507 (phóng lớn chi tiết).  Sự phóng chiếu thành hình quạt bản đồ thực sự đã cắt đôi ngang qua vùng Đông Nam Á (xem hình 56, bên phải), nhưng hai mép của bản đồ được nối liền nhau trên hình trình bày ở trên. (40.5 x 53.5 cm)

***

*****

Phụ Lục 21

Huyền Thoại Âu Cơ

(trang 17)

       [Bắt đầu trích] “Huyền thoại về nền văn minh khai diễn tại miền bắc của vùng nay là Việt Nam cũng thuật lại lại một câu chuyện tương tự, nhìn nhận món nợ của Việt Nam đối với văn minh Trung Hoa, trong khi thách đố sự thống trị của Trung Hoa.  Huyền thoại truy tìm các gốc rễ của người Việt Nam nơi sự kết hợp của một người đàn bà Trung Hoa và một anh hùng, Lạc Long Quân (Lac Lord Dragon).  Lạc Long Quân từ vùng biển du nhập vào Đồng Bằng Sông Hồng ngày nay là miền bắc Việt Nam, đánh đưổi loài ma quỷ ra khỏi đất nước, và dậy cho dân chúng “trồng lúa gạo và mặc quần áo.”  Ông đã ra đi, hứa quay lại nếu cần đến ông.  Khi một nhà vua Trung Hoa đi xuống phương nam và tìm cách khuất phục người dân, Lạc Long Quân được triệu thỉnh.  Ông đã bắt cóc vợ của kẻ xâm lăng, người đàn bà có tên là Âu Cơ, dấu bà ta ở trên định một ngọn núi trông xuống sông Hồng, và nhà vua Trung Hoa, không thể tìm thấy bà ấy, đã quay về nước với sự tuyệt vọng.  Một đứa con trai đã được sinh ra bởi bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, chính từ đó khởi đầu cho một triều đại mới. “ [hết trích]

Câu chuyện trên tuy có nhiều chi tiết tương tự, nhưng cũng có nhiều sự  khác biệt với truyền thuyết về Âu Cơ trong các bộ huyền sử và lịch sử Việt Nam như Lĩnh Nam Chích QuáiĐại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Rất có thể tác giả đã sử dụng một phiên bản nào khác rút ra từ sách vở của Trung Hoa, vì có sự kiện không thấy có trong tài liệu Việt Nam.  Câu chuyện trich dẫn bởi tác giả ít nhiều có tính cách hạ thấp giá trị của bà Âu Cơ, trong khi quyết đoán rằng người Việt Nam có mẹ là người Trung Hoa [sic], mang đặc điểm trịch thượng và miệt thị truyền thống trong sử ký Trung Hoa đối với các dân tộc lân cận không phải là cùng gốc dân Hán.  Lịch sử Trung Hoa vốn bị đánh giá bởi cac sử gia Tây Phương là khó có được tính cách khách quan, sẵn sàng sửa đổi lịch sử sao cho có lợi cho triều đình Trung Hoa hay nếu cần ngụy tạo cả sử kiện nữa.  Chính vì thế, chính sách đối ngoại của Trung Hoa thường không hợp lý và sử sách Trung Hoa ít khi phản ảnh trung thực mối quan hệ giữa Trung Hoa và các lân bang.  Câu chuyện Âu Cơ trích dẫn ở trên, tuy chỉ là thần thoại, nhưng nhiều phần cần phải được nghiên cứu kỹ càng hơn để kiểu chính các sự trá ngụy hay sai lầm nếu có.  Một thí dụ khác như việc đặt tên nước là Xích Quỷ! Thật khó tưởng tượng là có một vị vua nào lại tự nhận dân mình là ma quỷ và muốn đặt tên nước mình cai trị một cach phi lý đến thế.  Nhiều phần đây là sự bịa đặt để miệt thị của các sử gia Trung Hoa cô xưa, và cũng cần phải được kiểu chính.  Xin xem thêm Phụ Lục B bên dưới, Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ của tác giả Keith Weller Taylor.

*****

Phụ Lục 22

Claudius Ptolemy

(các trang 63, 64, 82)

       (Bắt đầu trich) Ptolemy nhà địa dư học cổ thời nổi tiếng nhất, … có thể được xem như đỉnh cao nhất của truyền thống họa đô thế giới của Hy Lạp, là một người Ai Cập đứng đầu thư viện tại Alexandria (Ai Cập) giữa khoảng 127 – 150 sau Công Nguyên.  Quyển Geographia của ông, nhiều phần là một sự bổ chính quan trọng do công lao của Marinus, đã đẩy các vùng biên cương của bản đồ thế giới để bao gồm một sự phác họa” thực sự” về Á Châu, mặc dù bản đồ của Ptolemy, như thường được tái xây dựng, đã không vẽ lại các bờ biển phía đông của lục địa.

Có lẽ điều khác thường nhất trong câu chuyện về Ptolemy là sự kiện các văn bản của ông thực sự nằm yên trong hơn một nghìn năm, và rồi phi nhanh vào sự nhận thức của Âu Châu như là có tính cách mới mẻ và cách mạng hồi thế kỷ thứ mười lăm,  như chúng đã từng được xem là như thế trong thế kỷ thứ nhì sau Công Nguyên.  Thực ra, mặc dù Ptolemy không được hay biết tới tại Tây Âu trong một nghìn năm trăm năm sau Công Nguyên, quyển Geographia đã được duyệt xét bởi giới hàn lâm Byzantine trong thế kỷ thứ mười hay mười một, có thể một số những gì mà chúng ta hay biết về công trình của Ptolemy trong thực tế có thể phát sinh, hay ít nhất có thể đã được tu sửa bởi các học giả này.” …

… “Ptolemy đã chia Á Châu thành 12 phần, trong đó Đông Nam Á và Trung Hoa (Sinae) ở trong phần thứ 11 và Taprobana (Tích Lan) ở phần thứ mười hai.  Một sự duyệt xét kỹ lưỡng một bản đồ Đông Nam Á theo Ptolemy, thí dụ, là bản đồ xuất hiện trong ấn bản quyển Geographia ở Rome năm 1478, hay bản in năm 1511 bởi Bernard Sylvanus (lần lượt làHình 32 và 43), cho thấy một bán đảo tại phía đông Ấn Độ Dương, là một phỏng chừng sơ sài vùng Mã Lai và Đông Dương.  Như thế đâu là các sự xác minh của nhiều thành phố, sông ngòi và núi non của Đông Nam Á được ghi chép trong quyển sách của Ptolemy? Ptolemy đã đưa ra các tọa độ chính xác cho gần tám nghìn địa điểm trên trái đất mà ông đã lập danh biểu, và đang có sự cố gắng để thử nghiệm và phối hợp những địa điểm của vùng Đông Nam Á với các vị trí hiện thời trên bản đồ. Điều xem ra hợp lý rằng người ta sẽ chỉ cần bù đắp cho các sự sai lầm khác nhau của Ptolemy bằng việc tái xây dựng Đông Nam Á của hai thiên niên kỷ trước (hay ít nhất Đông Nam Á của các học giả Byzantine đã xen vào can thiệp là các kẻ có thể phải chịu trách nhiệm cho các phần của quyển Geographia).  Sự quý trọng cao cả mà Ptolemy được dành cho, cộng với sự hiện diện tỉ mỉ của các tọa độ của ông, sẽ mang lại cảm tưởng rằng đã có ý nghĩa thực sự sẽ được thu lượm từ các con số của ông…” [hết trích]

*****

Phụ Lục 23

Tomé Pires

(trang 79)

[bắt đầu trích dịch] Tomé Pires là một nhà bào chế dược phẩm người Bồ Đào Nha, đã đến Ấn Độ năm 1511 khi ở tuổi 40.  Trong khi ở Malacca giữa các năm 1512-1515, ông đã đặt bút ghi lại bấy kỳ điều gì ông nghe thấy được về thế giới bao la của Ấn Độ, và đặt tên cho tác phẩm của mình là Suma Oriental.  Pires sau đó được phái bởi Afonso de Albuquerque đến Sumatra và Cochinchina [Việt Nam], và sau đó được bổ nhiệm làm đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha tại Trung Hoa.  Quyển Suma Oriental là tài liệu đáng ghi nhớ nhất về Đông Nam Á vào lúc mở màn thời kỳ Âu Châu.  Tập biên soạn thực sự phi thường các dữ liệu này vẫn chưa được ấn hành cho đến khi Ramusio bao gồm các trích đoạn ngắn vào quyển Navigationi của ông ta.  Bởi vì nó không thực sự được biết đến cho đến sau khi nhiều báo cáo hiện hành được lưu truyền, quyển Suma Oriental đã không có ảnh hưởng trực tiếp trên các bản đồ được ấn hành.

*****

Phụ Lục 24

Giovanni Battista Ramusio, kẻ đã khai sinh ra

Quần Đảo Hoàng Sa trên Bản Đồ

Ramusion được ghi nhận là người đầu tiên đã vẽ và ghi chú về Quần Đảo Hoàng Sa trên bản đồ do Âu Châu lập ra nói riêng, nếu không phải là đầu tiên thê giới giới.  Ông sinh ngày 20 Tháng 7, 1485 tại Treviso, Cộng Hòa Venice và mất ngày 10 Tháng Bẩy năm 1557 tại Padua.  Năm 1505, ông làm thư ký cho Alvise Mocenigo, khi đó đang làm đại sứ của Venice tại Pháp.  Ông rất lưu tâm đến địa dư học, và công việc giúp ông nhận được tất cả tin tức mới nhất từ các nhà thám hiểm Âu Châu khi chúng đựoc gửi về Venice.  Ông thông thạo nhiều ngôn ngữ, đã biên soạn các tài liệu này thành một bộ bút ký du hành gồm 3 tập, có nhan đề là Navigationi et Viaggi , ghi lại các sự tường thuật của chính các nhà du hành, được ấn hành trong thời khoảng 1550 đến 1559.  Bộ sách này được xem là mở đường cho các tác phẩm du hành kế tiếp như của Richard Hakluyt (phần phụ lục này được viết theo Wikipedia, chú của người dịch).

*****

Phụ Lục 25

Giacomo Gastaldi

(trang 130)

(Bắt đầu trích dịch) Danh tính của Giacomo chế ngự việc vẽ bản đồ vùng Đông Nam Á trên các bản đồ được in ra suốt các thập niên giữa thế kỷ mười sáu.  Sinh quán tại Piedmont, Gastaldi là một kỹ sư và nhà vẽ bản đồ thế giới sáng chói hoạt đông tích cực tại Venice, và đã góp phần trách nhiệm lớn lao cho sự phát triển ngành đia dư học tại Venice trong thời đại này.  Ông đã vẽ ra ba bản đồ tốt về Đông Nam Á, mỗi bản đồ đã cung cấp sự trình bày hay nhất và được ấn hành gây hứng khởi nhất về vùng đất này trong thời điểm của nó.  Bản đồ đầu tiên được ấn hành như một phần trong ấn bản của ông về quyển Geographia của Ptolemy vào năm 1548, bản đồ thứ nhì trong năm 1554 như một phần của một tuyển tập về các cuộc du hành của Ramusio, và bản đồ thứ ba là một bản đồ Á Châu được ấn hành riêng biệt trong năm 1561, sau đó được bổ túc bởi một mảnh khác nữa vào năm 1565, chính vì thế, đã nới rộng phạm vi bản đồ xuống tới tận phía nam của xích đạo. [hết trích]

Xin xem các bản đồ của Gastaldi được trưng dẫn ở các phần phụ lục bên trên.

*****

Phụ Lục 26

William Dampier

(trang 211và trang 20)

       [Bắt đầu trích] Một trong những nhân vật khiêu gợi sự tò mò nhất đã lang thang – và vẽ bản đồ — các hải phận Đông Nam Á trong thời gian này là một kẻ phiêu lưu người Anh, William Dampier.  Dampier đã ra biển từ năm mười sáu tuổi, đi thuyền đến nhiều nơi chốn khác nhau, trong đó có Á Châu, trong thập niên kế tiếp.  Trong năm 1679, ở tuổi 27, anh ta rời Anh Quốc để đi Jamaica, nơi anh đã ở lại trong một năm.  Trong chuyến trở về, khi thủy thủ đoàn nổi loạn, Dampier đã chọn việc gia nhập cùng các người nổi dậy.  Trong gần sáu năm, Dampier và các kẻ đồng thuyền đã đánh cướp các khu định cư của Tây Ban Nha tại Nam Mỹ châu, hai lần đã vượt qua eo đất Panama.  Trong năm 1680, anh ta gia nhập một nhóm hải tặc đã chiếm đoạt một chiếc tàu và băng qua Thái Bình Dương đến Phi Luật tân, Sumatra và Bắc Kỳ (Tongkin).  Trong năm 1688, mệt mỏi với cuộc sống của một kẻ phục dịch quét dọn, anh ta đã thuyết phục đám hải tặc hãy để anh ta ở lại trên một trong các hòn đảo của Nicobar.  Cuối cùng, sau mười hai năm rưỡi, và hơn mười chuyến tàu cùng các thuyền bản xứ — Dampier đã quay trở lại được nước Anh vào năm 1691.

Điều khó hiểu của Dampier là trong sự tương phản lớn lao với bản chất đánh thuê của các đồng bạn hải tặc, Dampier có thể được xem như một trong những kẻ đầu tiên của một loại “giác ngộ hơn”, quan sát kỹ lưỡng và thu thập khách quan các tin tức, là các kẻ sau đó đã gia nhập vào các cuộc thám hiểm khoa học vĩ đại của thế kỷ thứ mười tám.  Anh ta đã lưu giữ một tài liệu ghi chép chính xác nhiều loại dữ kiện đia dư – bản chất của bờ biển, bãi cát đá nông, gió, và luồng chảy; anh ta nêu ý kiến rằng các họa đồ quy ước đã ước lượng quá thấp chiều rộng của Thái Bình Dương đến 25 vĩ độ và rằng Ấn Độ Dương đã bị ước lượng thái quá với tỷ lệ tương ứng; và anh ta đã cố để sưu tập bằng cớ để chứng minh rằng chiều sâu của biển thì sâu hơn dọc theo bờ biển có núi dựng đứng và nông ngoài khơi bờ biển nằm thấp.

Dampier cũng mô tả bản chất và phong tục của các dân tộc và nền văn minh mà anh ta đã đi qua, cẩn trọng mà không ước đoán về điều mà anh ta không biết, và luôn luôn cho hay khi các tin tức đến từ các nguồn tin mà chính anh ta không kiểm chứng được.  Có cả một dấu hiện của sự ca ngợi sắp đến về Kẻ Hoang Dã Cao Quý khi, được để lại bơ vơ một mình trên bờ biển Nicobar, anh ta ghi nhận rằng anh ta không hề gặp mặt các kẻ ăn thịt người được nghĩ là sẽ thấy xuất hiện ở đó và đã nói về tính thiện cơ bản của người dân.  “Tôi có ý kiến,” anh ta phát biểu, “rằng không có dân tộc nào trên thế giới lại quá man rợ đến thế, để giết chết một con Người chỉ tình cờ rơi vào tay họ …”.  Chúng ta sẽ được nghe nhiều hơn về kẻ lang thang sâu sắc này trong các trang sách sau này. [hết trích]

Dampier có để lại một quyển sách trong đó thuật lại những nhận xét về đời sống tại Đàng Ngoài Việt Nam khi đó. “William Dampier, cư dân tại Bắc Kỳ (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ thứ mười bẩy, ghi nhận rằng chính các phụ nữ đã quản trị sự hoán đổi tiền tệ, và rằng sự kết hôn sẽ thiết lập một sự liên minh giữa các thương nhân ngoại quốc vẫn quay trở lại hàng năm với các phụ nữ địa phuơng là người họ họ đã tín thác tiền bạc và hàng hóa.” (trang 20).

Bản dịch quyển sách của Dampier viết về Đàng Ngoài Việt Nam này sẽ được đăng tải nơi đây, trên Gio-O.com../-

*****

PHẪN III

CÁC PHỤ LỤC CỦA NGÔ BẮC

 

Phụ Lục A

Lễ Thiên Thành và Núi Vạn Thọ Nam Sơn thời nhà Lý

       Về nghi lễ này, bản dịch Tập Một, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, do Nhà Xuất Bản Giáo Dục ấn hành tại Hà Nội, năm 1998, nơi các trang 296-297 có ghi như sau:

[Bắt đầu trích] Tân Dậu, năm thứ 12 (1021).  Tống, năm Thiên Hi thứ 5).

       Tháng 2, mùa xuân.  Ngày tiết Thiên Thành, thết yến tiệc các bầy tôi.

Đặt ngày sinh nhật nhà vua làm tiết Thiên Thành.  Ngoài cửa Quảng Phúc (lời chua: cửa Tây kinh thành Thăng Long) kết trúc làm núi, gọi là Vạn Thọ nam sơn; trên núi làm nhiều hình trạng chim bay, thú chạy, lắm vẻ ly kỳ.  Nhân đó ban yến cho bầy tôi để mua vui. [Hết trích]

*****

 

Phụ Lục B

Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ

Keith Weller Taylor

       Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ được ghi chép trong quyển Lĩnh Nam Chích Quái và bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Phiên bản của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có sửa đổi đôi chút so với bản văn của Lĩnh Nam Chích Quái.  Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ, 5), Âu Cơ là vợ một vị vua “nhuận triều” (interloping).  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (TT, I, 22), tuy thế, đã biến Âu Cơ thành con gái của ông ta, rõ ràng vì các lý do luân lý, để Lạc Long Quân sau đó sẽ không phạm tội lấy vợ của kẻ khác.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ, 6), một trăm người con trai đã được sinh ra từ một bọc trứng duy nhất; Lạc Long Quân đã dẫn năm mươi đứa con trai theo ông xuống biển, để năm mươi đứa con trai kia ở lại cùng với Âu Cơ trên Núi Tản Viên, trong số đó, đứa con can đảm nhất đã được tuyển chọn trở thành vị vua đầu tiên trong các vua Hùng.  Tuy nhiên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (TT, I, 22) đã ghi rằng nhà vua đầu tiên của các vua Hùng là một trong các người con trai đi theo cha, chính vì thế, nhấn mạnh đến các giá trị phụ hệ.  Sự kiện này được hồi nhớ một cách khác biệt bởi các người Mường vùng thượng du, các kẻ, giống như các người Việt Nam hiện đại, đều là hậu duệ của dân Việt cổ.  Theo người Mường, đã có năm mươi đứa con trai và năm mươi đứa con gái thay vì một trăm đứa con trai; một nửa đi theo người mẹ lên núi và trở thành tổ tiên của người Mường, trong khi một nửa đi theo cha ra biển và trở thành tổ tiên của người Việt Nam (Nguyễn Linh và Hoàng Xuân Chinh, trang 103).

Phả hệ của các vua Hùng được ghi trong cả hai nguồn tài liệu (LNCQ, 5-6, và TT, I, 1b-2a).  Lạc Long Quân và Đế Lai, nhà vua nhuận triều từ phương bắc và là chồng của Âu Cơ, là các anh em họ.  Họ tượng trưng cho hai chi nhánh của một gia tộc duy nhất có nguồn gốc từ nhà lãnh đạo Trung Hoa trong huyền thoại, Yen Ti Shen Nung (tiếng Việt là Viêm Đế Thần Nông).  Thần Nông là vị thần nông nghiệp có gốc rễ từ văn hóa Tây Tạng, là kẻ đã xuất hiện trước tiên trong số các người Trung Hoa tại miền bắc của Hồ Bắc (Hu-pei) và miền nam của Hà Nam (Ho-nan), nơi mà các nền văn hóa của dân Pa và dân Thái cổ xưa hòa hợp vào nhau.  Các người tuân phục ông đến từ miền nam và là ngoại nhân đối với các người Trung Hoa cổ thời.  Họ là những nông dân trồng lúa nước, và sự tôn thờ Thần Nông có liên quan với các hệ thống định cư nông nghiệp (Eberhard, các trang 219-21, 229).

Trong huyền thoại Trung Hoa, Thần Nông được xem là vị Chúa Tể Thứ Nhì trong Ba Vị Chúa Tể (Three Sovereigmns: Tam Hoàng), người thứ Ba trở thành Huang Ti (Hoàng Đế), kẻ được nghĩ là người đầu tiên trong Năm Vị Hoàng Đế (Ngũ Đế) theo truyền thuyết.  Thần Nông bởi đó có thể được nói là đã hiện diện trước khi co sự thành lập truyền thống đế triều tại Trung Hoa.

Hai chi của gia tộc tượng trưng cho một chi đế triều, trên đất liền, ở phương bắc, có các hậu duệ đều mang tước hiệu “hoàng đế” (đế), và chi nhánh phương nam thì  liên kết với biển:

Mẹ của Lạc Long Quân là một Thần Long Nữ (Lady Dragon Spirit), con gái của Động Đình Quân (Lord of Tung T’ing Lake) tại lưu vực sông Dương Tử; cha của ông ta, Kinhh Dương Vương, cai trị một vùng đất phía nam của “Ngũ Quan” (Five Passes) có tên là “Nước Xích Quỷ” (Kingdom of Red Devils) (Xích Quỷ Quốc).  Mẹ của Kinh Dương Vương là Vụ Tiên Nữ, một chùm sao trên trời giám sát miền bắc Việt Nam (xem phần tham chiếu Han shu (Hán Thư) trong tác phẩm của Aurousseau, trang 205), là kẻ đã gặp gỡ với Đế Minh, cha của Kinh Dương Vương, khi ông này tuần du các miền phía nam.  Đế Minh là vị vua trị vì thuộc thế hệ thứ ba kể từ Thần Nông.  Chi nhánh miền bắc đã đi đến chỗ kết liễu khi con trai và kẻ kế ngôi Đế Lai, Đế Du, bị đánh bại bởi Hoàng Đế (Yellow Emperor).

Chi miền bắc của gia tộc này, cũng như kẻ nhận là tổ tiên của nó, có thể bị quy là một sự cải biên sau này; chức năng duy nhất của nó là để tuyên xác một một dòng dõi cổ xưa hơn cho các vua Hùng so với vị vua đầu tiên của Trung Hoa, Hoàng Đế (Huang Ti).  Tuy nhiên, chi tộc phương nam có trưng bày đủ chi tiết văn hóa và địa dư tán trợ cho ý tưởng rằng nó đã được đặt trên các truyền thống cổ xưa.

Mẹ của Kinh Dương Vương là chùm sao sáng chói tương ứng với miền bắc Việt Nam, và Kinh Dương Vương đã cai trị một vương quốc với danh hiệu mọi rợ (ít nhất trong khung cảnh Trung Hoa) là Xích Quỷ (Red Devils); ông kết hôn với Thần Long Nữ từ Động Đình Hồ (có lẽ là một sự ám chỉ đến nước Chu cổ thời) và có một người con trai trở nên một anh hùng văn hóa của người Việt Nam cổ thời.  Tác giả C. Madrolle (trang 268) đã tường thuật rằng một khu nào đó được suy đóan là ngôi mộ của Kinh Dương Vương có thể được tìm thấy tại vùng phụ cân Luy Lâu.

Ý tưởng về phả hệ hoàng tộc với một chi phương bắc và một chi phương nam có thể biểu lộ chiều kích chính trị của vị trí địa dư của Việt Nam trong các thời đại cổ xưa.  Như hành lang nằm giữa Vân Nam, và bởi sự nối dài tới cao nguyên Tây Tạng ở phía tây và biển cả ở phía đông, bình nguyên sông Hồng đã là địa điểm chịu áp lực chiến lược tối đa giữa các dân tộc “chi băc’ và “chi nam” của vùng Đông và Đông Nam Châu Á.  Cả về mặt phả hệ lẫn về kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam, người Việt Nam tự xem mình là một dân tộc “phương nam” khác biệt với dân Trung Hoa “phương bắc”.  Phả hệ chính vì thê” có thể là một chau chuốt văn chương về các truyền thống cổ xưa, về kinh nghiệm lịch sử sau đó, hay cả hai.

Trong một bài báo gần đây, tác giả Nguyễn Thị Huệ thảo luận về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, như được lưu truyền trong các nông dân Việt Nam ngày nay.

(Nguồn: Keith Weller Taylor, Appendix A, The Legend of Lạc Long Quân and Âu Cơ, trong quyển The Birth of Vietnam, các trang 303-305, University of California Press, Berkeley, 1983.

*****

 

Phụ Lục C

Biên Giới Địa Lý Nhân Văn: Trường Hợp Việt Nam

       Quyển sách giáo khoa Human Geography: Culture, Society, and Space, Sixth Edition, của hai tác giả H. J. de Blij (Giáo Sư Đại Học Marshall University) và Alexander B. Murphy (Giáo Sư Đại Học University of Oregon), do nhà xuất bản Wiley phát hành tại New York năm 1999, có trình bày về các loại biên giới chính trị theo căn nguyên, trong đó có hai thí dụ về biên giới tại Việt Nam, nơi các trang 350-351 như sau:

Sự Xếp Loại Biên Giới Dựa Trên Nguồn Gốc

Một cách khác để khảo sát các biên giới liên quan đến sự tiến hóa hay căn nguyên của chúng.  Sự xếp loại biên giới theo căn nguyên này được đề xuất bởi Richard Hartshorne (1899-1992), nhà chính trị đia lý học Hoa Kỳ hàng đầu hồi giữa thế kỷ thứ hai mươi.  Hartshorne lý luận rằng một số biên giới nào đó đã được định nghĩa và phân ranh trước khi cảnh trí nhân văn ngày nay được phát triển.  Mặc dù Hartshorne sử dụng chính yếu các thí dụ của Tây Phương để minh chứng ý tưởng này, tính ứng dụng của nó cũng được biểu hiện ở các nơi khác, thí dụ, tại Đông Nam Á.

Trong Hình 25-6A [giữ nguyên cách đánh số trong nguyên bản, chú của người dịch] biên giới giữa Mã Lai và Indonesia trên đảo Borneo là một thí dụ của loại biên giới theo tiền lệ (antecedent boundary) này.  Phần lớn biên giới này chạy qua miền rừng mưa nhiệt đới dân cư thưa thớt, và sự định cư lác đác còn có thể được phát hiện trên bản đồ phân bố  nhân số thế giới (Hình 4-1, [trong nguyên bản]).  Loại biên giới thứ nhì tiến triển như cảnh trí văn hóa của một khu vực được hình thành.  Các biên giới hậu biến (subsequent boundaries) này được tiêu biểu bởi bản đồ trong Hình 25-6B, trình bày ranh giới giữa Trung Hoa và Việt Nam, kết quả của một tiến trình điều chỉnh và sửa đổi trong trường kỳ.

Một số biên giới bị vạch một cách cưỡng chế cắt ngang một cảnh trí văn hóa thống nhất.  Một biên giới áp đặt lên trên (superimposed boundary) như thế hiện diện ở giữa hòn đảo New Guineavà chia cắt vùng West Irian của Indonesia ra khỏi nước Papua New Guinea (Hình 25-6C).  Vùng West Irian, vốn được cư ngụ bởi phần lớn sắc dân Papuans, là một phần của Đông Ấn thuộc Hòa Lan đã không được độc lập vào lúc Indonesia được độc năm 1949.  Sau nhiều năm đầy căng thẳng, người Indonesians sau hết đã xâm lăng lãnh thổ này vào năm 1962 để đánh đuổi các người Hòa Lan còn lại; tiếp theo sau sự điều giải của Liên Hiệp Quốc và một cuộc trưng cầu dân ý chung cuộc, West Irian được chính thức sáp nhập vào Indonesia năm 1969 – do đó vĩnh viễn hóa biên giới mà chính quyền thực dân nguyên thủy đã áp đặt lên trên New Guinea hồi đầu thế kỷ thứ mười chín.  Loại biên giới theo nguồn gốc thứ tư là biên giới theo di tích (relict boundary) – một biên giới thôi không còn hiệu lực nhưng dấu vết vẫn còn hiển hiện trên bối cảnh văn hóa.  Biên giới giữa Bắc và Nam Việt Nam trước đây (Hình 25-6D) là một thí dụ cổ điển: từng có thời để phân cách về mặt quân sự, nó trở thành loại biên giới di tích kể từ năm 1976, tiếp theo sau sự tái thống nhất Việt Nam trong sự kết thúc cuộc Chiến Tranh Đông Dương (1964-1975).

Hình 25-6: Các Loại Biên Giới Chính Trị Theo Căn Nguyên.  Các loại biên giới chính trị theo căn nguyên là: (A) Tiền Lệ (antecedent), (B) Hậu Biến (subsequent), (C) Áp Đặt Lên Trên (superimposed), và (D) Di Tích.  Nguồn: từ một bản đồ trong sách của H. J. de Blij và P. O. Muller, Realms, Regions, and Concepts, ấn bản lần thứ 7, New York: Wiley, 1994.

*****

Phụ Lục D

Đất Vành: Địa Lý Chính Trị Của Việt Nam hay

Ban Lơn Quay Ra Thái Bình Dương

Đất Vành hay Đất Viền (Rimland) là một khái niệm được đế xướng bởi tác giả Nicholas John Spykman để mô tả đường ven biển của một xứ sở hay một lục địa; đặc biệt các bờ đông đảo dân cư ở phía tây, phía nam và phía đông của lục địa Âu – Á.

Theo Spykman, giải đất ven biển bao quanh Âu Á, thì quan trọng hơn khu vực trung Á châu (được gọi là trọng địa trung tâm (Heartland) cho sự kiểm soát lục địa Âu-Á.  Dự kiến của Spykman là nền tảng của “chính sách be bờ ngăn chận” được thi hành bởi Hoa Kỳ trong mối quan hệ của Mỹ với Liên Bang Sô Viết trong thời Chiến Tranh Lạnh sau Thế Chiến II.

Theo tác giả Mackinder, trong quyển “Inner or Marginal Crescent”, Đất Vành được chia thành ba đoạn: vùng ven biển Âu Châu; vùng sa mạc Ả Rập – Trung Đông, và vùng gió mùa Á Châu.

Trong khi Skypman chấp nhận hai vùng đầu tiên như được xác định, ông đã bác bỏ sự gộp chung đơn giản các nước Á Châu vào thành một “vùng gió mùa” (monsoon land).  Ấn Độ, vùng duyên hải Ấn Độ và văn hóa Ấn Độ thì tách biệt về mặt địa dư và văn minh với vùng đất Trung Hoa.

Đặc tính xác quyết của Đất Vành rằng nó là một khu vực trung gian, nằm giữa các quyền lực đất và hải lực, nó phải tự phòng vệ ở cả hai phía, và các vấn đề an ninh nền tảng  của nó nằm ở đó.

Đất Vành có tầm quan trọng lớn lao phát sinh từ trọng lực về dân số, các tài nguyên thiên nhiên, và sự phát triển kỹ nghệ của nó.  Tác giả Skypman nhìn tầm quan trọng này như là lý do tại sao Đất Vành sẽ có tính chất quan yếu trong việc ngăn chặn vùng Trọng Địa Trung Tâm, trong khi tác giả Mackinder lại tin tưởng rằng Vành Cung Bên Ngoài hay Hải Đảo sẽ là thành tố quan trọng nhất trong việc ngăn chặn vùng Trọng Địa Trung Tâm.

Việt Nam, Đông Dương, Phi Luật Tân, Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản là những phần đất được kể chịu ảnh hưởng nhiều nhất của gió mùa Á Châu, và ở vào vị trí đất vành, Việt Nam đã dễ dàng trở thành bãi chiến trường cho các sự xung đột giữa các cường lực đất liền và từ ngoài biển, như được chứng minh trong suốt thế kỷ thứ hai mươi vừa qua./- (Phần lớn các dữ kiện trong Phụ Lục này đều được rút rat ừ Wikipedia)

_______                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            

Nguồn: Thomas Suárez, Early Mapping of Southeast Asia, Periplus Editions (HK) Ltd: Singapore, 1999, Chapter 16, The Nineteenth Century and the Mapping of the Interior – Indochina, Burma and Thailand, Transition to the Modern Era, các trang 252-263, và rải rác nhiều nơi trong quyển sách.

Ngô Bắc dịch và phụ chú

18/10/2010

© gio-o.com 2010

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: