RSS

Category Archives: Phong tục

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM (TẬP 1)

Lịch sử tư-tưởng Việt-Nam
Tác giả: Giáo sư Nguyễn Đăng Thục

TỰA

Nhà bác học Pháp-Việt Maurice Durand, hội viên Trường Pháp Quốc Viễn Đông (E.F.E.O) mở đầu diễn thuyết ở Đà Lạt năm 1952 về đề tài “Quelques éléments de l`univers moral des Vietnamiens” (Vài yếu tố của vũ trụ tinh thần người Việt):

“Il est devenu classique de rire que l`âme Vietnamienne est dominée par une synthèmes: Confucianisme, Bouddhisme, Taoisme”.)- B.S.E.I.NS.T.XXVII-1952.

Ba đại truyền thống Á Đông trên đã từ Ấn Độ và Trung Hoa truyền vào Giao Chỉ (đất cổ Việt Nam) và trước khi Giao Chỉ tách ra thành Giao Châu và Quảng Châu năm 203 C.N. Giao Chỉ trong cõi Lĩnh Nam, nơi giao lưu qua lại và dừng chân của các trào lưu văn hóa và chủng tộc, điều kiện sinh tồn tồn tại đòi hỏi có sự tổng hợp sáng là điều dĩ nhiên như tục ngữ nói “Khôn sống, mống chết”.

Xét lịch sử tư tưỏng Việt Nam ngay từ buổi đầu ta thấy Sĩ Nhiếp (187-226) đã tổng hợp Nho giáo chính thống từ phương Bắc xuống với Phật giáo của Khang Tăng Hội từ phương Tây-Bắc Ấn Độ đến Giao Chỉ thế kỷ thứ III đem Thiền học Đại thừa Phật giáo “Thiền độ vô cực”, ví tâm như hoa sen nẩy nở trong nước luôn tươi sáng trong “gần bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn”.

Đồng thời với Khang Tăng Hội và một số đạo sĩ Bà La Môn từ phía Tây Nam đến, như Khâu Đa La tu đứng một chân theo khoa Yoga cổ truyền Ấn Độ đến Giao Chỉ, trung tâm phật học Luy Lâu (Bắc Ninh) có Mâu Bác làm sách “Lý hoặc luận ” để đối phó với các trào lưu tư tưởng tôn giáo đang du nhập và tranh chấp như lời Mâu Tử :

“Sau khi Hán Linh Đế mất rồi (189CN) thiên hạ loạn ly, chỉ có đất Giao Châu (Bắc Việt tách khỏi Quảng Châu sau 203 CN) còn tạm yên. Các Học giả xuất chúng phi thường phương Bắc kéo nhau di cư xuống đây nhiều người chuyên về học thuật Thần Tiên, tịnh cốc, trường sinh. Mâu Tử thường đem sách Ngũ Kinh vặn hỏi, các đạo sĩ và thuật sĩ không ai đối đáp được. Người ta ví ông với Mạnh Kha đối với Dương Chu và Mặc Dịch vậy.” (Tự Tựa Lý hoặc luận)

“Lý hoặc luận” là khái niệm đầu tiên tập đại thành của Văn hóa Giao Chỉ Lĩnh Nam, địa điểm ngã ba giao lưu của các dân tộc và văn hóa. Mâu Tử đã ví các trào lưu tư tưởng, tín ngưỡng tôn giao như ánh sáng “mặt trời, mặt trăng cùng sáng, mỗi đằng có sức chiếu riêng” (nhật nguyệt tinh minh các hữu sở chiếu).

Tập đại thành đòi một nguyên lý chung tổng quát, đại đồng để hệ thống hóa, nhất quán các chủ nghĩa khác nhau. Mâu Tử đã tìm thấy nguyên lý ấy ở Phật giáo Giao Châu, ông viết :

“Tuy đọc ngũ Kinh thích thú, lấy làm hoa, nhưng chưa thành quả vậy. Đến khi tôi coi đến lý thuyết của kinh Phật, xem đến yếu lý của Lão tử, sống đức tính điềm đạm, nghiệm đức hạnh vô vi. Bây giờ quay lại nhìn sự đời khác nào đứng giữa trời cao mà nom xuống ngòi lạch, trèo lên đỉnh núi nhìn xuống gò đống. Sách Nho, ngũ Kinh ví như năm vị, đạo Phật như năm thứ thóc. Từ khi tôi được biết đến nay, thực như vén mây thấy mặt trời, cầm đuốc soi vào nhà tối vậy.”

Đây là hợp sáng đầu tiên ý thức hệ Tam giáo Nho-Đạo-Thích ở Việt Nam xưa, tức Giao Chỉ mà Sĩ Nhiếp đã thi hành vào chính trị ở chức vụ Thái thú Giao Chỉ, kinh đô Luy Lâu (Bắc Ninh).

Sĩ Nhiếp người Thương Ngô, Quảng Tín, tiên tổ vốn người nước Lỗ lánh nạn xuống Lĩnh Nam (Giao Chỉ), truyền đến Sĩ Nhiếp là đời thứ 6, tức là dân bản xứ. Tác phong Thái thú của ông nghiễm nhiên như một ông vua Bà La Môn hùng cứ một châu rộng khắp vạn lý, uy tôn hơn hết, ra vào chuông trống vang lừng, xe ngựa chật đường, các sư sãi tháp tùng cầm nhang có hàng mươi vị, đương thời quý trọng, chấn phục hàng trăm dân Mán dân Mường, thực Triệu Đà xưa cũng không hơn được. Dân Việt tôn xưng Sĩ Vương Tiên, hiện còn đền thờ ở Bắc Ninh, Sử việt tôn làm “Nam Giao Học Tổ” (Ông Tổ học thuật Giao Chỉ Lĩnh Nam). Ông Tổ đây không phải người đem Hán học đầu tiên vào Việt Nam, mà là ông vua đầu tiên thực hành ý thức hệ chính trị Tam giáo khai phóng Khổng, Lão, Phật.

Và cái ý thức hệ ấy đã trở nên truyền thống dân tộc chi phối tư tưởng thời Lý, thời Trần với tinh thần thâu hóa sáng tạo ra thiền phái Việt Thảo Đường và Trúc Lâm An Tử, hai dòng độc đáo, tích cực nhập thể chính trị với các vua thiền sư. Vua Lý Thánh Tông đại biểu ý chí Quốc Gia Đại Việt, thôn nữ Ỷ Lan Quan Âm Nữ đại biểu tình yêu sùng bái của nhân dân nông nghiệp, cùng Thảo Đường Đạo sĩ đại biểu quyền phép thiên nhiên, cả ba tập đại thành Thiền Tông Thảo Đường, lấy chùa Một Cột (Diên Hựu) tượng trưng cho Hoa Sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đấy là tập đại thành thứ hai sau Nam Giao Học Tổ.

Tập đại thành thứ ba là dòng thiền Trúc Lâm An Tử với nhà vua Trần Nhân Tông, Tam Tổ thánh hiền, một vua thánh với Pháp Loa, Huyền Quang, hai nhà hiền với tôn chỉ:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tạc xôn hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tâm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vân thiên

(Ở trong đời hiện thực vui với tâm đạo siêu nhiên; đói thì ăn, mệt thì ngủ yên;
Trong mình cá nhân có Phật tính quý báu đừng đi tìm ở bên ngoài;
Đứng trước cảnh vật mà không có lòng tư hữu, đấy là Thiền còn hỏi làm chi nữa.) (Trần Nhân Tông)

Đấy là tinh thần tam giáo Nho Đạo Thích như vua Trần Thái Tông tuyên bố:
Vị minh nhân vọng phần tam giáo
Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.

(Người chưa giác ngộ đạo lý lầm phân biệt có ba giáo lý Nho, Lão, Phật khác nhau. Khi giác ngộ được tới nơi thì chỉ có một tâm linh vũ trụ.)
Và cái tinh thần Thiền ấy đã cáo chung với Thượng Thừa Thiền của Nguyễn Trãi,
“Ta nếu ở đâu vui thú đấy
Người xưa ẩn cả (Đại Ẩn Thiền Sư) lọ lâm tuyền”
Tự Thán

Sau Nguyễn Trãi, ý thức hệ Thiền Tam giáo khai phóng thời Lý Trần cũng cáo chung. Nhà Lê độc tôn Nho giáo theo Tống Nho “tịch Thích Đạo” bài Phật giáo và Lão giáo, tạo nên ở Việt Nam trong triều đình bè phái tàn sát lẫn nhau gây nên tranh giành, nào Lê Mạc, Lê Trịnh, Trịnh Nguyễn suốt hai trăm năm cho đến ngày mất chủ quyền với thực dân.
Tuy nhiên, trong giới sĩ phu, phản đối chính quyền lại trở về với truyền thống Tam giáo như thiền sư Hương Hải chẳng hạn:

Nguyên lai Tam giáo đồng nhất thể,
Nhậm vận hà tằng lý hữu thiên.

Lịch sử tư tưởng Việt Nam cho ta thấy vận mệnh của dân tộc do truyền thống tập đại thành, thâu hóa sáng tạo, khai phóng hơn là đóng cửa bế quan. Cái tinh thần văn hóa ấy đã phản ánh trong thi phẩm trứ danh của thi sĩ Java là Sutasoma tantular với khẩu hiệu: “Bhimeka Tungal Ika” (Đồng nhất trong sai biệt) tương đương quan niệm của Lê Quý Đôn: “Thù đồ nhi đồng quy, bách lự nhi nhất trí” (Vân Đài loại ngữ) (Đường đi khác nhau mà cùng về một mục đích chung, trăm ý nghĩ mà cùng tới một lý).

Tác giả cẩn chí !

Download trọn bộ tại đây —> http://www.mediafire.com/?b2dfczpl2hxdmd4

—————-
Lịch sử tư-tưởng Việt-Nam
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục
Tập Một
*********

Tập Một

Tư Tưởng Bình Dân Việt Nam

Mục Lục

Tựa
Lời mở đầu
Ý Thức Thần Thoại Và Triết Học
Hai Nguồn Gốc Tư Tưởng Việt Nam
Văn minh Đông Sơn với trống đồng
- Trống đồng – Tài liệu khảo cổ học
- Tài liệu sử ký, thần thoại
- Ngụ ý triết học của Trống đồng
Văn minh Lạch Trường Với Nhà Mồ Thiên Động
- Tín ngưỡng Thiên Động với dân Việt Nam
- Triết lý Thiên Động với quan niệm Thần Tiên
Kết luận

TƯ TƯỞNG BÌNH DÂN

I.- Trạng Thái Sống Tình Cảm Nông Dân
Mùa xuân với đời sống tình cảm Việt Nam
Trẩy hội hành hương

II. – THẦN THOẠI VỚI TÍN NGƯỠNG VẬT LINH
Ý nghĩa Vật Tổ (Totemisme)
Thần thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh
Truyện Đổng Thiên Vương với Sùng Bái
Anh Hùng Dân Tộc
Truyện Tây Qua hay Dưa Hấu, với sự mâu thuẩn giữa Nhân Văn và Thiên Nhiên

III. – QUAN NIỆM VAI TRÒ LÃNH ĐẠO Ở XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP XƯA
Quan niệm vai trò lãnh đạo
Trong xã hội nông nghiệp
- Tổ chức xã thôn với cái Đình Làng
Ý Nghĩa Thần Thoại Trầu Cau, tức Tân Lang với Truyện Man Nương
Tục thờ Cây Đá ở Việt Nam
- Thổ Thần với cây cối
- Nữ Thần với cây cối

IV. – TRƯỜNG ĐẠO NỘI
Đạo lý tự nhiên
- Sự tích Chử Đồng Tử
- Kỳ tích có tinh thần dân tộc ái quốc
- Sùng bái ma thuật
- Tháng tám giỗ Cha: Đức Thánh Trần
- Tháng ba giỗ Mẹ: Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Tục lên đồng với Triết Lý Lên Đồng
- Ý nghĩa của đồng cốt
- Phân tích Văn Chầu Lên Đồng
- Tâm lý lên đồng

V. – PHẬT GIÁO BÌNH DÂN VIỆT NAM
Phật giáo Bình Dân ở Việt Nam
Tín ngưỡng Phật Giáo Bình Dân Việt Nam
Tôn chỉ Nam Hải Quan Âm
- Sự tích Phật Bà Chùa Hương Tích
- Quan Âm Thị Kính

VI. – TRIẾT HỌC BÌNH DÂN TRONG TỤC NGỮ PHONG DAO
- Tư tưởng suy luận bình dân
- Quan niệm Trời, Đất, Người
Trời: Tâm lý và Siêu nhiên
Đất: Ý nghĩa thiên nhiên vật lý
Người: Thái đô
Gia đình
Vợ chồng
Cha con, mẹ con
Quốc gia xã hội

KẾT LUẬN – TỪ VẬT LINH ĐẾN TAM GIÁO
Tiếng nói tượng trưng với những cách biểu thị về siêu nhiên
Đồ biểu cơ cấu xã hội Việt Nam

Download trọn bộ tại đây —> http://www.mediafire.com/?b2dfczpl2hxdmd4
Nguồn trich dẫn: http://truclamyentu.info/


 

 

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

Lời Giới Thiệu :

Bài viết này có thể coi là bài viết đầu tiên trong loạt bài tôi viết về đề tài “Tôn Giáo và Dân Tộc”. Viết xong từ cuối năm 1999 khi sống lang thang ở Virginia và Maryland, nhưng tới nay bài này vẫn chưa bao giờ được đăng trên báo hay tập san nào. Sau khi tôi đã xuất bản được bốn cuốn sách với gần 80 đề mục, bản thảo “Củ Khoai Lùi Bếp Tro” vẫn nằm im trong ngăn kéo. Nay, vì mới thực hiện được webpage “Tôn Giáo và Dân Tộc” của riêng tôi:

- Địa chỉ 1:          http://charlienguyen.com/

- Địa chỉ 2:           http://home.comcast.net/~charlieng/

- Địa chỉ 3 :          http://home.earthlink.net/~charlienguyen/

tôi muốn đưa bài này lên để chia xẻ với các bạn .

Trước khi vào đọc “Củ Khoai Lùi Bếp Tro”, xin mời các bạn đọc bức thư của tôi gửi hai người bạn thân để giới thiệu bài viết này:

-       Trước hết là bạn Lư Tấn Hồng, cựu thẩm phán Quân Pháp, bút hiệu Vĩnh Như và Nguyễn Viết Hồng.

-       Sau đó là bạn Nguyễn Anh Tuấn, bút hiệu Thường Nhược Thủy.

Cả hai bạn là đồng tác giả của nhiều cuốn sách gíá trị chuyên nghiên cứu về “tinh hoa tư tưởng Việt” “Đạo Sống Việt” và nhất là về văn chương bình dân (ca dao tục ngữ) và về văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Nhờ đọc các sách của các bạn đó, nên tôi đã có được một số kiến thức cần thiết về văn hóa cổ truyền của dân tộc, và từ đó nảy sinh lòng yêu mến con người và tâm hồn thuần túy Việt Nam.

Sau đây là bức thư gửi hai người bạn tôi :

Virginia, ngày 28/2/2000

Hai bạn Lư Tấn Hồng và Nguyễn Anh Tuấn thân mến,

Như các bạn đã biết, tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc của Công Giáo LaMã, vốn mang nặng tính chất du mục Babylon và hoàn toàn xa rời văn hóa dân tộc. Có lẽ các bạn cũng nhận thấy rất nhiều người Công giáo trí thức, họ hiểu biết nhiều nhưng tại sao họ vẫn không thoát ra khỏi cái ngục tù tư tưởng của họ? Đó là vì họ đã mắc tròng, tức bị mắc kẹt trong cái thòng lọng của đạo Công Giáo (The Catholic Loop). Cái tròng nặng nhất là cái tròng tình cảm gia đình. Không ai muốn ra mặt công khai chống lại cái tôn giáo lâu đời của gia tộc và gia đình mình, nhất là cái tôn giáo đó lại là thứ tôn giáo cuồng tín như Công giáo LaMã.  Nhiều cha mẹ sẵn sàng từ con hoặc vợ bỏ chồng, chứ không bao giờ chấp nhận bỏ đạo, vì vậy mọi người Công giáo tỉnh ngộ vẫn cứ phải im lặng làm hòa cho yên cửa yên nhà.  Nhiều người lại cho rằng chống lại đạo của cha mẹ ông bà mình là bất hiếu nên họ đã không dám thoát ra khỏi cái tròng của đạo. Bài viết “Củ Khoai Lùi Bếp Tro” tôi đính kèm theo đây nói lên cái hoàn cảnh ấy.  Chính cái tinh thần dân tộc còn sót lại trong tôi đã giúp tôi thoát khỏi cái tròng Công giáo của văn hóa du mục Babylon để trở về với văn hóa dân tộc Việt Nam.

Tôi ví cái văn minh Tây phương (trong đó có đạo Công giáo) cũng như món “french fries” hay “smashed potato”, bề ngoài trông có vẻ “văn minh” nhưng không thích hợp với tôi bằng ”củ khoai nướng lùi tro”.  Đối với tôi, củ khoai nướng mộc mạc đơn sơ nhưng bên trong củ khoai là tất cả vị ngon nguyên chất ngọt ngào và mùi thơm của nó đượm cả tình người.

Tôi yêu văn hóa dân tộc cũng như yêu củ khoai mà mẹ tôi nướng vùi tro thảy cho tôi ăn hồi còn nhỏ. Tôi bỏ văn hóa ngoại lai để trở về với văn hóa dân tộc đâu có phải là bất hiếu với cha mẹ ông bà đâu. Tôi không chấp nhận tôn giáo không có nghĩa là tôi trở thành kẻ vô thần và vô đạo đức. Tôi chỉ từ bỏ cái quan niệm sai lầm về Chúa (hay Thượng Đế), chứ tôi không chống lại các đấng thiêng liêng. Tôi từ bỏ tôn giáo vì tôn giáo không cần thiết cho con người, chứ không phải vì tôi muốn sống buông thả, vô đạo đức.

Đó là nội dung tư tưởng tôi muốn diễn đạt trong bài viết này với ước mong được các bạn giúp thêm ý kiến.

Thân ái,

Chấn

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

Chúng ta đang sống trong thời đại của những cơ hội và những thách thức  không thể tiên đoán. Nền khoa học xuất phát từ văn minh Tây phương không ngừng mở rộng những chân trời kiến thức khiến con người có thể sáng tạo nên những kỳ quan kỹ thuật không kém gì những phép lạ của Thượng đế. Con người đã thành công sáng tạo ra những con cừu hay những con chuột giống hệt như nhau từ những tế bào sinh vật. Con người  cũng đã thành công trong việc làm những cơn mưa nhân tạo, hoặc trong việc nghiên cứu các “genes” để tạo ra những giống lúa, rau, quả theo ý muốn. Các nhà hóa học đang tìm cách phục chế các loại rác do loài người phế thải mỗi ngày để giảm bớt tối đa sự phung phí nguyên liệu. Giới y khoa đã thành công chế tạo vài loại thuốc chủng ngừa bằng DNA để giúp con người chỉ cần chủng ngừa một lần cũng đủ tránh được một vài thứ bệnh nào đó trong cả cuộc đời.

Thế giới khoa học Tây phương vẫn liên tục đóng góp mỗi ngày vào kho dự trữ kiến thức của nhân loại. Chỉ trong phạm vi Anh ngữ không thôi, người ta tính ra có tới 7000 tài liệu được viết ra mỗi ngày về các đề tài khoa học. Không một ai có đủ thỉ giờ và sức lực để đọc, chứ không nói tới chuyện có hiểu hay không.

Chúng ta tự hào đang được sống trong thời đại Tin Học (Information Age) nhưng thực sự ra chúng ta đang bị tràn ngập bởi những dữ kiện (data) mà phần lớn đã làm cho chúng ta điên đầu lo lắng và căng thẳng thần kinh. Mọi người Tây phương hầu như đang được sống trong cuộc sống vật chất đầy đủ nhất từ xưa đến nay, nhưng con số những người bị căng thẳng tinh thần, thậm chí là mắc bệnh tâm thần lại có phần gia tăng hơn trước. Rõ ràng cuộc sống vật chất sung mãn không phải là điều kiện cần và đủ cho một cuộc sống hạnh phúc của con người.

Nói như vậy không phải chúng ta có ý làm giảm giá trị của khoa học trong nền văn minh Tây phương. Trái lại, chúng ta đánh giá cao những thành tựu của nền khoa học đó và nhân loại phải biết ơn những nhà khoa học Tây phương đã góp công vĩ đại nâng cao mức sống và tầm hiểu biết của toàn thể loài người chúng ta về mọi lãnh vực. Vấn đề cốt lõi là chúng ta không thể quên cái trọng tâm của thế giới này là chính CON NGƯỜI. Chúng ta không thể sống hạnh phúc với thân xác và với thế giới giầu có về vật chất mà không cần một cái gì khác, nhất là không cần để ý tới ai. Để có được một cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn thì ngoài cuộc sống vật chất đầy đủ ra chúng ta cần có một tâm hồn ổn định hài hòa với tình thương bao la ràn trải tới mọi đồng loại.

Phải chăng lịch sử loài người đã có hoặc sẽ có một “thời đại hoàng kim”, trong đó tập thể con người được sống  trong hòa bình và yêu thương nhau ?  Nói một cách khác, muốn sống có hạnh phúc, chúng ta cần có trước hết là “tình người”. Phải chăng đó là tuyệt đỉnh của văn minh nhân loại ? Phải chăng ngọn đuốc của sự hiểu biết về cái “cùng kỳ lý” đã không được truyền tay từ đời xưa đến đời nay một cách liên tục  và nó đã bị thất lạc trong một chặng nào đó trong chiều dài của những thiên-niên-kỷ ?

Nêu lên những câu hỏi này là chúng ta đang rất quan tâm đến những giá trị tinh thần đã bị thất lạc. Có thể những giá trị tinh thần qúi báu đó đã không được các sử gia, các nhà khoa học và các chính trị gia Tây phương để ý tới. Chúng ta có thể qủa quyết một điều là nền văn minh của nhân loại đã không bùng nổ đột biến như hiện tượng “Big Bang”. Nền văn minh đó đã hình thành bằng những bước đi dò dẫm chậm chạp trên đường tiến hóa dài tới cả triệu năm. Khoa học khảo cổ đã đạt những thành tựu lớn lao trong việc khám phá quá khứ của nền văn minh nhân loại, nhưng ánh sáng của ngành khoa học này mới chỉ soi rọi tới cái giới hạn của nó là thời kỳ đồ đá (Stone Age) tức khoảng thời gian từ 25000 đến 4000 năm trước công nguyên (TCN). Người Tây phương đã tìm ra những cái nôi của nền văn minh như Summer, Babylon, Dilmun, Elam, Ai Cập,…. Những cái nôi của nền văn minh ấy đều đã xuất hiện vào cuối thời kỳ đồ đá (8000-4000 TCN) nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ tại sao tất cả những nền văn minh ấy đều đã bị tiêu diệt. Phải chăng sự qúa mê tín vào kiếp sau và lo cho kiếp sau (người Ai Cập lo xây kim tự tháp làm suy sụp kinh tế quốc gia) và chiến tranh tôn giáo đã là những nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự hủy diệt những nền văn minh ấy ?

Người Tây phương cũng không tránh khỏi những nhận định chủ quan trong sự đánh giá những nền văn minh đó. Từ khi Napoléon kéo quân đến chiếm Ai Cập vào đầu thế kỷ 18, ông ta đã ngỡ ngàng đứng ngắm nhìn những kim tự tháp. Tiếp theo đó là những khám phá thành công của ngành khảo cổ tại vùng Cận Đông với các di vật đã hùng hồn nói lên cái quá khứ đầy huy hoàng tráng lệ của Babylon và đất thánh Jerusalem.

Thế giới phương Tây dường như có ấn tượng cho rằng vùng Cận Đông là cái nôi duy nhất của văn minh nhân loại. Những phát minh đầu tiên là những phát minh chưa từng có bao giờ trước đó (The firsts of first time ever) đều được gán cho là của giống dân Sumerians, những người đầu tiên định cư tại Babylon mà người Hy Lạp gọi làMesopotamia. Mesos là “ở giữa” (Middle); Potamia là “những con sông” (Rivers). Đó là miền châu thổ được tạo nên bởi hai con sông Euphrate và Tigris, người Hoa dịch ra là Lưỡng-Hà-Châu. Hiện nay cả vùng này chỉ là một sa mạc mênh mông cách thủ đô Baghdad của Iraq khoảng 80 dặm về phía Nam.

Ngày nay, người ta đã nhận thấy những nhận định trên đây là thiên lệch và chủ quan quá đáng. Bởi lẽ nhiều nền văn minh cổ khác đã được khám phá tại Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico (văn minh Maya).

Sự thật là thế giới cổ đã xuất hiện  nhiều nền văn minh độc lập  tại nhiều vùng khác nhau, trong số đó tại sao lại không thể có một nền văn minh thuần túy Việt Nam ?

Vì một lý do nào đó chưa rõ, tất cả các nền văn minh cổ đều đã tàn lụi, nhưng điều may mắn là các nền văn minh ấy đều để lại những dấu vết trong kho tàng kinh nghiệm của loài người. Không có một nền văn minh nào là kẻ sống sót duy nhất trên hành tinh này !

Trong tác phẩm “Truy Tìm Cái Nôi của nền Văn Minh” (In Search of the Craddle of Civilization) của ba tác giả George Feverstein, Subhash Kak và Davis Frawley – Quest Book 1995, nhiều nhà khoa học thuộc ngành khảo cổ đã đưa ra một nhận định mới cho rằng ngoài Babylon ra còn có nhiều cái nôi văn minh khác đã phát sinh một cách riêng biệt tại nhiều vùng khác nhau trong thế giới cổ. Điều nhận xét đặc biệt của họ là những cái nôi của văn minh nhân loại đều nằm trong cái vòng đai chạy quanh trái đất song song với đường xích đạo. Hầu hết đều ở gần Hạ Chí Tuyến (Tropic of Cancer) song song và nằm về hướng Bắc của đường Xích Đạo. Vòng đai này chạy qua Ai Cập, Babylon,Jerusalem, Bắc Ấn và miền Bắc Việt Nam (sách dẫn chiếu, p. XIX).

Để góp phần vào việc khôi phục và phát huy nền văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải đi vào trọng tâm của vấn đề là moi tìm những sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta về cái “cùng kỳ lý” của vũ trụ và cuộc sống. Đó là quan niệm của tổ tiên chúng ta về lẽ âm dương trong vạn vật và thái độ ứng xử khôn ngoan của tổ tiên chúng ta là chấp nhận những mặt đối lập để cùng tồn tại và phát triển theo cái lẽ “tương khắc, tương sinh”. Áp dụng sự khôn ngoan của tổ tiên vào thái độ sống của chúng ta hiện nay là: hãy mở rộng con tim và khối óc để đón nhận những dị biệt của các nền văn hóa ngoại lai du nhập với một tinh thần bao dung hài hòa. Tổ tiên chúng ta không dành độc quyền chân lý:

“Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”

“Rằng trong lẽ phải có người có ta”

Biết ta có cái hay của ta, người có cái hay của người. Điều quan trọng là biết học hỏi cái hay của người để bổ túc cho cái thiếu xót của ta và biết dùng cái Đức của ta để cảm hóa cái xấu, cái dở của người.

“Có đi có lại mới toại lòng nhau”

Nhưng cuối cùng, tổ tiên chúng ta không tranh thắng với ai bằng cái lý, vì thắng bằng cái lý không thôi sẽ làm cho kẻ thua mất mặt và làm mất đi cái tình cảm thương yêu lẫn nhau. Tổ tiên chúng ta rất đau xót nếu có ai làm mất đi cái tình cảm đó.

“Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”

Chúng ta không kỳ vọng quá cao vào riêng cái kho tàng văn hóa của dân tộc để cho rằng sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên đủ để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống hôm nay. Thật sự chúng ta cần phải học hỏi Tây phương rất nhiều về phương pháp tổ chức, óc phân tích khoa học, tinh thần trọng sự chính xác và nhất là ý chí phấn đấu liên tục trong học hỏi, tìm hiểu và phát minh để không ngừng tiến bộ mọi mặt.

Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta đã được chắt lọc qua biết bao gian lao thử thách trong cuộc sống của toàn dân, nó là sợi chỉ xuyên suốt của bản sắc dân tộc qua nhiều ngàn năm lịch sử dấu tranh để đất nước ta còn tồn tại đến ngày hôm nay.

Hiển nhiên là cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên, tức là cái gốc của nền văn minh Việt Nam, đã được chứng nghiệm qua quá khứ 4000 năm lịch sử. Vậy nó phải có một giá trị nhất định. Ít nhất cái vốn văn hóa dân tộc cũng giúp chúng ta xác định được một thái độ sống dung hòa, lấy tình người làm trọng tâm. Thái độ sống đó hướng dẫn chúng ta cần phải tránh mọi chủ nghĩa  và mọi tôn giáo cực đoan, vì những thứ cực đoan này đã tàn phá thế giới và hủy diệt tình người.

Dưới ánh sáng của văn hóa dân tộc, chúng ta hãy bình tâm đánh giá lại mọi chủ nghĩa và mọi tôn giáo mà chúng ta đang theo :

Mọi tôn giáo hay mọi chủ nghĩa chỉ có thể là chính đáng nếu nó thực sự phục vụ con người. Bất cứ một thứ chủ nghĩa nào, dù nhân danh quốc gia hay xã hội, mà chà đạp hủy hoại con người đều là những tà thuyết đáng lên án. Mọi thứ tôn giáo dù nhân danh Thượng đế hay hứa hẹn một thiên đàng vĩnh cửu nhưng đã ngăn cách con người với nhau và hủy diệt lẫn nhau vì những tranh chấp thế tục thấp hèn thì đó không phải là những tôn giáo “thật”. Những tôn giáo đó thực chất chỉ là buôn thần bán thánh của những người khoác áo thầy tu để lừa bịp con người và đi ngược lại ý Thượng đế.

Phật đã dạy mọi chúng sinh đều có Phật tính. Như vậy Phật đã có sẵn ở trong lòng mỗi người. Muốn tìm Phật thì cứ việc tìm Ngài ở trong lòng mình, không cần phải tới chùa – Phật tại tâm chứ không tại chùa. Hãy tin vào chính mình và nhớ lời ông cha ta dạy rằng: bộ áo khó làm nên thầy tu. Tổ tiên chúng ta dạy chúng ta cái tinh thần đề cao cảnh giác “miệng tụng Nam Mô, bụng bồ dao găm”

Chúa Jesus còn dạy kỹ hơn: “Kẻ giàu vào nước thiêng đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Ai cũng biết giáo hội Vatican là giáo hội giàu nhất thế giới với tài sản hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Vậy cả cái giáo hội Vatican chắc chắn là khó mà chui lọt lỗ kim đó ! Ai muốn lên thiên đàng thì hãy nghe lời Chúa, chứ đừng nghe các vị thừa sai của giáo hội mà phải sa hỏa ngục đời đời. Bao nhiêu công sức bỏ ra để đọc kinh rã họng cả mấy chục năm cũng đều đổ xuống sông xuống biển. Trong Thánh Kinh, Chúa cũng dạy con người hãy tránh xa các nhà thờ, vì Chúa không ở trong đó: “Thánh Linh của Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ do bàn tay con người tạo nên” (The Holy Spirit no longer dwelth in temples made by men’s hands – Acts 17:24). Thánh Kinh xác định: “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa. Thánh Linh của Thiên Chúa ngự trong anh em” (Ye are the temple of God. The Spirit of God dwelth in you – ICor. 3:16).

Rõ ràng một điều là Phật cũng như Chúa đều dạy mọi người hãy quay về với chính nội tâm của mình. Nội tâm của mổi người mới là Chùa thật và đền thờ thật. Mọi thứ nhà thờ, thánh thất hay chùa chiền miếu mạo ta thấy bên ngoài đều là đồ giả. Đó chính là những trung tâm dẫn dắt con người xa rời các lời dạy chân chính của Phật và Chúa. Mái chùa hay mái nhà thờ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Bức tường của nhà thờ hay chùa do người ta xây dựng càng cao bao nhiêu thì càng ngăn cách con người với nhau bấy nhiêu. Các tu sĩ giảng giải dông dài chính là những người đầu tiên phản bội lại các giáo chủ của mình, trước khi phản bội đồng đạo nhẹ dạ của họ.

Trước khi các đạo du nhập vào đất nước ta, tổ tiên chúng ta đã sống hàng ngàn năm bình yên, hạnh phúc mà không cần tới một đạo nào cả. Tổ tiên chúng ta đã nhận thức rằng: chúng ta đã có sẵn một đạo cao hơn tất cả các tôn giáo, đó là “Đạo Làm Người”.

Tổ tiên chúng ta là con Hồng cháu Lạc, chứ không phải là con cháu của Adong-Evà, nên không hề mắc cái “tội tổ tông”. Do đó chúng ta chẳng cần  một thứ chúa Cứu Thế nào cứu chuộc. Vào năm 40 sau Công-nguyên, hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị đã cứu nước ta thoát ách đô hộ ngoại bang và dành lại độc lập cho tổ quốc. Hai Bà, sấp sỉ bằng tuổi Jesus,  và hai Bà Trưng đã thực sự là Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Jesus lúc đó còn bận giảng đạo ở Jerusalem, chẳng biết cái xứ Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên địa cầu làm sao tới cứu? Jesus bị quân La Mã đánh đập tơi bời rồi bị đóng đinh trần truồng trên thập giá về cái tội dám chống lại đế quốc. Jesus là nạn nhân của bọn đế quốc La Mã. Đối đầu với cả một đế quốc hung bạo, Jesus đã không thể tự cứu mình, nên đã phải chết dưới tay chúng.

Một người đã không thể cứu nổi chính mình thì làm sao có khả năng làm Chúa Cứu Thế cả thế gian, trong đó có cả những người chủ mưu giết mình ? Học giả Do Thái Leonard Yassen đã viết rất chí lý trong tác phẩm “The Jesus Connection to Triumph over Anti-Semistism” (Crossroad 1995) : “Jesus không hề biết gì về Ki Tô Giáo (Christianity), cũng không chết với danh nghĩa là người dã sáng lập ra đạo này, mà chết vì danh nghĩa một công dân Do Thái”. Ông gọi Ki Tô Giáo là một cái boomerang vĩ đại do đế quốc La Mã tạo ra để khiến cho nó quay lại tiêu diệt tổ quốc của công dân Jesus. Do Thái quả là một một dân tộc được chọn (a chosen people), nhưng người chọn không phải là Thiên Chúa mà là đế quốc La Mã. và họ đã chọn dân tộc Do Thái với mục tiêu rõ rệt là để tiêu diệt dân tộc này.

Kẻ viết bài này đã viết trong tinh thần thanh thản, không một chút ác cảm riêng tư nào đối với Công Giáo, vì đạo này là đạo của tổ tiên, gia tộc nội ngoại từ thế kỷ 16. Mọi người thân thiết của đời tôi, tất cả đều là những tín đồ Công Giáo nhiệt thành đến độ sẵn sàng “tử vì đạo” bất cứ lúc nào. Tôi đã sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc ấy của Công Giáo miền quê Nam-Định. Nhưng cũng tại nơi miền quê đó, cái bản sắc đặc biệt của dân tộc tính Việt Nam vẫn không phai nhòa trong đáy sâu cùng tận linh hồn của những người nông dân chất phác hiền hòa. Cái ánh sáng của văn hóa dân tộc còn sót lại nơi tôi đã cởi trói cho tôi và giải thoát tôi khỏi “cái tròng Công Giáo” (The Catholic Loop – theo cách nói của bà Joanne H. Meehl, tác giả cuốn Người Công Giáo Tỉnh Ngộ – The Recovering Catholic – Prometheus Books, NY 1995).

Đã sống nhiều năm ở hải ngoại, tôi đã ăn nhiều “french fries, baked potatos, smashed potatos”, nhưng tôi vẫn nhớ như in cái hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai mẹ tôi lùi trong bếp tro rơm rạ. Đã hơn nửa thế kỷ qua rồi mà sao cái hương vị ngọt ngào ấy  vẫn như còn tồn đọng trong đáy sâu tâm hồn tôi. Đặc tính văn hóa dân tộc Việt Namcó lẽ không khác mấy với hình ảnh củ khoai đơn sơ mộc mạc lùi tro trong căn bếp mái tranh vách đất năm xưa. Bề ngoài củ khoai nướng trông đen thui xấu xí, nhưng tất cả hương vị ngọt ngào nguyên chất của nó đã không mất đi đâu chút nào mà đều qui tụ vào trong. Văn hóa dân tộc ta không có cái vẻ kiêu sa lộng lẫy như văn hóa Tây Phương vì nó chìm sâu trong lòng người với tất cả những gì nguyên chất của giá trị CON NGƯỜI. Xét về thực chất giá trị, chưa hẳn nền văn hóa Tây phương đã cao hơn văn hóa ViệtNam. Cũng như hương vị thơm ngon của french fries hay smashed potatos chưa chắc đã bì kịp với hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai lùi bếp tro.

Cái hương vị ngọt lịm nóng hổi của củ khoai nướng thô sơ mộc mạc cũng như lòng thương con chân thật của bà mẹ quê đã thấm sâu vào từng giọt máu, từng đốt xương và từng hơi thở của linh hồn. Tôi vẫn ghi lòng tạc dạ những lời mẹ dặn: “Con hãy sống theo lời Chúa. Thánh Kinh là kho tàng của sự khôn ngoan để cho con học hỏi suốt đời”. Quả thật, chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều khôn ngoan tốt lành nơi Thánh Kinh, nhưng không phải mọi điều trong đó đều khôn ngoan và tốt lành cả. Trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước không thiếu gì những điều nhảm nhí, ác độc và vô luân. Vấn đề quan trọng là khi đọc Thánh Kinh, cũng như khi đọc mọi cuốn sách khác, ta cần phải biết phân biệt đâu là điều đúng, đâu là điều sai. Thánh Kinh chẳng phải là cuốn sách thiêng liêng ghi chép những lời của Chúa, vì Chúa là đấng thiêng liêng chẳng nói bao giờ. Tất cả chỉ là những lời của người phàm tục được gán cho Chúa qua cái mà người Công giáo thường gọi là sự “mặc khải”. Cả ba tôn giáo độc thần (Do Thái, Ki Tô, Hồi) đều vin vào sự mặc khải này để buộc tín đồ phải tin Thánh Kinh của mình là chân lý tuyệt đối. Đó là nguyên nhân chính yếu dẫn đến thái độ tự tôn mù quáng và độc quyền chân lý. Cả ba tôn giáo thờ cùng một ông chúa đều muốn dành độc quyền chân lý, nên đã gây thánh chiến với nhau tạo nên cảnh núi xương sông máu trong hơn chục thế kỷ qua. Họ đã biến Thánh Kinh của Tình Yêu (Gospel of Love) thành Thánh Kinh của lòng hận thù (Gospel of Hatred). Vậy Thánh Kinh đã rõ ràng không phải là lời của Chúa. Qủy sứ cũng có thể viện dẫn Thánh Kinh để giải thích cho những việc làm ác độc của chúng. Thánh Kinh chỉ là tấm màn che mỹ miều để những phần tử lợi dụng tôn giáo núp đằng sau tha hồ tác yêu tác quái mà vẫn được các nạn nhân của họ kính trọng như thường!

Mỗi khi suy nghĩ về đạo Công giáo là đạo lâu đời của ông bà tổ tiên, tôi thường áy náy trong lòng và tự hỏi mình liệu có phạm tội bất hiếu hay không. Trong những hoàn cảnh ấy tôi thường nghĩ đến mẹ tôi và tâm sự với người trong tư tưởng :

Mẹ ơi !  Con cám ơn mẹ đã cho con một trí óc để suy xét, một trái tim để yêu thương và một lương tâm để đón nhận những lời nói chân thật. Con không tin những lời người ta nói trong sách, dù đó là sách Kinh Thánh, nhưng chỉ tin vào những lời nói của lương tâm trong tâm hồn chân thật của con mà thôi.

Con kính trọng mẹ là một người phụ nữ Công giáo chân thật, hết lòng mến Chúa, yêu người. Đồng thời mẹ cũng là một người nông dân Việt Nam chân thật, vì mẹ đã sống thật với lòng mình, vốn rất đơn sơ, mộc mạc, hiền hòa. Mẹ không ưa lý luận cao xa, mà chỉ biết yêu thương vô điều kiện. Mẹ đã tìm thấy thiên đàng của Chúa trong tâm hồn bình an của mẹ ngay lúc còn sống trên cõi đời này. Mỗi lần giỗ mẹ, con không cầu xin Chúa cho mẹ được rỗi linh hồn, vì mẹ đã rỗi linh hồn từ khi còn sống. Con không theo một tôn giáo nào, nhưng con tôn kính con người thật của Jesus, cũng như tôn kính con người thật của Thích Ca Mâu Ni. Con tôn kính các Ngài, nhưng chẳng bao giờ muốn mình trở thành công dân Do Thái hay Ấn Độ, và càng không muốn trở thành công dân của Vatican. Tổ Quốc muôn đời của con vẫn là Việt Nam. Cả Jesus lẫn Thích Ca đều là những chân sư của con, vì các Ngài đều là những “ngón tay chỉ trăng” hướng dẫn con trên đường giác ngộ. Các Ngài đều là những trí tuệ bậc cao để cho con từ thấp ngó lên ngưỡng mộ, chứ không phải để tôn thờ. Các Ngài đều đã được sinh ra bởi người, chẳng phải đã sinh ra từ đất bùn cũng chẳng phải đã được sinh ra bởi người mẹ “đồng trinh”. Các Ngài đều đã không thoát được cái qui luật ”sinh, lão, bệnh, tử” và cả Chúa lẫn Phật đều đã trở về với cát bụi vô tri vô giác từ lâu. Như vậy các Ngài chẳng có chút quyền năng nào để ban ơn hay trừng phạt con người. Do đó, việc cầu xin Chúa hay cầu khấn Phật để xin ơn này ơn kia đều là những hành động mê tín nhảm nhí, hoàn toàn vô ích.

Cả Chúa trong nhà thờ lẫn Phật trên chùa đều là những hình tượng do người ta dựng lên. Chẳng có Chúa, Phật nào thưong con thật tình bằng mẹ thương con.

Dù cho thời gian phôi pha và dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hương vị của những củ khoai nướng lùi bếp tro vẫn cứ mãi vấn vương trong lòng con, vì đó chính là biều hiệu tình yêu thương bất diệt của mẹ trong linh hồn con.

Mẹ ơi, linh hồn Việt Nam chân thật của mẹ vẫn sống mãi trong con !

Charlie Nguyễn http://home.earthlink.net/~charlienguyen/cu_khoai_lui_bep_tro.htm

trọng Đông 1999

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 19, 2011 in Phong tục, Văn hóa

 

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN: CHÉN NƯỚC TRONG SOI LÒNG TRINH BẠCH

Tác giả: Kate Jellema

Hạ Anh Dịch
Nguồn: Viettimes

Những đóa hoa là thứ không thể thiếu trong mâm lễ thờ cúng…

Dâng hương cũng là hành động cơ bản nhất, thường được xem là một trong những việc làm ý nghĩa đối với việc thờ cúng của người Việt Nam. Cụm từ “với tấm lòng thành kính, tôi xin dâng nén hương này …” từ lâu đã trở thành một nhân tố tự nhiên trong đời sống tôn giáo Việt Nam, tác giả của “Dâng hương”, vốn là tín đồ Phật giáo, viết: “Mặc dù đơn giản nhưng cụm từ ngắn này chứa đựng tất cả những ý nghĩa văn hóa và đạo đức giúp chúng ta trở thành một con người có đạo đức ở Việt Nam”.
Mỗi ngày, khói hương được dâng cho Đức Phật, Thánh Mẫu, Bà Chúa Kho và Vua Hùng thơm ngát thoảng đưa trong những ngôi chùa cho thấy sự phục hưng tôn giáo của thời kỳ “đổi mới” ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, không những trên những bàn thờ của các gia đình mà còn ở các nhà thờ họ. Khoa học và chính quyền cũng đã nỗ lực rất nhiều để phân loại “việc thờ cúng tổ tiên” ở Việt Nam. Đó là một tôn giáo, một tín ngưỡng, sự mê tín hay là một đạo lý?
Trong bài này, tôi đi sâu khám phá việc thờ cúng tổ tiên của những người dân sống ở vùng châu thổ sông Hồng. Đây cũng là một bài nghiên cứu có ý nghĩa về đạo đức, xã hội và tôn giáo. Tôi đã tiếp xúc và mô tả chi tiết hai trường hợp được xem là điển hình của việc “thờ cúng tổ tiên”, hay “nhớ ơn ông bà”. Tôi quen với hai trường hợp này trong suốt thời gian làm luận án tiến sĩ ở khu làng giàu truyền thống có tên làng Đình Bảng (thuộc Bắc Ninh). Tại đây, tôi sống với một gia đình dòng họ Nguyễn Thạc suốt sáu tháng trong năm 2001. Và khi sống tại ngôi làng này, tôi có dịp chứng kiến những hành động thể hiện việc “thờ cúng tổ tiên” – một phần trong đời sống hàng ngày của người địa phương.
Những người làng Đình Bảng xem việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống” và nhấn mạnh mối liên hệ với “ngày xưa”. Họ công nhận truyền thống không bao giờ giữ nguyên hoàn toàn mà luôn có sự đổi mới, thậm chí được tái tạo bởi các thế hệ kế tục nó. “Những người lớn tuổi ủng hộ thế hệ trẻ phát huy truyền thống ông cha để lưu giữ truyền thống ấy đến muôn đời.
Trong phần thứ hai của bản nghiên cứu này, sau khi tôi mô tả về việc thờ cúng tổ tiên ở làng Đình Bảng ngày nay thì tôi sẽ quay lại, đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử, phân tích chiến tranh, cách mạng và công cuộc cải cách đã tạo nên cách nhớ ơn tổ tiên còn tồn tại đến ngày nay qua các thế hệ ở làng Đình Bảng như thế nào.
Tôi đã chọn hai trường hợp, trong cùng một ngôi làng để nghiên cứu những thói quen trong việc thờ cúng tổ tiên của người dân. Sự thành tâm và tận tụy của một người đàn bà cô đơn trong chính ngôi nhà mình là một ví dụ cho thấy sự công phu của một tôn giáo tập trung chủ yếu vào sự tu dưỡng đạo đức, sự tưởng nhớ người đã khuất và những mối liên hệ riêng tư, thân thiết của một cá nhân với thế giới tâm linh.
Ngược lại, sự tập hợp lại các cá nhân của dòng họ Nguyễn Thạc và một vài dòng họ khác cho thấy các tổ chức xã hội đang đóng một vai trò tích cực trong đời sống cộng đồng. Thường các buổi lễ có liên quan đến cả dòng họ thì tất cả những người cùng dòng họ này đều tập trung ở nhà thờ họ, còn nếu những buổi lễ chỉ thuộc phạm vi của một gia tộc thì sẽ tiến hành dưới hình thức những đám giỗ, tại các gia đình.

Thờ cúng tổ tiên và sự thành tâm của từng cá nhân

Mỗi buổi sáng, người phụ nữ tên Thúy thắp 3 nén hương, đứng trước bàn thờ đặt trên một cái tủ gỗ cao, được xem là bàn thờ tổ tiên. Người đàn bà khoẻ mạnh, tóc hoa râm này cắm hương vào bát hương bằng gốm màu trắng với những hoa văn xanh và đặt hoa quả vào một cái đĩa nhựa. Bao giờ bà cũng hài lòng với sự sắp xếp của mình. Bà lùi lại, chắp tay trước ngực, nhắm mắt và cúi đầu. Bà chậm rãi vái ba lần trước bàn thờ, rồi đứng im vài phút với đôi mắt khép, tay vẫn chắp trước ngực và khấn thầm những điều mình cầu xin.
Thông thường, mỗi ngày bà Thúy thường tiến hành những việc này đều đặn một mình. Nhưng một buổi sáng tôi đến thăm bà sớm, và bà nói rằng bà không để ý đến việc tôi có chứng kiến những việc bà đã làm hay không.
Bà im lặng chờ đợi trong khi những cây hương cháy. Đây là khoảng thời gian được xem là lúc tổ tiên thưởng thức đồ thờ cúng. Một vài người phụ nữ, như bà Hoàng, bà chủ nhà của tôi ở làng Đình Bảng, một người luôn luôn bận rộn và mệt mỏi, rời bàn thờ trong suốt thời gian chờ đợi để trở về làm nốt một vài việc nhà, và bà chỉ quay trở lại khi biết hương đã tàn. Nhưng bà Thúy lại thích ngồi gần đó, như một sự hiện diện với cha mẹ mình. Hương cháy từ trên xuống dưới, những nén hương tỏa thơm ngát, khói hương cuộn thành vòng tròn cho đến khi chúng cháy hết và tàn rơi xuống đống tro màu xám trong bát hương. Khi hương đã hoàn toàn tắt, bà Thúy quay lại đứng trước bàn thờ, chân khép lại, lưng thẳng, đầu hơi cúi, khuỷu tay nâng lên và hai tay chắp trước ngực, bà từ từ nhắm mắt lại và khuôn mặt lúc này ánh lên sự điềm tĩnh tự bên trong.
Bà Thúy vái trước bàn thờ 3 vái, sau đó yên lặng một lát trước khi mở mắt và thả tay xuống. Đồ cúng bây giờ có thể được chuyển từ bàn thờ xuống và chia cho mọi người.

Bà Thúy sinh ra năm 1941 ở Đình Bảng. Trước cách mạng, cha bà phục vụ cho Pháp, nhưng những gì ông kiếm được không đủ để bảo đảm cuộc sống gia đình trong thời điểm lộn xộn đó. Cuộc sống của họ trở nên gieo neo trong suốt thời kỳ đói kém giữa những năm 1940, sau đó càng trở nên túng bấn trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954), khi quân đội Pháp đóng quân ở Đình Bảng để chiếm lợi thế gần Hà Nội.
Quân đội Pháp đã san bằng ngôi làng bằng xe ủi và đóng quân ở các vùng lân cận, bắt dân địa phương nhập vào những ngôi nhà còn sót lại. Bà Thúy vẫn còn nhớ cha bà đã tham gia phong trào chống thực dân như thế nào, ông dành thời gian cho các buổi họp chính trị và phiên họp chiến lược, trong khi bà ở nhà và giúp mẹ chăm sóc những người ở cùng trong ngôi nhà chật hẹp, ngôi nhà đã nuôi ba đứa em trai và hai em gái của bà. Mặc dù mẹ bà rất ít khi được gần chồng trong những năm ấy nhưng bà vẫn luôn nghĩ đến ông, và trìu mến gọi ông mỗi buổi tối khi ông trở về nhà ăn cơm, và khi ấy bà sẽ chuẩn bị những món ăn ông thích.

Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã chuyển sang cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, bà Thúy đã hoàn thành một khóa học sư phạm và rốt cuộc đã chuyển sang làng khác cách nhà khoảng 20km để dạy học. Bà đem lòng yêu một thầy giáo trẻ trong trường, và họ phải kết hôn nhanh chóng trước khi ông gia nhập quân đội.
Buồn thay, ông đã bị giết trong năm đầu tiên sau khi gia nhập quân ngũ. Đau buồn nhưng quyết tâm đấu tranh vì độc lập tự do, bà Thúy đã kết hợp công việc ở trường với sự ủng hộ cho cuộc kháng chiến từ địa phương và giúp đỡ mẹ mình chăm sóc người cha đã rất ốm yếu. Vào các buổi tối, bà thường đi xe đạp 20km về làng Đình Bảng, và quay lại trường khi bình minh lên. Một lần, một quả bom của một máy bay Mỹ rơi xuống gần bà đến nỗi bà bị bật tung khỏi chiếc xe đạp và bay xuống hào, thoát chết. Trong suốt những năm đó, mệt mỏi liên tục và không đủ thức ăn để ăn, bà trở nên hốc hác và mệt mỏi. “Tôi đã từng là một đứa con gái đầy đặn và cuốn hút với đôi má hồng hào”, bà nói với tôi như vậy, “nhưng sau đó trong chiến tranh tôi đã đánh mất đi vẻ đẹp của mình. Tôi trở nên quá gầy gò! Cuộc sống lúc đó hết sức khó khăn. Và khi chiến tranh kết thúc thì tôi đã quá già”. Sau chiến tranh, bà Thúy không bao giờ kết hôn nữa và cũng không có con. Bà dành thời gian cho việc dạy học ở trường và cho ngôi nhà của mình, tiếp tục chăm sóc mẹ già cho đến khi bà mất năm 1993.
Khi tôi gặp bà Thúy, thì bà đã bước vào một thời kỳ mới, hạnh phúc hơn, và đã tìm thấy rất nhiều cách không để cho mình rơi vào cảm giác cô độc. Bà nghỉ hưu và trở thành một thành viên tích cực tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội của làng. Bà giúp họ tổ chức các buổi lễ đặc biệt, bà dạy các bài học thể dục cho những người già và một năm bà tiến hành một kỳ nghỉ với một nhóm bạn bè phụ nữ. Trước khi mẹ bà mất, bà và anh chị em ruột của mình góp tiền để xây cho mẹ một ngôi nhà mới trong làng. Bây giờ bà Thúy sống trong một ngôi nhà nhỏ, hai tầng rất thoải mái, sống một mình nhưng luôn có sự hiện diện của bố mẹ bà trên bàn thờ. Bây giờ và mai sau bà vẫn có những người bạn luôn “quấy nhiễu”, đó là các cháu trai và cháu gái của mình.

Việt Nam có một hệ thống quan hệ họ hàng đối ngẫu. Hình mẫu phụ hệ (theo họ cha) hay “trọng nam” cùng tồn tại song song với hình mẫu “nam nữ bình quyền”, là hình mẫu trong đó người phụ nữ có được sự tôn trọng từ xã hội và có quyền đưa ra những quyết định quan trọng như nam giới. Việc thờ cúng tổ tiên, đặc biệt khi nó diễn ra ở nhà thờ họ, thường gắn với hình mẫu “trọng nam” và đánh dấu sự phục tùng của đứa con trai đối với cha và của cá nhân người đàn ông với dòng họ. Ở phương diện này, người phụ nữ phải “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Chúng ta có thể hiểu sự cống hiến cho tổ tiên của những người đàn bà như bà Thúy và những người phụ nữ ở độ tuổi của bà, cả có chồng và không chồng ở làng này như thế nào? Đối với nhiều người, họ làm thế để thể hiện đạo làm con và lòng yêu thương của mình với các bậc cha mẹ, những người đi trước và mong muốn để duy trì mối quan hệ với cha mẹ mình thậm chí khi họ đã chết.

Đối với bà Thúy, việc thờ cúng ở bàn thờ mỗi buổi sáng là một mối quan hệ không tương ứng nhưng hết sức thân mật. Từ thời điểm bố mẹ bà bắt đầu sinh ra bà, chịu đựng nỗi đau thai nghén, sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục bà, họ đã ban cho bà một món quà vô giá, đó là “ơn sinh thành”, nuôi dưỡng và giáo dục. Suốt cuộc đời, bà Thúy biết ơn cha mẹ, bà yêu kính và đền đáp công ơn bằng sự quan tâm, chăm sóc của bà đối với cha mẹ mình khi họ ốm đau và thậm chí khi hai người đã sang thế giới bên kia.

Mặc dù thời nay, đồ cúng đã bị thay đổi đi nhiều nhưng những người làng đã nói với tôi rằng nội dung của đồ cúng không quan trọng lắm, cái quan trọng nhất là “tấm lòng thành” nhớ ơn tổ tiên. Nhiều người làng cũng cho tôi biết thắp hương chỉ là một trong những hành động thể hiện việc “nhớ ơn tổ tiên”. Bà Thúy giải thích với tôi: “Nếu bạn nghèo, thì bạn có thể chỉ thắp hương. Trái cây, xôi, cơm và tất cả những thứ đồ cúng khác là những đồ được thêm vào”. Những người khác cũng nói, nếu một gia đình quá nghèo, một cốc nước và một nén hương là đã đủ để tưởng nhớ những người đã mất…

Khi tôi hỏi bà Thúy về mối quan hệ của người sống và người chết, bà Thuý giải thích rằng khi ông bà còn sống, họ sống khôn; Sau khi chết, họ trở nên thiêng, “sống khôn chết thiêng”: Ông bà luôn ủng hộ cho con cháu mình và khi con cháu thỉnh cầu một điều gì đó thì tất nhiên ông bà sẽ giúp đỡ.
Bà Thúy tin rằng ông bà có thể bảo vệ được con cháu tại những thời điểm họ gặp nguy hiểm. Trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, không lâu sau khi bố bà Thúy mất, một trong những người anh trai của bà đã nhập ngũ và sau đó mất liên lạc với gia đình. Bà Thúy nói rằng đó là khoảng thời gian khó khăn nhất, nhưng bố bà đã đóng một vai trò chủ chốt, không chỉ bảo vệ người anh đã nhập ngũ mà còn là cầu nối cho các thành viên của gia đình có thể liên lạc với nhau.
Bà Thúy nhìn tôi với một cái nhìn sâu sắc và nhắc lại câu nói mà trước đây tôi đã từng được nghe: “Dù con cái có đi đến bất cứ nơi nào thì bố mẹ luôn theo đến đấy”. Bà gật gù: “Đúng, ông bà luôn luôn đi theo, bảo vệ và giám sát con cháu mình. Họ luôn che chở cho con cháu mình”. Bà Thúy nói với tôi rằng bà thường nói chuyện với bố mẹ ở ngoài mộ và ngay trên chính bàn thờ trong nhà mình. Bà thường kể cho họ nghe những sự kiện của gia đình và xin họ những lời khuyên.
Vậy, việc thờ cúng tổ tiên có phải để biểu hiện lòng hiếu thảo của đạo làm con hay chỉ là một niềm tin vào “năng lực huyền bí” của người chết? Tất cả những người tin đều cho rằng việc thờ cúng tổ tiên là một hệ thống đạo đức, và 2/3 trong số đó nói rằng họ cũng tin ông bà có khả năng siêu nhiên để tác động vào cuộc sống thường ngày, đi theo, bảo vệ con cháu, những người thân yêu của họ.
Khi tôi đến làng Đình Bảng, bà Thúy và các anh em mình đã góp tiền để xây cho cha mẹ một ngôi mộ đẹp và rất khang trang. Khi đã khá thân nhau, bà rủ tôi đi thăm mộ và cho phép tôi chụp ảnh. Chúng tôi đi xe đạp đến khu nghĩa trang, một vùng đất có rất nhiều ngôi mộ được xây bằng xi măng ở cạnh những cánh đồng lúa, được sắp xếp theo logic của môn bói đất (bói bằng những hình vẽ trên mặt đất).

Mặc dù có nhiều ngôi mộ mới được tu sửa, nhưng ngôi mộ của bố mẹ bà Thúy là một công trình xây dựng lớn nhất, đẹp nhất ở khu nghĩa trang. Sự giản dị, kiểu kiến trúc có sự kết hợp đá cẩm thạch đen giống với lăng chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội. Bà Thúy nói với tôi: Ngôi mộ màu đen vì đó là màu của sự tang tóc, chết chóc và thương tiếc. Nếu dùng màu khác sẽ không đẹp và không phù hợp.

Để chuẩn bị chụp ảnh, bà Thúy bỏ dép và leo lên trên ngôi mộ, đánh xi cho đến khi bề mặt nền đá hoa sáng lên, tiếp theo, bà dọn sạch cỏ dại mọc xung quanh, sắp xếp lại mọi thứ gọn gàng, ngăn nắp. Sau đó bà búi lại tóc, đứng thẳng người, thắp hương và bảo tôi chụp ảnh khi bà đang cúi đầu khấn.
Ngay sau khi lấy ảnh về, bà Thúy chọn một cái, phóng to, treo trong phòng khách với mục đích cho khách khứa hoặc cho bố mẹ mỗi buổi sáng đến thăm bàn thờ, qua khói hương sẽ nhìn thấy bức ảnh ngôi mộ rộng rãi của mình và để họ biết rằng họ có một đứa con gái vẫn luôn quan tâm đến họ.
“Rất nhiều người tự hào vì “nó” là ngôi mộ đẹp nhất làng”, bà Thúy nói. Và ngôi mộ của bố mẹ bà Thúy còn chứa đựng một vài thông điệp:

Đầu tiên, nó cho thấy sự mẫu mực, trách nhiệm của một người con đối với bố mẹ mình, đó là bản chất tốt đẹp của con người.
Thứ hai, để xây dựng ngôi mộ này bà đã phải bỏ ra một số tiền không ít, chứng tỏ sự thành công về kinh tế và bản chất hiếu thảo quên mình vì người khác của bà.
Thứ ba, cứ cho rằng hiện tại bà chỉ sống với một số tiền trợ cấp hàng tháng của chính phủ và một số công việc lặt vặt thì ngôi mộ lớn kia cũng chứng tỏ với mọi người rằng bà có một mối quan hệ xã hội rất tốt, một gia đình sống có tình nghĩa và hào phóng.

Cuối cùng, ngôi mộ cũng cho thấy bà có một mối quan hệ tốt đẹp với những người đã khuất. Ngôi mộ chính là nơi trao đổi tình yêu giữa bố mẹ và bà.
Gần cả cuộc đời bố mẹ bà Thúy đã phải sống trong nghèo đói và chiến tranh, đặc biệt bố bà chết trẻ và xa rời thế giới mà không một lần được nhìn thấy cuộc sống hòa bình. Bây giờ các anh em bà đều có cuộc sống khá sung túc, bà Thúy có một ngôi nhà mới, khang trang, ăn no, mặc đẹp và hàng năm còn tổ chức đi nghỉ mát cùng bạn bè. Bà cũng như những người sống sót sau cuộc cách mạng nhận thức được rằng, nền hòa bình mà họ đang được hưởng là nền hòa bình được xây dựng trên nước mắt và xương máu của cha mẹ, của những người đi trước. Do vậy, bà tìm mọi cách để bù đắp cho bố mẹ bằng cách cố gắng “nâng cao cuộc sống của họ dưới suối vàng”, bà chắc chắn rằng đời sống vật chất của bố mẹ không lạc hậu hơn so với đời sống trên dương thế của bà.
Sau buổi thăm mộ hai ngày, tôi ngồi với bà Thúy trong phòng khách để hỏi bà về những nghề truyền thống tổ tiên để lại trong làng. Bà Thúy làm thêm cho một công ty sản xuất thuốc lá địa phương để bổ sung vào số tiền trợ cấp ít ỏi của chính phủ. Trên nền nhà lát đá hoa bóng loáng, bà trải một cái chiếu để ngồi, trên chiếu đặt một cái giỏ đầy những mẩu thuốc lá đã dùng còn sót lại. Bà vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi. Tôi hỏi bà, liệu có quy định gì khi xây mộ cho người Việt không? “Cái đó phụ thuộc vào khả năng của mỗi người”, bà bắt đầu:
Nếu nhà bạn giàu, thì làm mộ đẹp và to. Nếu nghèo thì làm nhỏ. Nếu gia đình nhiều con và có điều kiện góp nhiều tiền thì làm mộ to, nếu ít con, và chỉ có thể góp ít thì làm nhỏ. Không có luật nào quy định về cái này.
Nếu một người rất nghèo và chỉ có thể xây dựng một ngôi mộ rất đơn giản thì liệu mọi người có buộc tội người đó bất hiếu? – tôi hỏi.
Không, đó không phải là bất hiếu. Đó là do hoàn cảnh kinh tế. Ngày nay có rất nhiều người có cuộc sống khó khăn, không đủ ăn, thậm chí họ không thể xây cho bố mẹ mình một ngôi mộ bằng xi măng nhưng cũng không ai gọi họ là bất hiếu. Chỉ có những người có của ăn của để, sống một cách thoải mái nhưng mộ của bố mẹ lại quá tồi tàn thì sẽ bị coi là bất hiếu. Ngôi mộ chính là một ngôi nhà cho người chết, và quả thật không tốt nếu một ai đó xây một ngôi nhà mới khang trang để ở trước khi xây một nơi an nghỉ thoải mái cho bố mẹ, ông bà.
Với sự phát triển kinh tế, sự giàu lên của các tầng lớp xã hội và sự phát triển của công nghệ đã giúp cho con cháu có điều kiện “chăm sóc” những người thân đã mất của mình hơn. Những người nông dân nghèo ở các làng quê ngày xưa sau khi chết được con cháu “cúng” cho những bộ quần áo xa xỉ của các quan chức thời phong kiến. Công nghệ xử lý ảnh cho phép làm lại những tấm ảnh chân dung đã trở nên rất phổ biến: Hình ảnh người đàn ông mặc những bộ quần áo lộng lẫy, đầy uy quyền, giống với vua chúa, quan lại ngày xưa. Những người phụ nữ giàu có, mặc những bộ quần áo lụa rộng và ngồi trên những cái ngai gỗ được chạm trổ tinh vi, hoặc người phụ nữ trẻ, yểu điệu trong trang phục áo dài thướt tha … đã không còn xa lạ nữa.
Bàn thờ của nhà bà Thúy có hai bức ảnh chân dung. Bên trái là tấm ảnh màu của mẹ bà, được chụp không lâu trước khi mất. Bên phải, một bức ảnh đen trắng có vết ố là bố bà, ông đứng một mình, dáng đầy tự hào và lịch lãm trong bộ áo dài bằng lụa đen của quan và các chức sắc ngày xưa. Một lần, khi tôi đến, bà Thúy lấy cho tôi xem bức ảnh gốc của bố bà. Và tôi đã rất ngạc nhiên thấy rằng nó hơi khác so với bức ảnh bà treo trên bàn thờ. Bức ảnh gốc là ảnh đen trắng, chụp cả gia đình bà đứng thành một nhóm và được chú thích phía sau là “Bố, mẹ và chị Thúy, 1951”. Bố bà, đứng thoải mái nhưng không phải mặc đồ lụa mà là một bộ đồ nông dân bằng vải thô. Bà Thúy giải thích rằng bà đã thuê một kĩ thuật viên máy tính ở Hà Nội để tạo ra một bức ảnh mới, họ cắt mặt ông từ bức ảnh gốc của gia đình và dùng công nghệ để xử lý và tạo ra bức ảnh người đàn ông mặc áo lụa đang có trên bàn thờ.

Những người họ hàng nam đến từ tỉnh Nghệ An đứng xung quanh mép chiếu, im lặng với vẻ tôn kính, và muốn tìm hiểu những nghi thức hoàn toàn xa lạ với họ. Ngày 20 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ tổ của dòng họ Nguyễn Thạc và hôm nay là có một sự kiện lớn lôi cuốn hơn 200 khách, đó là khôi phục dòng họ…
Sau khi ông Sung hoàn thành các lễ nghi đầu tiên, ba người đàn ông trong bộ áo thêu bước vào giữa chiếu. Họ dường như rất xấu hổ và ngập ngừng với vai trò của mình. Một người cầm một mảnh giấy được xé ra từ quyển vở học sinh, và đọc lầm bầm những gì đã được chuẩn bị trong đó. Những người đàn ông hội ý với nhau và thỉnh thoảng liếc qua ông Sung, bây giờ đang ở ngoài chiếu, để kiếm tìm một sự tán đồng.
Mỗi lần có một hành động sơ suất, thì ông Sung từ đám đông hô to “không được”, một cuộc hội ý nhanh chóng lại diễn ra để giải quyết vấn đề và các nghi thức lại tiếp tục. Ngay sau khi công việc của ba người đàn ông kết thúc thì những nghi lễ cũng kết thúc và tâm trạng ai nấy đều nhẹ đi chút ít. Ngoài sân, một đám đông tụ tập xung quanh một người đàn ông mảnh khảnh nắm trong tay một bản copy là bản gia phả mới nhất của gia phả dòng họ. Bản gia phả đầu tiên của dòng họ Nguyễn Thạc được viết bằng chữ Hán từ năm 1733. Nó được cập nhật định kì và có sự bổ sung trong những năm 1905, 1933 và 1998 thế kỉ 20. Năm 1999, nó được Viện Hán Nôm dịch sang tiếng Việt
Cuối cùng những người tham dự buổi thờ cúng bắt đầu ngồi vào các mâm cỗ. Bữa cỗ thịnh soạn có thịt và rượu trắng. Ông Sung cầm cái micro và nói một vài lời, nói đến tổ tiên trước, rồi đến Thành hoàng làng, sau đó đến những người bà con đang sống. Tiếp theo, ông giới thiệu ba người đàn ông đã thực hiện những thủ tục nghi lễ buổi sáng, bây giờ mặc quần áo bình thường, giải thích rằng họ là những người đến từ Nghệ An, đã đi 5 tiếng đồng hồ bằng ô tô đến đây xin được gia nhập lại vào dòng họ.

Chuyện kể rằng năm 1750, một thành viên của dòng họ Nguyễn Thạc đã được phong một chức quan trong đội quân cẩm vệ và đóng ở làng Sơn Lâm thuộc tỉnh Nghệ An. Vị quan này đã cưới một người con gái địa phương làm vợ và họ ở lại Nghệ An, sinh con đẻ cái, hầu hết đều là những người nông dân nghèo nhưng trung thực. Cuối cùng, họ mất liên lạc với quê gốc là làng Đình Bảng. Cho mãi đến khi thời kì đổi mới bắt đầu những người mang họ Nguyễn Thạc ở Sơn Lâm mới biết rằng họ còn có những người anh em xa ở tỉnh Bắc Ninh. Ông Ngà, một trong những người khách đến từ Nghệ An kể với mọi người:

Qua các thế hệ, dòng họ Nguyễn Thạc ở Sơn Lâm là dòng họ có uy quyền nhất, luôn giữ gìn nề nếp gia đình và phong tục của ông bà. Nhưng nhờ giới truyền thông và các phương tiện hiện đại mà dòng họ Nguyễn Thạc chúng tôi ở Sơn Lâm biết rằng vẫn có một dòng họ Nguyễn Thạc khác ở làng Đình Bảng, đấy là dòng họ gốc, lớn hơn ở Sơn Lâm chúng tôi nhiều. Cũng cần nói thêm, dòng họ Nguyễn Thạc ở làng Đình Bảng có xấp xỉ 1000 thành viên, chiếm 1/10 tổng số dân trong làng.

Năm 1990, một nhóm người từ Sơn Lâm đến Đình Bảng và nhận họ. Đến năm 1997, dòng họ Nguyễn Thạc đã tổ chức một cuộc họp ở Hà Nội với sự tham gia của nhiều chi khác nữa, và năm 1999, một nhóm người dòng họ này từ Đình Bảng đến Sơn Lâm. Cuối cùng, vào ngày 20 tháng 3 âm lịch năm 2001, những người già thuộc 3 trong 4 chi của dòng họ Nguyễn Thạc ở Sơn Lâm gặp nhau ở Đình Bảng để tham gia một buổi lễ tưởng nhớ tổ tiên gốc gác của mình.
Ông Ngà nói với các vị khách: “Cuối cùng hôm nay, chúng ta cũng có cơ hội gặp nhau, trao đổi ý kiến và làm cho mối quan hệ trong dòng họ thêm thân thiết”. Ông cũng nói lên niềm hi vọng vào thế hệ tương lai của con cháu ở cả hai nơi sẽ cùng gìn giữ và phát huy truyền thống của ông cha để lại.

Theo bản gia phả gốc của dòng họ Nguyễn Thạc được viết năm 1733 thì người sáng lập ra dòng họ là một người đàn ông thanh liêm chính trực, giàu tình cảm, Nguyễn Thạc Bác. Ông có hai người con, một con gái tên là Nguyễn Thị Ngọc Long và một con trai tên là Nguyễn Thạc Căn. Người con gái trở thành vợ lẽ của chúa Trịnh Kiểm và người con trai trở thành quận công phục vụ cho chúa Trịnh, và họ là những công thần trong triều Lê cai trị miền Bắc Việt Nam thế kỉ 16. Kể từ sau đó, trong dòng họ có rất nhiều người đỗ đạt cao và được nắm giữ các chức vụ quan trong triều, được thăng tiến và họ được xem là những người ngay thẳng và chính trực.

Nguyễn Thạc Bác là tổ tiên của dòng họ Nguyễn Thạc nhưng ông lại chỉ là một hình ảnh không quan trọng trong việc phát triển dòng họ. Trái lại, con gái ông, vương phi Ngọc Long mới là người đóng vai trò chủ đạo trong sự lớn mạnh của gia đình. Trong câu chuyện đầu tiên mà trưởng họ Nguyễn Thạc Sung kể với tôi về gia đình ông là câu chuyện về vương phi Ngọc Long.

Chuyện kể rằng vào năm 1559, khi Trịnh Kiểm, lúc đó là một vị quan có quyền lực nhất trong triều đình nhà Lê đi qua khu vực đồng bằng sông Hồng với đoàn tùy tùng của mình thì bất chợt gặp một cô gái đang cắt cỏ, vừa làm vừa hát

Trịnh Kiềm nhìn thấy một cảnh tượng rất lạ: Bất kể cô gái đi đến đâu thì những đám mây cũng đi theo trên đầu cô. Thấy những điều kì lạ như vậy, chúa Trịnh Kiểm đã gọi cô gái lại. Lúc này ông mới thấy gương mặt người con gái rất đẹp và cô đối đáp hết sức thông minh, do vậy ông đã đặt cô lên ngựa và mang về kinh đô Thăng Long.

Trong lúc ấy, người em trai của cô đang cày bừa ngoài đồng, nghe dân làng nói rằng có một đoàn quân binh đã đến bắtchị gái mình! Ngay lập tức anh vác cày đuổi theo. Chúa Trịnh Kiểm thấy người thanh niên này thật dũng cảm, và phong cho anh một chức quan trong quân đội. Càng ngày người thanh niên càng bộc lộ mình là một người thông minh, tài giỏi. Ông được thăng chứcquận công và trở thành người có quyền lực lớn thứ hai trong triều.
Một buổi tối hội làng, trước ngày diễn ra cuộc họp của dòng họ Nguyễn Thạc 20 tháng 3 âm lịch một ngày, bà chủ nhà nắm lấy tay tôi và kéo ra cửa: “Chúng ta đến đền vương phi đi!”. Khi tôi hỏi tại sao, bà chỉ trả lời “Đây là dịp để các con gái và con dâu dòng họ Nguyễn Thạc gặp nhau!” rồi bà đưa cho tôi cầm một túi nho đầy. Buổi tối hơi lạnh và ẩm ướt, những người phụ nữ quấn khăn quàng cổ, áo cộc tay sẫm màu đứng đầy sân đền. Bên trong, một vài người đàn ông lớn tuổi ngồi bên cạnh bàn, uống trà và nhận tiền “công đức” từ những người hảo tâm rồi lại ghi chép vào sổ.

Ánh sáng ấm áp của các cây nến tràn ngập cả 3 bàn thờ, trên mỗi bàn có một bức tượng vương phi quét sơn bóng. Hoa quả đủ màu sắc, những nắm cơm được bọc trong giấy đỏ, những gói bánh quy dừa, đồ cúng được sắp xếp đầy xung quanh bàn thờ. Khi tôi quan sát mọi thứ thì bà Hoàng, chủ nhà tôi sắp nho lên bàn thờ và thắp hương. Sau đó, chúng tôi ra ngoài sân gia nhập với nhóm những người phụ nữ khác và một nhóm đàn ông đang ngồi trên chiếu, tham gia vào những chuyện tầm phào cho đến khi hương tàn và đồ cúng của ai người nấy lại nhận về như lộc của tổ tiên.

Các nghi lễ buổi tối là để tưởng nhớ công ơn của những người phụ nữ trong dòng họ. “Tối nay, con gái và con dâu dòng họ Nguyễn Thạc đều phải làm đồ cúng ở đây”, một người đàn ông lớn tuổi nói với tôi như vậy. Khi tôi hỏi tại sao, ông nói “vì con gái và những người vợ của dòng họ Nguyễn Thạc có rất nhiều công lao với dòng họ”. Ông Sung giải thích thêm: “Tổ tiên cho rằng đàn ông và phụ nữ trong dòng họ phải bình đẳng do vậy, con gái và con dâu cũng phải bình đẳng”.

Vương phi Ngọc Long là người góp phần làm nên sự thành công trên đường công danh của em trai bà, và đây cũng chính là mốc son đầu tiên đánh dấu sự phát triển của dòng họ. “Vương phi đã đưa anh vào triều nên anh mới có thể phát triển tài năng và trở thành quận công. Cho dù anh ta có tài và may mắn đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu không có vương phi thì anh ta cũng không thể có cơ hội được phong quận công”, ông Sung lập luận. Và những người phụ nữ trong dòng họ tiếp tục đóng góp công lao làm nên danh tiếng của dòng họ ngày nay. Cho đến bây giờ, ai cũng phải thừa nhận rằng con gái của dòng họ Nguyễn Thạc thật thông minh và khéo léo. Rất nhiều các biệt thự cao tầng ở đây đều thuộc quyền sở hữu của những người phụ nữ mang dòng họ Nguyễn Thạc.

Cũng nhờ những câu chuyện mà mọi người kể tối hôm đó tôi được biết vương phi Ngọc Long đã xây dựng ngôi đền này, dân làng vẫn gọi là đền” vương phi” để tưởng nhớ bố mẹ và ông bà của bà.

Theo ông Sung kể, cô dâu đã tự nguyện rời bỏ quê hương và tài sản hiện có để theo chồng đến bất cứ nơi nào mà ông phải thuyên chuyển đến. Tuy nhiên, bà không để ông Lượng quên gốc gác tổ tiên của mình. “Bà có một điều ước là cùng chồng quay trở lại quê hương ông nên sẽ xây dựng ở quê nhà một ngôi nhà thờ họ. Để thực hiện được mơ ước này, bà đã phải tìm những cây cột bằng gỗ lim, mỗi cây dài sáu mét và đường kính hơn nửa mét ở Thanh Hóa và vận chuyển về Đình Bảng. Khó khăn nhất là khi những con ngựa phải kéo những khúc gỗ ngược dòng sông đến quê hương Đình Bảng”, ông Sung kể.


Đình Bảng

Được bắt đầu xây dựng năm 1700 và hoàn thành năm 1736, ngôi nhà thờ của dòng họ Nguyễn Thạc được công nhận là kiểu kiến trúc cổ của quốc gia, một trong những ngôi nhà cổ kính nhất đất Kinh Bắc. Khi hoàn thành, ngôi nhà trở thành tài sản của dòng họ, được sử dụng để thờ cúng, làm nơi ăn chốn ở. Ngôi nhà đã cuốn hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu thuộc địa; học giả người Pháp Pierre Gourou đã dành một vài trang trong bài nghiên cứu địa lý xã hội đồng bằng Sông Hồng để phác thảo những bản vẽ, tấm ảnh, mô tả ngắn gọn về ngôi nhà và khen ngợi kiểu kiến trúc đơn giản mà tao nhã của nó.
Ông Sung nhớ lại, khi ông còn là một cậu bé, “người Việt cũng như người Trung Quốc cho rằng một ngôi nhà có bốn thế hệ cùng sinh sống (tứ đại đồng đường) thì rất hạnh phúc. Ngôi nhà thờ họ lúc đó là một ngôi nhà như thế. Các cụ của tôi, ông bà tôi, bố mẹ tôi và tôi, tất cả đều sống ở đây, vì vậy trong ngôi nhà này có bốn thế hệ cùng sinh sống”. Ông nhớ lại, gian nhà chính lúc đó là gian nhà đặt bài vị tổ tiên. Đối với cậu bé Sung lúc ấy, gian thờ là một nơi “lạnh lẽo và đáng sợ”, một khoảng không gian thiêng liêng, hạn chế trẻ con và những người không thuộc dòng họ bước chân vào. Xung quanh ngôi nhà còn có một sân rộng, một bể nước và một hồ cá. Bắt đầu từ năm 1932, mẹ ông phát triển nghề nhuộm quần áo tại và công việc ngày càng phát triển, bà phải thuê thêm hơn 20 công nhân và bán quần áo nhuộm ở những nơi xa như Sài Gòn.

Nhưng mọi thứ đã thay đổi khi cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất nổ ra, thực dân Pháp chiếm đóng làng Đình Bảng và chiếm luôn ngôi nhà thờ họ này từ năm 1949 đến 1954. Đầu tiên, gia đình ông Sung tản cư lên vùng kháng chiến ở Thái Bình và sau đó về Hà Nội khi cuộc chiến kết thúc. Ông Sung xem sự tồn tại của ngôi nhà thờ là một điều kì diệu, một phần do sự bảo vệ của tổ tiên, một phần do sự uy nghiêm, linh thiêng của nó.
“Có lẽ công trình xây dựng này có một tính chất đặc biệt, đó là lý do tại sao quân Pháp đã không phá hủy nó, mặc dù họ phá hủy toàn bộ các ngôi nhà quanh đấy. Có lẽ điều này là một sự may mắn quá lớn đối với chúng tôi, và có thể cũng vì người Pháp cảm nhận được vẻ đẹp kiến trúc và sự linh thiêng của ngôi nhà thờ nên họ không dám phá huỷ nó. Khi chúng tôi từ vùng kháng chiến trở về thì tất cả các phòng vẫn nguyên vẹn như trạng thái ban đầu, chỉ một vài viên đá lát nhà bị cạy mất”, ông Sung nói.
Trong suốt thời kì cải cách ruộng đất 1957-1958, gia đình ông Sung và dòng họ Nguyễn Thạc rơi vào hoàn cảnh khó khăn và mất đi một vài người chủ chốt. Bố mẹ của ông Sung do buôn bán thuận lợi nên đã trở nên phát đạt. Họ tiếp tục sống trong ngôi nhà nhưng có một thời gian họ cho một công ty dệt của những người ngoài dòng họ đến ở và sản xuất. Cho đến khi bố ông cảm thấy không chịu nổi những tiếng ồn ào của những chiếc máy dệt, ông Sung đã quyết định không cho công ty này thuê nữa.
Thời chiến, các nghi lễ tại ngôi đình được tiến hành không thường xuyên và nếu có thì chỉ ở làm rất đơn giản, do ông trưởng họ chủ trì. Trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, thỉnh thoảng thực dân Pháp cho phép bố của ông Sung về để quản lý và kiểm soát việc thờ cúng vào những ngày giỗ chính. Ông Sung ngờ rằng, Pháp ban cho bố ông đặc quyền đó là vì mẹ ông đã khéo léo mang cho lính Pháp những mặt hàng mà họ ưa thích. Sau khi Pháp rút, từ năm 1954 đến chiến tranh Đông Dương lần thứ hai xảy ra và cả sau khi hòa bình được lập lại, mọi thứ đều công hữu hóa, dòng họ không có điều kiện làm những cuộc giỗ tết chung như trước đây..


Đình làng Đình Bảng

Cuối những năm 1980, thời kì Đổi Mới bắt đầu, người ta được phép khôi phục lại các lễ hội và các phong tục cũ, đồng thời tôn tạo lại đình chùa và các ngôi nhà thờ họ. Giữa những năm 1990, không lâu sau thời điểm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt – Nhật, Nhật Bản bắt đầu cấp kinh phí cho việc bảo tồn văn hóa của Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản từ trường Đại Học Showa, Tokyo đã điều tra 676 căn nhà truyền thống ở Bắc Ninh và cho rằng căn nhà của dòng họ Nguyễn Thạc là nơi cần được khôi phục nhất. Và họ đã tiến hành khôi phục lại ngôi nhà với số tiền đầu tư lên đến một triệu đôla, do Hội hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ. Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc được chọn không chỉ vì giá trị lịch sử và sự tinh xảo của lối kiến trúc dân tộc mà còn vì những bức vẽ tỉ mỉ của Gourou từ những năm 1930. Những người đứng đầu dòng họ Nguyễn Thạc, Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), nhóm nghiên cứu Nhật Bản và những người thợ thủ công lành nghề đã cùng nhau góp công sức để tôn tạo lại ngôi đền giữa năm 2001 và nó đã được UNESCO công nhận là một trong sáu ngôi nhà cổ của Việt Nam.
Song song với việc tiến hành những cải cách chính trị, kinh tế, luật pháp và ngoại giao có ảnh hưởng sâu rộng trong thời kì đổi mới, thì với nguồn động viên của chính phủ, người Việt Nam đang dần khôi phục lại các yếu tố tôn giáo truyền thống và các lễ hội làng. Và tất nhiên, các giá trị văn hóa và các phong tục này vẫn sẽ tiếp tục phát triển trên nền tảng của những thay đổi của xã hội mới.
Mọi người dân Việt Nam xem việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống dân tộc”, có lịch sử lâu đời và được truyền từ đời này đến đời khác trên khắp đất nước. Tuy nhiên, trong suốt những năm trước cách mạng, việc thờ cúng tổ tiên được xem là công việc của từng cá nhân vì ba lý do chính. Thứ nhất, mọi nguồn lực phải huy động vào việc chiến đấu giành độc lập và xây dựng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không khuyến khích các lễ hội tốn kém và mang nặng tính chất tôn giáo vì đất nước còn quá nghèo ,đồng thời kẻ địch có thể lợi dụng tôn giáo để làm lung lay ý chí của người dân. Thứ hai, như đã đề cập ở trên, Đảng đã tiến hành các chính sách và các cuộc vận động nhằm bại trừ nạn “mê tín dị đoan”, xoá bỏ các hủ tục như lên đồng và hoá vàng. Thứ ba, trong thời chiến, các gia đình ở phân tán và đời sống khó khăn, khó có cơ hội tập trung cả một dòng họ rất đông người để tổ chức chung các buổi lễ tưởng nhớ tổ tiên.Hình thức phổ biến nhất của những người Việt theo tục lệ thờ cúng tổ tiên là tìm những nơi kín đáo, để bày tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ những người đã khuất bằng những buổi cúng lễ đơn giản nhất trong phạm vi gia đình nhỏ của mình.
Sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với cả nước, làng Đình Bảng bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vào những năm 1990, khi chính phủ không còn quá khắt khe đối với các hoạt động tôn giáo thì các dòng họ trong nước bắt đầu tổ chức lại hoạt động chung của cả một đại gia đình. Nguyễn Thạc là một trong những dòng họ như vậy. Điều này chứng tỏ rằng đây là một dòng họ có sức tồn tại vững vàng qua các thập kỉ và sẽ tiếp tục trường tồn. Chính vì vậy mà nó đã lôi cuốn các nhà nghiên cứu Nhật Bản tìm kiếm và đầu tư để khôi phục. Nhờ nguồn vốn của Nhật Bản cùng với kiến thức của các nhà khoa học, những bức vẽ của người Pháp và kiến trúc của Việt Nam, hay nói đúng hơn là của dòng họ, đã được phục hồi.
Làng Đình Bảng đã chỉ ra bốn đặc điểm mà sự phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng đến tôn giáo nói chung và việc thờ cũng tổ tiên nói riêng.

Thứ nhất, quần chúng được tăng thu nhập, mức sống ngày càng cao, các chính sách văn hoá xã hội thoải mái đã tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc phục hồi các phong tục tôn giáo.
Thứ hai, như đã đề cập ở trên trong trường hợp của bà Thuý về sự chênh lệch của đời sống vật chất thời hiện tại với cuộc sống nghèo túng mà cha mẹ bà trước đây đã phải trải qua, nên trong thời kinh tế thị trường con cháu có điều kiện để tỏ lòng biết ơn tổ tiên bằng các nghi lễ truyền thống như các ngày giỗ để tưởng nhớ họ.
Thứ ba, xã hội phát triển không làm cho đời sống của người dân xao lãng chuyện thờ cúng tổ tiên, đại bộ phận có xu hướng “khuếch đại mối quan hệ họ hàng”, nối lại mối quan hệ đã một thời lỏng lẻo, bằng cách tổ chức những buổi làm giỗ, và các buổi thờ cúng tại các nhà thờ họ.
Cuối cùng, với những cách tiếp cận thông tin trong thời hiện đại và sự hòa nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế, mạng lưới tôn giáo xã hội trong thời Đổi Mới đang mở rộng thành các lĩnh vực tôn giáo trên toàn quốc, thậm chí phát triển trên toàn cầu. Một ví dụ điển hình ở đây là sự liên kết giữa hai chi khác nhau của dòng họ Nguyễn Thạc ở Bắc Ninh và Nghệ An và sự phối hợp của dòng họ với những chuyên gia nước ngoài và các tổ chức quốc tế.

Hầu hết mọi người dân làng Đình Bảng ngày nay quan niệm rằng tổ tiên sống ở một thế giới khác gọi là thế giới tâm linh. Những người như bà Thuý tin vào sự linh thiêng của tổ tiên, cho rằng họ có thể thấu hiểu, bảo vệ và phù hộ cho con cháu mình.
Bà Thúy quả quyết, tổ tiên đã phù hộ bà rất nhiều từ việc bảo vệ bà khỏi bị tai nạn giao thông ở trên quốc lộ 1 đến việc làm cho mối quan hệ anh em trong gia đình bà hòa thuận trở lại, từ việc giúp cháu trai bà vượt qua kì thi đến việc làm vết thương trên cổ bà mau lành. Bà Thúy tin đây là kết quả của sự quan tâm và lòng thanh kính của mình đối với tổ tiên. Những gì bà đã làm là một sự kết nối, duy trì mối quan hệ của bà đối với những người đã mất.
Ông bà có thể phù hộ con cháu họ là một trong những lý do khiến mọi người coi trọng việc thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra, vẫn còn có một lý do khác buộc những người còn sống phải quan tâm đối với những người đã mất, đó là các quan niệm thuộc nền tảng đạo đức, đạo lý làm người. Đạo làm con phải “uống nước nhớ nguồn”. Không ai tự nhiên được sinh ra, không ai tự nhiên lớn lên, tất cả đều phải chịu ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và những người đi trước, “có tổ tiên mà mới có mình”. Sự biết ơn và tưởng nhớ công lao của tổ tiên chính là để thể hiện “đạo lý làm người”, một đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam.


Tưng bừng ngày hội tưởng nhớ tổ tiên của người Việt

Cách thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với tổ tiên liên quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh kinh tế xã hội. Ví dụ, ngôi mộ mà gia đình bà Thúy xây dựng cho cha mẹ chứng tỏ bà có hoàn cảnh kinh tế khá giả, và bà rất tự hào vì “mọi người cho rằng nó là ngôi mộ đẹp nhất làng”. Chính điều này nhiều khi cũng gây ra không ít những sự ganh đua trong làng. Vì thế, trong nghĩa trang ngày càng mọc lên nhiều ngôi mộ rất lớn và đẹp. Tuy nhiên, giá trị thực sự của một ngôi mộ chính là ở sự thành tâm của đạo làm con. Vẻ đẹp của ngôi mộ không chỉ chứng tỏ sự thành công về mặt tài chính mà còn thể hiện sự tận tụy và tính nhân văn của một gia đình có nền tảng đạo đức tốt đẹp. Cùng với việc thờ cúng, sự quan tâm đến mồ mả cha ông của bà Thuý càng làm nổi bật lên nhân cách tốt đẹp của cá nhân bà nói riêng và gia đình bà nói chung. Bà muốn thực hiện đúng bổn phận làm con cả khi bố mẹ còn sống và khi họ đã mất.


Việc thờ cúng, sự quan tâm đến mồ mả cha ông là thực hiện đúng bổn phận làm con cả khi bố mẹ còn sống và khi họ đã mất.

Trong các dịp giỗ tổ của dòng họ Nguyễn Thạc, những người con còn sống đã nhấn mạnh công lao của các cha ông, từ công lao của vương phi Ngọc Long, người được xem là có công lớn trong việc tạo dựng nên bảy thế hệ có người làm quan của dòng họ đến những thành viên gần đây, những người có công phục vụ tổ quốc trong các cuộc chiến tranh giành độc lập. Tất cả tên tuổi của họ đều được ghi tại “bảng ghi công”.
Công lao mang lại sự vẻ vang và danh tiếng không chỉ cho những cá nhân có liên quan mà còn cho toàn thể đại gia đình. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Thạc, ông Nguyễn Thạc Lượng đã có công mang lại danh tiếng cho tất cả các thế hệ ông bà đi trước và để lại phúc đức cho tất cả các thế hệ con cháu sau này. Nhà thờ họ hay ngôi đình làng Đình Bảng như chúng ta biết ngày nay được xây dựng và đã làm rạng danh trước hết là vợ chồng ông, sau đó đến dòng họ Nguyễn Thạc và đến những người trong làng. Gia phả còn ghi lời nói của ông, đại ý là những công trình do ông xây dựng bao gồm cả nhà thờ họ là di sản để lại cho cả làng chứ không phải cho một cá nhân nào cả. “Ông không màng danh lợi”, ông Sung nói và nhấn mạnh không ai có thể tìm kiếm được bất kì một dấu vết nào chứng tỏ là ông Lượng đã xây ngôi nhà này. “Không giống như ngày nay, mọi người thường khắc tên mình vào các cây cột để được ghi nhớ đến muôn đời”, ông nói với vẻ mặt nghiêm nghị, ám chỉ đến hành động mà những người “tài trợ” thường làm khi góp công khôi phục một công trình kiến trúc.
Nhìn chung người làng Đình Bảng nói riêng và người Việt Nam nói chung thực sự tự hào về việc thờ cúng tổ tiên, hay nói khác hơn là việc này tạo cho họ cơ hội giao tiếp, phát triển mối quan hệ họ hàng, chia sẻ vui buồn và hợp tác với nhau vì lợi ích của cả cộng đồng. Còn nhớ buổi tối “nhận họ” của những người khách từ Nghệ An ra và những người thuộc dòng họ Nguyễn Thạc ở Bắc Ninh, một bữa ăn chung ấm cúng đã khiến họ có điều kiện nói chuyện, trao đổi ý kiến để củng cố thêm tình thân thiết họ hàng. Có thể nói, tổ tiên ông bà và những người đã mất đóng một vai trò hết sức ý nghĩa trong đời sống người Việt Nam hiện nay.


Tổ tiên ông bà và những người đã mất đóng một vai trò hết sức ý nghĩa trong đời sống người Việt Nam hiện nay.

Trong bài nghiên cứu này tôi đã tìm hiểu việc thờ cúng tổ tiên thời hiện đại ở Việt Nam thông qua hai con người sống cách nhau chưa đến 1km trong làng Đình Bảng, đó là bà Thúy và ông Sung.
Họ đều được sinh ra trong thời loạn lạc, đều lớn lên trong thời Pháp thuộc và chiến tranh, họ đều là những thầy cô giáo. Họ là hai nhân vật điển hình trong phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Tuy nhiên, họ có những cách khác nhau: Bà Thúy thì tập trung củng cố mối quan hệ của mình với những người đã mất còn ông Sung thì bắt tay vào khôi phục lại một dòng họ sao cho gắn bó hơn. Tóm lại, cả hai trường hợp đều làm cho chúng ta thấy được sự ảnh hưởng của tín ngưỡng địa phương, đặc biệt là tục thờ cúng đối với cuộc sống từng gia đình. Việc thờ cúng tổ tiên trong xã hội Việt Nam hiện đại có rất nhiều hình thức khác nhau nhưng bây giờ và mãi mãi về sau nó vẫn sẽ là một truyền thống có ý nghĩa trường tồn và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống con người.

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng, một đạo lý, một truyền thống của đất nước hay chỉ là mê tín? Các cuộc tranh luận có thể đã cho chúng ta hiểu một phần nào về bản chất của nó nhưng để hiểu được thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống con người thì chúng ta cần phải theo những vạt khói hương để quay trở lại các bàn thờ …

Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch
Tác giả: Kate Jellema; Hạ Anh dịch; Nguồn: Viettimes

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.