RSS

Author Archives: cadaotucnguvietnam

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á (Tiếp theo)

Thomas Suárez

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN

VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ

VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á (TT)

Ngô Bắc dịch

*****

Phụ Lục 15

Lục Địa Đông Nam Á

Trong Bản Đồ Của Gastaldi năm 1548

(các trang 148-149)

Mã Lai

Sự minh họa của Gastaldi về Bán Đảo Mã Lai và Đông Dương, mặc dù là một sự miêu tả “hiện đại”, vẫn mang các cội rễ xa xôi trong bản đồ Golden Chersonese (Bán Đảo Vàng) của Ptolemy.  Giống như một nhà điêu khắc nhồi nhét và vắt nặn đất sét của mình trước khi nó khô đi với thời gian, Gastaldi đã cố khuôn đúc kiến thức địa dư của thời đại ông vào bản đồ Bán Đảo Vàng của Ptolemy hơn là vứt bỏ nó toàn bộ để làm một tác phẩm điêu khắc hoàn toàn mới chưa từng có.  Ông ta lấy phần vẽ lục địa Đông Nam Á của Ptolemy (so sánh phần vẽ về Mã Lai của ông với phần tương ứng trong bản đồ của Ptolemy, Hình 27), và đã kiểu chính vĩ độ của Mã Lai để nới dài về phía nam tới 1 ½ o bắc vĩ độ, như được báo cáo một cách chính xác trong nhật ký của Pigafetta, chứ không phải là 1 ½ o nam vĩ độ được tìm thấy trong bản thảo và ấn bản lần đầu tiên quyển nhật ký của ông ta, và được sử dụng bởi Fine hồi năm 1531, hay 3o nam, như trong chính bản đồ của Ptolemy.  Hình dạng chiếc lá lật ngược cho phần đất phía nam của Mã Lai trong bản đồ của Ptolemy (có thể là Sumatra) giờ đây nghiêng về phía đông một cách chính xác, và mỏm trên đó Ptolemy vẽ ra có thể tượng trưng cho phía nam của Đông Dương (thi trường Zaba, được trích dẫn bởi Ptolemy nằm ở tọa độ 4o45” băc vĩ độ) và giờ đây nằm ngay trên 10o (số tọa độ chính xác là ngay trên 8o).  So sánh hai bán đảo này với hai phần đất tiền thân của chúng trong bản đồ Ptolemy cho thấy rằng Gastaldi đã đánh đồng vùng Sinus Perimulicus của Ptolemy với Vịnh Xiêm La (Gulf of Siam) – một danh xưng mà trong thực tế, ông giữ lại trên bản đồ là Golfo Permuda.

Singapore ….

Căm Bốt và Miến Điện …

Xiêm La và Các Vương Quốc Khác Trên Bản Đồ Năm 1548

Davsian, vương quốc phía bắc của Ava, là Sian (Siam: Xiêm L), cách đọc sai từ từ ngữ d’Ansian (có nghĩa vương quốc của Xiêm La) được nhận thấy trong các bản đồ chẳng hạn như bản đồ của Ribero năm 1529.  Nagogor, trên bờ biển phía đông của Mã Lai, là Lugor (Nakhon si Thammarat), một thành phố tại miền nam Thái Lan, thành phố Nagaragoy trên các bản đồ sớm hơn như bản đồ của Waldseemmuller năm 1513 (Hình 57).  Trong trận chiến dành quyền kiểm soát Malacca, người Bồ Đào Nha đã sớm vương vấn vào một sự say đắm với Xiêm la, vừa bởi sự giàu có và quyền lực dự tưởng của nó, vừa bởi sự cạnh tranh của nhà vua của nó với các nhà lãnh đạo Malacca mà Albuquerque đang giao tranh.  Chính vì thế, Albuquerque đã phái một sử giả, Duarte Fernandes, đến Ayuthaya ngay trước khi ông ta chiếm đoạt được Malacca.  Người Bồ Đào Nha cảm thấy an tâm khi biết rằng nhà lãnh đạo Xiêm La, Rama T’ibodi II, đang bận tâm về chiến cuộc với Chiang Mai, và không có ý đe dọa cán cân giữa những kẻ đang dành giựt Malacca.  Một sứ bộ Bồ Đào Nha khác đã đi đến Ayuthaya trong năm 1518, lần này để thiết lập một hiệp ước với Vua Rama T’ibodi II.  Người Bồ Đào Nha được cho phép định cư tại Xiêm La và được mua bán tại Ayuthaya, Lugor, Patani, và Mergui, trong khi người Xiêm La được phép định cư tại Malacca, và được hứa hẹn súng ống cho cuộc chiến tranh của họ chống lại Chiang Mai.

Comche China (Cochin-China), một từ ngữ được đặt ra bởi người Bồ Đào Nha và được sử dụng trước tiên để chỉ bất kỳ phần đất nào của Việt Nam khác hơn là xứ Chàm hay miền Châu Thổ sông Cửu Long, được ghi tên bên cạnh Đông Dương.  Từ ngữ này có thể có nguồn gốc từ tiếng Mã Lai là Kuchi, bản thân có thể đến từ danh xưng bằng tiếng Hán, “Chiao-Chili: Giao Chỉ”, hay Tongking (Đông Kinh, [tức Bắc Kỳ]).  Tomé Pires đã giải thích rằng “Cochin-China” là một từ ngữ được dùng tại Malacca, [trong thành ngữ] “xét về miền Cauchy Coulam”.  Người Bồ Đào Nha có thể đã bổ túc từ ngữ “China” vào từ ngữ “Cochin” để phân biệt nó với vùng Cochin thuộc Ấn Độ.  Barros xem vùng Cochin-China là vùng ít được biết tới nhất trong các vương quốc Đông Dương (sau Căm Bốt và Chàm).  Ông cho rằng sự thiếu hiểu biết của Tây phương về vùng Cochin-China là hậu quả của các đại dương giông bão và bất trắc ngoài bờ biển của nó, và vì sự kiện rằng người Cochin-China ít khi tham gia vào các cuộc mạo hiểm đường biển.  Một thế kỷ sau đó, giáo sĩ Dòng Tên Marini đã phàn nàn rằng các nhà địa dư đã sử dụng sai từ ngữ “Cochin-China” để chỉ toàn thể Đông Dương bởi họ không hay biết gì về miền này và lịch sử của nó.

Pires có báo cáo rằng vương quốc này, giống như xứ Chàm, là một dân tộc nặng về nông nghiệp hơn là đi biển, mặc dù ông ta tin rằng nước này được ban cho nhiều con sông lớn, có thể hải hành được, và hay biết rằng các thương nhân của nó thường xuyên du hành sang Trung Hoa, và đôi khi sang Malacca.  Cochin-China liên hệ chặt chẽ với Trung Hoa về văn hóa, thương mại, và ngay bởi sự kết hôn giữa các hoàng tộc.  Sự quen thuộc với Tongking (Bắc Kỳ) – được làm chứng bởi sự xuất hiệu danh xưng của nó trên các bản đồ Âu Châu – gia tăng khi người Bồ Đào Nha tự định cư tại Macao, nơi đã cung cấp một căn cứ thực dụng để với tới Việt Nam.  Một khi từ ngữ Tongking đã được đặt cho miền bắc Đông Dương, danh xưng Cochin-China đã được dùng để chỉ An Nam (Trung Kỳ), phần đất Việt Nam tập trung quanh thành phố Huế. [hết trích dịch]

Hình 73: Đông Nam Á, Giacomo Gastaldi, 1548 (13 x 17 cm)

*****

Phụ Lục 16

Lục Địa Đông Nam Á

Trên Bản Đồ của Ramusio năm 1554 và

Trên Bản Đồ của Gastaldi năm 1561

(các trang 150-151)

       [Bắt đầu trích dịch] Nói chung, những gì có thể nói về lục địa trên bản đồ của Ramusio năm 1554 có có thể đúng như vậy đối với Bản Đồ Của Gastaldi năm 1561.  Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến Bản Đồ Của Ramusio khi Bản Đồ Gastaldi khác biệt một cách đáng kể.

Trong khi hình dạng của Mã Lai trên Bản Đồ Gastaldi năm 1548 có giữ lại một sự ám chỉ đến Bán Đảo Vàng của Ptolemy, Bản Đồ Của Ramusion có một hồi ức mơ hồ về bán đảo Cantino cổ xưa (Xem Bản Đồ Waldseemuller Asia, Hình 57), tương tự cũng chính xác về vĩ độ, với sự định hướng mỏm phía nam cũng được quay ngược lại một cách chính xác.  Tuyệt vời hơn rất nhiều về hình vẽ của Mã Lai so với bản đồ năm 1548, đây là nền tảng của Mã Lai, Đông Dương, và đúng ra lục địa Đông Nam Á hiện đại.  Một vài bản đồ thế giới được ấn hành vào khoảng cùng lúc với bản đồ Ramusio cũng cho thấy các sự cải tiến trên vùng lục địa, nổi bật là bản đồ khá thô sơ của Lopez de Gómara năm 1552-53, và, đặc biệt hơn, bản đồ của Michele Tramezzino năm 1554.

Việt Nam

Sông Hồng có được bước khởi đầu, ở đây, và được trình bày cùng với thành phố của Cochinchina (Hà Nội) được vẽ bên bờ sông của nó.  Tiếp tục đi xuống phía nam, chúng ta đến một bán đảo nhô ra về phía đông được đặt tên là Capo pulocanpola.  Tên này là cách gọi sai của danh xưng “Pulo Condore” (Côn Sơn), một hòn đảo ngoài khơi Châu Thổ sông Cửu Long, và là một biến thể của từ ngữ fulucandoia trong nguyên mẫu bán đảo Đông Dương trên bản đồ của Cantino năm 1502 và nhiều bản đồ kế tiếp của cùng gia tộc này (xem trang 109 [trong nguyên bản, chú của người dịch] bên trên).  Bản đồ của Ramusio gần với sự thực hơn, với từ ngữ fulu của Cantino giờ đây được đánh vần một cách chính xác hơn là pulo (hòn đảo).

Sông Cửu Long

Theo sau quái trạng này, chúng ta đi qua xứ Chàm (Campa) và có được cái nhìn thoáng qua dòng sông dũng mãnh Cửu Long và vùng châu thổ trải rộng của nó, được ghi theo tên hiện đại của nó (Mécon), mà theo Camões có nghĩa là “Ông Hoàng Của Các Dòng Sông” (Prince of Waters).  Quyển Travels của Pinto đề cập đến dòng sông là Pulo Cambin, mặc dù đây rõ ràng là một cách gọi sai lạc theo văn bản bởi pulo, như Pinto hẳn phải hay biết, có nghĩa “hòn đảo” (island).  Nhiều nhà vẽ bản đồ sau này đơn giản chỉ sông Mekong là Sông Căm Bốt (River of Cambodia).

Dòng chảy của sông Cửu Long là một sự đoán mò, dòng sông được hình dung như một hải lộ gần như thẳng tuột, thông suốt, đến tận nội địa Trung Hoa xa xôi.  Chính vì với quan điểm ngây thơ về dòng chảy của sông Mekong này, chúng ta nhìn thấy sự mở màn cho hai sự ngụy biện có tầm quan trọng bao la.  Sự sai lầm thứ nhất là giấc mơ rằng con sông có thể cung cấp một thông lộ thương mại dễ dàng vào đến tận trung tâm của Vương Quốc Thiên Triều, một cuồng vọng ám ảnh các kẻ tìm kiếm của cải người  Âu Châu mãi cho đến cuối thế kỷ thứ mười chín.  Thứ nhì, bởi vì người Âu Châu đã nhận thức sông Mekong như xác định biên giới phía đông của Xiêm La, dòng chảy phán định dành cho con sông huyền bí – thiếu mất bước ngoặt gắt sang phía đông ở phía bắc Phnom Penh – đã làm giảm bớt lớn lao sự nhận thức của khối Tây về kích thước của Xiêm La.  Sự sai lầm này, như chúng ta sẽ thấy sau này, giúp cho Xiêm La tránh được sự đô hộ của ngoại bang trong thế kỷ thứ mười chín.

Biển Hồ Tônle Sap

Cả bản đồ của Ramusion và của Gastaldi năm 1561 đều trình bày sơ sài về Biển Hồ Tônle Sap, hồ được đổ nước vào từ một phụ lưu của hạ lưu sông Cửu Long với bờ hồ tây bắc giáp ranh với kinh đô cổ thời ở khu đền Angkor.   Nhưng kích thước của hồ khác nhau một cách rõ rệt giữa hai bản đồ.  Bản đồ của Ramusio cho thấy nó như một hồ tương đối nhỏ được giới hạn vào miền châu thổ sát cạnh, trong khi bản đồ của Gastaldi chạy dài gần đến vĩ độ 5o .  Tại sao lại có một sự khác biệt đến thế giữa hồ trên hai bản đồ có các vùng lục địa, mặt khác, liên hệ chặt chẽ với nhau?  Chiều rộng của hồ Tônle Sap trong thực tế thay đổi một cách sâu xa, mở rộng và thu nhỏ khi mà hạ lưu sông Mekong thực sự đảo ngược dòng chảy hai lần trong một năm.  Giống như một lá phổi của lưu vực sông Mekong, hồ nhiều cá mở rộng và thu nhỏ theo mùa,thay đổi kích thước gần mười lần từ khoảng 2600 đến 25,000 kilomét vuông, và chính vì thế các nhà thám hiểm nhìn thấy hồ ở các thời điểm khác nhau trong chu kỳ của nó sẽ báo cáo các cảnh tượng hoàn toàn khác biệt.  Ramusio chỉ đơn giản chỉ danh hồ là Lago, trong khi Gastaldi dùng chữ Lago de Cambodia (Hồ của Căm Bốt).  “Tônle Sap”là một từ ngữ tiếng Căm Bốt có nghĩa “hồ vĩ đại”, giống như Chao Phraya hay Sông của Thái Lan từ lâu được gọi bằng một danh từ của Thái để chỉ con sông, “menam”. [hết trích dịch]

Xin xem và so sánh các hình 74 và 75 bên trên, chú của người dịch.

***

Hình 78: Thuyền xưa đáy bằng, boong thấp, chèo bằng tay của nhà vua Bắc Kỳ, và (góc dưới, bên phải], cách họ ăn cơm bằng đũa.  Trong tập Delle Missionidé Padri della Campganiadi Giesu của Marini, Rome, 1663.  Vị tu sĩ địa phận Choisy thuật lại một sự trình bày sống động về các chiếc thuyền này mà ông đã nghe được trong cuộc du hành đến Xiêm La năm 1685 của ông, và tương hợp một cách chặt chẽ với hình minh họa của Marini.  “Mỗi thuyền đáy bằng [của Cochin-China] có ba mươi sáu tay chèo ở mỗi bên,” (được vẽ với con số chính xác) và chỉ có một người cho mỗi mái chèo.  Phần mũi và đuôi tàu bỏ trống  và đài cao dành cho các sĩ quan.  Không có gì ngăn nắp cho bằng các người này.  Các tay chèo phải luôn luôn trông chừng vị thuyền trưởng, kẻ bằng động tác của chiếc gậy chỉ huy ra hiệu cho họ thi hành các mệnh lệnh của ông.  Tất cả nằm trong một sự hòa hợp đến nỗi một nhạc trưởng khó làm khá hơn trong việc phối hợp nhịp điệu các nhạc sĩ của mình cho bằng một vị thuyền trưởng một chiếc thuyền đáy bằng của Cochin-china tuân theo sự di chuyển của chiếc gậy chỉ huy.  ”Vị nhạc trưởng” đứng trên “bục” bên trái, tay cầm gậy chỉ huy.  Mặt ngoài của thuyền được quét sơn bóng màu đen và mặt trong có một lớp sơn mài màu đỏ trên đó người ta có thể thấy phản chiếu khuôn mặt của mình.  Tất cả mái chèo đều được thếp vàng.” (Cảm ơn hảo ý của Martayan-Lan, New York)

*****

Phụ Lục 17

Các Phái Bộ Truyền Giáo Âu Châu Đến Việt Nam

(các trang 216-217)

       [Bắt đầu trích dịch] Các giáo sĩ Dòng Tên Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha, và Pháp đã bắt đầu tổ chức các phái bộ sang Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ mười bẩy.  Alexandre de Rhodes, quê quán tại Avignon đã làm việc trong hai thập niên tại Đông Á Châu, được phái đến Bắc Kỳ (Tongking) trong năm 1627 bởi các bề trên của ông ở Ma Cao.  Đã sẵn học ngôn ngữ Việt Nam trong thời cư trú trước đó tại nước này, ông đã thành lập một phái bộ ở Hà Nội và tuyên bố đã thụ hưởng sự thành công mau chóng và vững chắc trong các sự cải đạo (mặc dù Willam Dampier tường thuật rằng nhiều người cải đạo được báo cáo bởi các nhà truyền đạo Thiên Chúa là các kẻ nghèo đói đã tìm đến các người Âu Châu để có gạo “trong các thời kỳ khan hiếm”).  Tuy nhiên, ông Rhodes đã bị trục xuất ba năm sau đó, nhiều phần bởi các bà vợ của nhà vua cùng gia đình của họ, các kẻ lo sợ tương lai sẽ ra sao nếu các giáo lệnh của Thiên Chúa chống lại chế độ đa thê được chấp nhận, đã áp lực nhà vua cấm đoán ông ta.  Trong năm 1650, một năm sau khi trở lại Rome, ông Rhodes đã xuất bản một tập tường trình về Việt Nam có chứa một bản đồ phần miền bắc của xứ sở (Hình 130).  Nhan đề của bản đồ trưng dẫn danh xưng cổ xưa, “An Nam”, có nghĩa “miền nam đã được bình định”, một sự ám chỉ đến sự khuất phục của nó dưới sự cai trị của Trung Hoa từ khoảng 111 trước Công Nguyên đến năm 939 sau Công Nguyên.  Bản đồ phản ảnh hình ảnh của miền bắc Việt Nam như có nhiều con sông ngắn, điều mà Choisy đã mô tả trong năm 1685 như “quá ngắn và quá nhiều đến nỗi không ai đặt tên cho chúng cả.”

Một bản đồ Việt Nam đáng lưu ý khác được họa vào thời khoảng này bởi Daniel Tavernier, kẻ đã thực hiện mười một hay mười hai cuộc du hành đến Bắc Kỳ trong thập niên 1640 từ các tiền trạm tại Nam Dương.  Daniel mất năm 1648, nhưng người (anh) em nổi tiếng hơn của ông, Jean Baptiste, đã công bố bản đồ của Daniel vào năm 1679 (Hình 131) như một phần của phụ lục cho tập tường trình các cuộc du hành của chính ông đến Á Châu, vốn đã mang lại cho ông một sự giàu có đáng kể nhờ việc mua bán kim cương.  Bản đồ và các phần ghi chú khác nhau, giống như sự tường thuật về Bắc Kỳ của tác giả, chứa đựng cả các tin tức xác thực lẫn hoang đường.

Dampier đã để lại cho chúng ta các cảm tưởng của ông về việc ngược dòng sông lên Hà Nội (Kecio trên bản đồ của Rhodes, Checo trên bản đồ của Tavernier):

Trong khi chính từ đó chúng tôi đi ngược dòng Sông, đôi khi chèo tay và đôi khi trương buồm, chúng tôi nhìn được một cảnh tượng ngoạn mục trên Xứ Sở phì nhiều bằng phẳng khoảng khoát.  Tổng quan, hoặc Đồng Cỏ hay các cánh đồng ruộng Lúa và vắng bóng cây cối, chỉ ngoại trừ gần các Ngôi Làng, mọc lên san sát, và trông có vẻ vô cùng thích thú từ xa.  Có nhiều Ngôi làng nằm sát các bờ của các con Sông, bao quanh bởi Cây Cối chỉ mọc ở phía đàng sau , nhưng để ngỏ ở mặt hướng đến con Sông.

Dampier đã mô tả thành phố là đông đảo, nhưng kinh đô rất ngăn năp được chia thành 72 khu vực, mỗi khu có một con đường chính rộng lớn với nhiều phố bên hông nhỏ hơn.  Nó là thị trường chính cho vùng Châu Thổ sông Hồng.  Trong khi bản đồ của Rhodes dành cho An Nam (miền bắc Việt Nam) [tức Đàng Ngoài khi đó, chú của người dịch], bản đồ của Tavernier bao gồm toàn thể bờ biển Đông Dương.  Bên ngoài vùng Châu Thổ sông Mekong vẽ rất sai lạc của mình, Tavernier có xác định Quần Đảo Condore (Côn Đảo) với tên Tortues bởi các con rùa được thấy thật nhiều ở đó.  Dampier có nói nhiều về các con rùa màu lục tìm thấy ở Condore và các đảo lân cận, và đặt giả thuyết rằng chúng có thể đã di tản sang từ mãi Đảo Ascension.

Sau khi người Anh đóng cửa cơ xưởng của họ tại Hà Nội trong năm 1697 (người Hòa Lan đóng cửa xí nghiệp của họ trong năm 1700), người Anh đã nhắm Côn Đảo (Pulo Condore) như một địa điểm thay thế.  Dampier đã nêu ý kiến về Côn Đảo như một căn cứ; dừng chân tại hòn đảo trong năm 1687, ông ghi nhận rằng “Côn Đảo là đảo chính của một đống các hòn đảo, và là hòn đảo duy nhất có người cư ngụ trong số các hòn đảo”, bổ túc rằng “ các hòn đảo này nằm rất gần nhau, rằng với một khoảng cách khiến chúng trông có vẻ chỉ là một hòn đảo độc nhất.”

Dampier tiếp tục mô tả các tính chất thể hình của người dân tại Côn Đảo, nhừng người ông xem ra tìm được sự hấp dẫn, và ca tụng sự tự do của phụ nữ trên đảo.  Nhưng ông cũng có các kế hoạch cho nước ông ở đó.  “Các hòn đảo này”, Dampier giải thích,

Nằm rất thuận lợi trên đường đến và đi từ Nhật Bản, Trung Hoa, Manila, Đàng Ngoài (Tonquin), Đàng Trong (Cochinchina), và nói chung mọi vùng ở Bờ Biển Cực Đông của Lục Địa Ấn Độ này …  Bất kỳ Tàu Thuyền nguy khốn nào có thể được tái tiếp tế và bổ sung tại đây một cách rất thuận tiện …   nó cũng có thể là một địa điểm thuận tiện để dẫn đường cho một công cuộc Thương Mại với nước Láng Giềng của Đàng Trong, các Đồn Lính có thể được xây dựng để bảo toàn cho một Cơ CXưởng, đặc biệt tại Bến Tàu, với khả năng có thể được củng cố một cách hoàn hảo.

Dampier có bao gồm một bản đồ Côn Đảo vào tập tường trình của ông bởi, ông giải thích, địa dư của nó ít được hay biết đến.  Trong năm 1702, như ông dự kiến, Công Ty Đông Ấn Độ (East India Company) trong thực tế đã thiết lập một cơ xưởng trên Côn Đảo, nhưng nó chỉ tồn tại trong ít măm.  Khi nhìn lại, Alexander Hamilton, kẻ đã đến Đông Nam Á ngay sau Dampier và đã ở lại cho đến năm 1723, đã ghi nhận rằng Côn Đảo là “một sự lựa chọn tồi để làm thành một thuộc địa, rằng đảo không sản xuất gì khác ngoài gỗ, nước, và cá để bắt.”

Hình 130: Regnu Annam, một bản đồ sớm sủa của riêng biệt Việt Nam, từ sách của A. de Rhodes, quyển Relazione dé felici successi della SanteFede nel Regno di Tunchino, 1650 [Antiquariaat Forum, Catalogue 105]

***

Hình 131: Việt Nam, của Daniel Tavernier.  Từ J. Chr. Wagner, Delineatio Provinciarum Pannonise … 1684-86 (16.5 x 21 cm)

*****

Phụ Lục 18

Hải Lộ Singapore – Trung Hoa và Quần Đảo Hoàng Sa

(các trang 244-245)

       Các người đi biển Bồ Đào Nha trở nên quen thuộc với Quần Đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) hồi đầu thế kỷ thứ mười sáu, khi họ trước tiên trương buồm về hướng đông bắc từ Malacca dọc theo bờ biển Trung Hoa.  Nhưng trong khi các đảo như Tioman và Condore (Côn Đảo) là các nơi trú náu an toàn trên lộ trình giữa Trung Hoa và Ấn Độ Dương, Quần Đảo Paracel là một mối đe dọa.  Dampier đã ghi nhận sự nguy hiểm của chúng, và sau đó không lâu, Alexander Hamilton nhận xét rằng Quần Đảo Hoàng sa là “một chuỗi đá nguy hiểm, dài khoảng 130 hải lý, và rộng khoảng mười lăm hải lý, và chỉ có một số ít đảo ở mỗi đầu cực.  Có nhiều thủy triều nội vi giữa các đảo đó, nhưng không có dấu hiệu hay biết nào để cảnh báo tránh xa các nguy hiểm gần đó.”  Hamilton ghi nhận rằng nỗi lo sợ bị vỡ tàu tại Quần Đảo Hoàng Sa khiến cho các lái thuyền bám sát lấy bờ biển Đông Dương.

Trong năm 1808, một họa đồ Quần Đảo Paracels được ấn hành và công bố bởi James Horsburgh,  Nhà Vẽ Thủy Đạo của Công Ty Đông Ấn, và được mang theo trên các chiếc tàu Anh Quốc chạy đường Trung Hoa và Singapore.  Nhưng thí dụ được trình bày nơi đây (Hình 152), là một bản đồ vẽ tay, chứ không phải là bản đồ được ấn loát.  Mặc dù các bản đồ được in vào thời điểm này đã thay thế phần lớn các bản đồ vẽ tay làm tài liệu tham khảo chính yếu cho các kẻ dẫn đạo và các thuyền trưởng trên các lộ trình thường xuyên, bản vẽ tay vẫn tiếp tục phục vụ như một phương cách tái sản xuất mau chóng trong khi trên biển hay ở một hải cảng xa xôi.  Khi các bản sao phụ trội của một bản đồ cần đến trên đường đi, nó sẽ được sao chép lại bằng tay.  Đây là một thí dụ của một sự sản xuất như thế, được sao chép tỉ mỉ từ bản in (hay một bản sao chính MS [?] khác từ bản đồ được chạm khắc), có lẽ trên một chiếc tàu Anh Quốc tại Ấn Độ. 282 Ngay tên người chạm khắc, một đặc điểm xem ra dư thừa cho mục đích sao chép, đã được giữ lại.

Hình 152 Quần Đảo Hoàng Sa (The Paracel Islands, một bản sao vè tay từ họa đồ được ấn loát của James Horsburgh, khoảng 1810 (61.5 x 61.5 cm).  Bản sao chép bằng tay này có lẽ đã được thực hiện tại Ấn Độ trên một chiếc tàu hay một hải cảng nơi mà các bản sao phụ trội của bản đồ đã  ấn hành không được cung cấp.  Bờ biển có đường chéo  ở góc dưới bên trái là Đà Nẵng, Việt Nam.  Macao được đánh dấu theo hướng góc trên bên phải, Thành Phố Quảng Châu được chấm định ở đường biên, phía bên trên của bản đồ và đảo Hải Nam nằm ở trong khu vực bị chiếm bởi nhan đề bản đồ dài rộng.  Các hòn đảo khác nhau tạo thành Quần Đảo Hoàng Sa hiện ra ngay phía trước.

*****

Phụ Lục 19

Các Bản Đồ “Âu Châu” Được Lập Tại Đông Nam Á

(trang 251)

       [Bắt đầu trích] Các bản đồ Forrest lập cho triều đình Mindanao và các người quen biết ở Bugis đã là các bản đồ “Âu Châu” được thực hiện tại vùng Đông Ấn Độ.  Sự sản xuất bản đồ, trong thực tế, là một cuộc kinh doanh tiếp diễn của người Âu Châu tại Đông Nam Á.  Gần như tất cả các bản đồ như thế đều ở dạng vẽ bằng tay, được sản xuất vừa cho sự sử dụng địa phương của các kẻ định cư, vừa để xuất cảng về mẫu quốc, nơi chúng sẽ phục vụ cho việc tu sửa các bản vẽ chính phủ chính thức về miền đất này.  Các bản vẽ của Tây Phương về Á Châu như thế thì hiếm có, bởi không chỉ các bản đồ vẽ tay tự nó đã hiếm hoi, được sản xuất từng bản một,  mà chúng còn phải chịu đụng sự hư hao của việc chuyên chở bằng tàu, và sự sử dụng địa phương, cũng như khí hậu nóng và ẩm.  Đối với người Hòa Lan, trung tâm chính cho sự sản xuất bản đồ tại Đông Nam Á là Batavia; Hình 157 tượng trưng cho một công trình vô danh ở Batavia như thế. [hết trich]

Hình 157: Một họa đồ vô danh của V.O.C. (Công Ty Đông Ấn của Hòa Lan) bao gồm vùng Biển Nam Hải (South China Sea), từ bắc Borneo chạy xuyên qua Việt Nam và Mã Lai, được lập ra tại Batavia hồi đầu thế kỷ thứ mười tám.  Mặc dù Căm Bốt đã là một mục tiêu của Công Ty Đông Ấn (V. O. C.) kể từ năm 1620, sự xâm nhập nghiêm chỉnh của Hòa Lan vào xứ sở này chỉ diễn ra sau khi thương mại của Nhật Bản với Căm Bốt bị đình chỉ sau năm 1635.  Công Ty V. O. C. đã thiết lập các căn cứ tại Phnom Penh để thực hiện công cuộc mậu dịch bị bỏ rơi bởi người Nhật, hoạt động một cách bất thường xuyên cho đến khoảng 1670, khi sự bất ổn chính trị của xứ sở chứng tỏ là một gánh nặng quá to lớn.  Sự kiện rằng Âu Châu phần lớn vẫn còn ngây ngô về Căm Bốt cho đến thời đại tương đối gần đây được phản ảnh qua việc rằng các sự tường thuật về tầm mức vĩ đại có thực của khu đền Angkor vẫn không được xem là khả tín cho đến thế kỷ thứ mười chín. (100.5 x 66 cm) (Paulus Swaen Old Maps Internet Auction)

*****

Phụ Lục 20

Xứ Chàm Trên Bản Đồ Của Johann Ruysch (1507),  và

Trong Các Văn Bản của Odoric, Mandeville và Tomé Pires

(các trang 104-105)

       [Bắt đầu trích dịch] Ở phía trên bên phải hình thu nhỏ bản đồ của Ruysch, có một bán đảo với một thành phố tên là Zaiton.  Hải cảng này, từ đó đòan người của Marco Polo khởi sự cuộc phiêu lưu kỳ thú của họ xuyên qua các hải phận Đông Nam Á, là Ch’uan-chou [Quanzhou: Tuyền hay Tòan Châu?], tại miền hải cảng Amoy của Trung Hoa 153.  Từ Zaiton, họ đã hộ tống một thiếu nữ có tên là Kokachin, được tuyển chọn để trở thành hoàng hậu của Persia, “1500” dậm ngang qua một vịnh đến Ciamba (Champa, tức Chàm hay Chăm), một vương quốc duyên hải cổ xưa ở phần giờ đây là miền trung Việt Nam, được biết bởi người Trung Hoa là Lin-yi (Lâm Ấp).  Polo đã đến thăm người Chàm đang tiến đến hồi kết thúc nền văn minh của họ, vốn đã phát triển trong hơn một nghìn năm, từ khoảng thế kỷ thứ nhì cho đến thế kỷ thứ mười bốn.  Polo đã xem xứ Chàm như khởi điểm phía đông của Đông Nam Á, phần mà ông gọi là “Tiểu Ấn Độ” (Lesser India: Ấn Độ Nhỏ Hơn” và đã mô tả như miền trải rộng từ xứ Chàm ở phía đông xuyên qua Motupalli (đông Ấn Độ) sang phía tây.

Ruysch đặt định Silva Aloe tại miền nam xứ Chàm.  Danh xưng để chỉ một khu rừng có cây lô hội [aloes trong nguyên bản, nhiều phần phải là aloeswood, tức cây gỗ trầm hương, chú của người dịch] quý báu mà Polo nói là vua Chàm đã dâng hiến như một phần trong cống phẩm hàng năm của ông lên Kublai Khan.  Tại vùng núi bên trên xứ Chàm, cũng như đi sâu hơn về phía nam dọc theo bờ biển Việt Nam, Ruysch cho thấy silva ebani (rừng gỗ mun màu đen; forests of ebony), loại gỗ mà Polo cho chúng ta  biết, được dùng để làm quân cờ và các hộp đựng bút.  Polo đã dùng danh từ bonus cho ebony, từ chữ abnús của tiếng Persian (Ba Tư).

Theo Polo, không người đàn bà nào của Chàm có thể kết hôn cho đến khi nhà vua nhìn thấy cô ta đầu tiên, bởi “nếu cô ấy làm vừa lòng ông, khi đó ông sẽ lấy làm vợ”. Các sử gia hiện đại không nghĩ rằng Polo đã nói quá đáng khi ông báo cáo rằng nhà vua Chàm đã có 326 đứa con (con số thực sự sai biệt đôi chút) từ nhiều bà vợ của ông ta.  Odoric của Pordenone, người đã đến xứ Chàm từ Java khoảng năm 1323, đã tán đồng.  Nhà vua xứ Chàm “đã có quá nhiều vợ và nàng hầu, rằng ông ta đã có ba trăm đứa con trai và con gái từ họ.” Odoric cũng lấy làm kinh sợ bởi sự thu thập đàn voi của nhà vua, ghi nhận rằng “nhà vua đã có 10,004 con voi đã được thuần hóa, được bảo quản y như chúng ta đi chăn bò, hay các đàn cừu trên đồng cỏ.”  Vị tu sĩ lương hảo có nêu ý kiến rằng xứ Chàm là “một xứ sở giàu có và xinh đẹp nhất, và trần đầy mọi thứ lương thực.”

Cứ cách một năm, theo Odoric, cá bơi vào bờ biển của xứ Chàm “một cách phong phú đến nỗi, nhìn ra rất xa ngoài biển, không thấy gì ngoài các cái lưng của bầy cá.”  Cá tự quăng mình lên trên bờ biển nơi, trong một thời khoảng ba ngày, người ta “đến đó có thể bắt nhiều cá đến mức mình muốn .”  Bầy cá còn lại sau đó trở về biển, và một loại cá khác đến hiến mình theo cùng cách thức như thế.  Câu chuyện về cá của xứ Chàm đã gợi hứng cho John Mandeville, tác giả thế kỷ thứ mười bốn bịa đặt ra một hòn đảo gọi là Calonak cho quyển sách kiến thức du lịch của ông ta.  Mandeville, với năng khiếu thông thường của ông, đã lãng mạng hóa sự mô tả của Odoric về xứ Chàm, khai triển một cách đầy tưởng tượng trên đó.  Hiện tượng của nhiều đoàn cá tự quăng mình trên bờ biển của Chàm, Mandeville giải thích, được nói là kết quả của sự sinh sản phi thường đàn con của nhà vua.  “Bởi vì ông đã chu toàn lời răn mà Chúa đã yêu cầu ông Adam và bà Eve, khi Thượng Đế phán, Crescite et multiplicamini et replete terram [trích dẫn từ Thánh Kinh Công Giáo, Genes 1.28, có nghĩa: Hãy sinh sản, làm đông gấp bội và bồi bổ cho trái đất, chú của người dịch] .. do đó Chúa đã gửi đến nhà vua đủ mọi loại cá khác nhau có mặt ngoài biển, để bắt lấy tùy ý nhà vua cho chính ông và dân chúng của ông.”

Các báo cáo đầu tay mới về xứ Chàm xảy ra không lâu sau bản đồ của Ruysch, với quyển Suma Oriental của Tomé Pires (1515).  Pires thuật lại rằng xứ Chàm là một vương quốc nông nghiệp và không có các hải cảng thích hợp cho các thuyền buồm lớn, nhưng có một ít thị trấn nằm trên các con sông của nó.  Sản phẩm xuất cảng chính yếu của nó là cá khô, gạo, đồ dệt, hạt tiêu, và gỗ trầm hương (calambac hay aloe-wood), với phẩm chất thượng hạng, chủ yếu được chở sang Xiêm La. [hết trích]

Hình 55: Bản Đồ Thế Giới, Johann Ruysch, 1507 (phóng lớn chi tiết).  Sự phóng chiếu thành hình quạt bản đồ thực sự đã cắt đôi ngang qua vùng Đông Nam Á (xem hình 56, bên phải), nhưng hai mép của bản đồ được nối liền nhau trên hình trình bày ở trên. (40.5 x 53.5 cm)

***

*****

Phụ Lục 21

Huyền Thoại Âu Cơ

(trang 17)

       [Bắt đầu trích] “Huyền thoại về nền văn minh khai diễn tại miền bắc của vùng nay là Việt Nam cũng thuật lại lại một câu chuyện tương tự, nhìn nhận món nợ của Việt Nam đối với văn minh Trung Hoa, trong khi thách đố sự thống trị của Trung Hoa.  Huyền thoại truy tìm các gốc rễ của người Việt Nam nơi sự kết hợp của một người đàn bà Trung Hoa và một anh hùng, Lạc Long Quân (Lac Lord Dragon).  Lạc Long Quân từ vùng biển du nhập vào Đồng Bằng Sông Hồng ngày nay là miền bắc Việt Nam, đánh đưổi loài ma quỷ ra khỏi đất nước, và dậy cho dân chúng “trồng lúa gạo và mặc quần áo.”  Ông đã ra đi, hứa quay lại nếu cần đến ông.  Khi một nhà vua Trung Hoa đi xuống phương nam và tìm cách khuất phục người dân, Lạc Long Quân được triệu thỉnh.  Ông đã bắt cóc vợ của kẻ xâm lăng, người đàn bà có tên là Âu Cơ, dấu bà ta ở trên định một ngọn núi trông xuống sông Hồng, và nhà vua Trung Hoa, không thể tìm thấy bà ấy, đã quay về nước với sự tuyệt vọng.  Một đứa con trai đã được sinh ra bởi bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, chính từ đó khởi đầu cho một triều đại mới. “ [hết trích]

Câu chuyện trên tuy có nhiều chi tiết tương tự, nhưng cũng có nhiều sự  khác biệt với truyền thuyết về Âu Cơ trong các bộ huyền sử và lịch sử Việt Nam như Lĩnh Nam Chích QuáiĐại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Rất có thể tác giả đã sử dụng một phiên bản nào khác rút ra từ sách vở của Trung Hoa, vì có sự kiện không thấy có trong tài liệu Việt Nam.  Câu chuyện trich dẫn bởi tác giả ít nhiều có tính cách hạ thấp giá trị của bà Âu Cơ, trong khi quyết đoán rằng người Việt Nam có mẹ là người Trung Hoa [sic], mang đặc điểm trịch thượng và miệt thị truyền thống trong sử ký Trung Hoa đối với các dân tộc lân cận không phải là cùng gốc dân Hán.  Lịch sử Trung Hoa vốn bị đánh giá bởi cac sử gia Tây Phương là khó có được tính cách khách quan, sẵn sàng sửa đổi lịch sử sao cho có lợi cho triều đình Trung Hoa hay nếu cần ngụy tạo cả sử kiện nữa.  Chính vì thế, chính sách đối ngoại của Trung Hoa thường không hợp lý và sử sách Trung Hoa ít khi phản ảnh trung thực mối quan hệ giữa Trung Hoa và các lân bang.  Câu chuyện Âu Cơ trích dẫn ở trên, tuy chỉ là thần thoại, nhưng nhiều phần cần phải được nghiên cứu kỹ càng hơn để kiểu chính các sự trá ngụy hay sai lầm nếu có.  Một thí dụ khác như việc đặt tên nước là Xích Quỷ! Thật khó tưởng tượng là có một vị vua nào lại tự nhận dân mình là ma quỷ và muốn đặt tên nước mình cai trị một cach phi lý đến thế.  Nhiều phần đây là sự bịa đặt để miệt thị của các sử gia Trung Hoa cô xưa, và cũng cần phải được kiểu chính.  Xin xem thêm Phụ Lục B bên dưới, Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ của tác giả Keith Weller Taylor.

*****

Phụ Lục 22

Claudius Ptolemy

(các trang 63, 64, 82)

       (Bắt đầu trich) Ptolemy nhà địa dư học cổ thời nổi tiếng nhất, … có thể được xem như đỉnh cao nhất của truyền thống họa đô thế giới của Hy Lạp, là một người Ai Cập đứng đầu thư viện tại Alexandria (Ai Cập) giữa khoảng 127 – 150 sau Công Nguyên.  Quyển Geographia của ông, nhiều phần là một sự bổ chính quan trọng do công lao của Marinus, đã đẩy các vùng biên cương của bản đồ thế giới để bao gồm một sự phác họa” thực sự” về Á Châu, mặc dù bản đồ của Ptolemy, như thường được tái xây dựng, đã không vẽ lại các bờ biển phía đông của lục địa.

Có lẽ điều khác thường nhất trong câu chuyện về Ptolemy là sự kiện các văn bản của ông thực sự nằm yên trong hơn một nghìn năm, và rồi phi nhanh vào sự nhận thức của Âu Châu như là có tính cách mới mẻ và cách mạng hồi thế kỷ thứ mười lăm,  như chúng đã từng được xem là như thế trong thế kỷ thứ nhì sau Công Nguyên.  Thực ra, mặc dù Ptolemy không được hay biết tới tại Tây Âu trong một nghìn năm trăm năm sau Công Nguyên, quyển Geographia đã được duyệt xét bởi giới hàn lâm Byzantine trong thế kỷ thứ mười hay mười một, có thể một số những gì mà chúng ta hay biết về công trình của Ptolemy trong thực tế có thể phát sinh, hay ít nhất có thể đã được tu sửa bởi các học giả này.” …

… “Ptolemy đã chia Á Châu thành 12 phần, trong đó Đông Nam Á và Trung Hoa (Sinae) ở trong phần thứ 11 và Taprobana (Tích Lan) ở phần thứ mười hai.  Một sự duyệt xét kỹ lưỡng một bản đồ Đông Nam Á theo Ptolemy, thí dụ, là bản đồ xuất hiện trong ấn bản quyển Geographia ở Rome năm 1478, hay bản in năm 1511 bởi Bernard Sylvanus (lần lượt làHình 32 và 43), cho thấy một bán đảo tại phía đông Ấn Độ Dương, là một phỏng chừng sơ sài vùng Mã Lai và Đông Dương.  Như thế đâu là các sự xác minh của nhiều thành phố, sông ngòi và núi non của Đông Nam Á được ghi chép trong quyển sách của Ptolemy? Ptolemy đã đưa ra các tọa độ chính xác cho gần tám nghìn địa điểm trên trái đất mà ông đã lập danh biểu, và đang có sự cố gắng để thử nghiệm và phối hợp những địa điểm của vùng Đông Nam Á với các vị trí hiện thời trên bản đồ. Điều xem ra hợp lý rằng người ta sẽ chỉ cần bù đắp cho các sự sai lầm khác nhau của Ptolemy bằng việc tái xây dựng Đông Nam Á của hai thiên niên kỷ trước (hay ít nhất Đông Nam Á của các học giả Byzantine đã xen vào can thiệp là các kẻ có thể phải chịu trách nhiệm cho các phần của quyển Geographia).  Sự quý trọng cao cả mà Ptolemy được dành cho, cộng với sự hiện diện tỉ mỉ của các tọa độ của ông, sẽ mang lại cảm tưởng rằng đã có ý nghĩa thực sự sẽ được thu lượm từ các con số của ông…” [hết trích]

*****

Phụ Lục 23

Tomé Pires

(trang 79)

[bắt đầu trích dịch] Tomé Pires là một nhà bào chế dược phẩm người Bồ Đào Nha, đã đến Ấn Độ năm 1511 khi ở tuổi 40.  Trong khi ở Malacca giữa các năm 1512-1515, ông đã đặt bút ghi lại bấy kỳ điều gì ông nghe thấy được về thế giới bao la của Ấn Độ, và đặt tên cho tác phẩm của mình là Suma Oriental.  Pires sau đó được phái bởi Afonso de Albuquerque đến Sumatra và Cochinchina [Việt Nam], và sau đó được bổ nhiệm làm đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha tại Trung Hoa.  Quyển Suma Oriental là tài liệu đáng ghi nhớ nhất về Đông Nam Á vào lúc mở màn thời kỳ Âu Châu.  Tập biên soạn thực sự phi thường các dữ liệu này vẫn chưa được ấn hành cho đến khi Ramusio bao gồm các trích đoạn ngắn vào quyển Navigationi của ông ta.  Bởi vì nó không thực sự được biết đến cho đến sau khi nhiều báo cáo hiện hành được lưu truyền, quyển Suma Oriental đã không có ảnh hưởng trực tiếp trên các bản đồ được ấn hành.

*****

Phụ Lục 24

Giovanni Battista Ramusio, kẻ đã khai sinh ra

Quần Đảo Hoàng Sa trên Bản Đồ

Ramusion được ghi nhận là người đầu tiên đã vẽ và ghi chú về Quần Đảo Hoàng Sa trên bản đồ do Âu Châu lập ra nói riêng, nếu không phải là đầu tiên thê giới giới.  Ông sinh ngày 20 Tháng 7, 1485 tại Treviso, Cộng Hòa Venice và mất ngày 10 Tháng Bẩy năm 1557 tại Padua.  Năm 1505, ông làm thư ký cho Alvise Mocenigo, khi đó đang làm đại sứ của Venice tại Pháp.  Ông rất lưu tâm đến địa dư học, và công việc giúp ông nhận được tất cả tin tức mới nhất từ các nhà thám hiểm Âu Châu khi chúng đựoc gửi về Venice.  Ông thông thạo nhiều ngôn ngữ, đã biên soạn các tài liệu này thành một bộ bút ký du hành gồm 3 tập, có nhan đề là Navigationi et Viaggi , ghi lại các sự tường thuật của chính các nhà du hành, được ấn hành trong thời khoảng 1550 đến 1559.  Bộ sách này được xem là mở đường cho các tác phẩm du hành kế tiếp như của Richard Hakluyt (phần phụ lục này được viết theo Wikipedia, chú của người dịch).

*****

Phụ Lục 25

Giacomo Gastaldi

(trang 130)

(Bắt đầu trích dịch) Danh tính của Giacomo chế ngự việc vẽ bản đồ vùng Đông Nam Á trên các bản đồ được in ra suốt các thập niên giữa thế kỷ mười sáu.  Sinh quán tại Piedmont, Gastaldi là một kỹ sư và nhà vẽ bản đồ thế giới sáng chói hoạt đông tích cực tại Venice, và đã góp phần trách nhiệm lớn lao cho sự phát triển ngành đia dư học tại Venice trong thời đại này.  Ông đã vẽ ra ba bản đồ tốt về Đông Nam Á, mỗi bản đồ đã cung cấp sự trình bày hay nhất và được ấn hành gây hứng khởi nhất về vùng đất này trong thời điểm của nó.  Bản đồ đầu tiên được ấn hành như một phần trong ấn bản của ông về quyển Geographia của Ptolemy vào năm 1548, bản đồ thứ nhì trong năm 1554 như một phần của một tuyển tập về các cuộc du hành của Ramusio, và bản đồ thứ ba là một bản đồ Á Châu được ấn hành riêng biệt trong năm 1561, sau đó được bổ túc bởi một mảnh khác nữa vào năm 1565, chính vì thế, đã nới rộng phạm vi bản đồ xuống tới tận phía nam của xích đạo. [hết trích]

Xin xem các bản đồ của Gastaldi được trưng dẫn ở các phần phụ lục bên trên.

*****

Phụ Lục 26

William Dampier

(trang 211và trang 20)

       [Bắt đầu trích] Một trong những nhân vật khiêu gợi sự tò mò nhất đã lang thang – và vẽ bản đồ — các hải phận Đông Nam Á trong thời gian này là một kẻ phiêu lưu người Anh, William Dampier.  Dampier đã ra biển từ năm mười sáu tuổi, đi thuyền đến nhiều nơi chốn khác nhau, trong đó có Á Châu, trong thập niên kế tiếp.  Trong năm 1679, ở tuổi 27, anh ta rời Anh Quốc để đi Jamaica, nơi anh đã ở lại trong một năm.  Trong chuyến trở về, khi thủy thủ đoàn nổi loạn, Dampier đã chọn việc gia nhập cùng các người nổi dậy.  Trong gần sáu năm, Dampier và các kẻ đồng thuyền đã đánh cướp các khu định cư của Tây Ban Nha tại Nam Mỹ châu, hai lần đã vượt qua eo đất Panama.  Trong năm 1680, anh ta gia nhập một nhóm hải tặc đã chiếm đoạt một chiếc tàu và băng qua Thái Bình Dương đến Phi Luật tân, Sumatra và Bắc Kỳ (Tongkin).  Trong năm 1688, mệt mỏi với cuộc sống của một kẻ phục dịch quét dọn, anh ta đã thuyết phục đám hải tặc hãy để anh ta ở lại trên một trong các hòn đảo của Nicobar.  Cuối cùng, sau mười hai năm rưỡi, và hơn mười chuyến tàu cùng các thuyền bản xứ — Dampier đã quay trở lại được nước Anh vào năm 1691.

Điều khó hiểu của Dampier là trong sự tương phản lớn lao với bản chất đánh thuê của các đồng bạn hải tặc, Dampier có thể được xem như một trong những kẻ đầu tiên của một loại “giác ngộ hơn”, quan sát kỹ lưỡng và thu thập khách quan các tin tức, là các kẻ sau đó đã gia nhập vào các cuộc thám hiểm khoa học vĩ đại của thế kỷ thứ mười tám.  Anh ta đã lưu giữ một tài liệu ghi chép chính xác nhiều loại dữ kiện đia dư – bản chất của bờ biển, bãi cát đá nông, gió, và luồng chảy; anh ta nêu ý kiến rằng các họa đồ quy ước đã ước lượng quá thấp chiều rộng của Thái Bình Dương đến 25 vĩ độ và rằng Ấn Độ Dương đã bị ước lượng thái quá với tỷ lệ tương ứng; và anh ta đã cố để sưu tập bằng cớ để chứng minh rằng chiều sâu của biển thì sâu hơn dọc theo bờ biển có núi dựng đứng và nông ngoài khơi bờ biển nằm thấp.

Dampier cũng mô tả bản chất và phong tục của các dân tộc và nền văn minh mà anh ta đã đi qua, cẩn trọng mà không ước đoán về điều mà anh ta không biết, và luôn luôn cho hay khi các tin tức đến từ các nguồn tin mà chính anh ta không kiểm chứng được.  Có cả một dấu hiện của sự ca ngợi sắp đến về Kẻ Hoang Dã Cao Quý khi, được để lại bơ vơ một mình trên bờ biển Nicobar, anh ta ghi nhận rằng anh ta không hề gặp mặt các kẻ ăn thịt người được nghĩ là sẽ thấy xuất hiện ở đó và đã nói về tính thiện cơ bản của người dân.  “Tôi có ý kiến,” anh ta phát biểu, “rằng không có dân tộc nào trên thế giới lại quá man rợ đến thế, để giết chết một con Người chỉ tình cờ rơi vào tay họ …”.  Chúng ta sẽ được nghe nhiều hơn về kẻ lang thang sâu sắc này trong các trang sách sau này. [hết trích]

Dampier có để lại một quyển sách trong đó thuật lại những nhận xét về đời sống tại Đàng Ngoài Việt Nam khi đó. “William Dampier, cư dân tại Bắc Kỳ (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ thứ mười bẩy, ghi nhận rằng chính các phụ nữ đã quản trị sự hoán đổi tiền tệ, và rằng sự kết hôn sẽ thiết lập một sự liên minh giữa các thương nhân ngoại quốc vẫn quay trở lại hàng năm với các phụ nữ địa phuơng là người họ họ đã tín thác tiền bạc và hàng hóa.” (trang 20).

Bản dịch quyển sách của Dampier viết về Đàng Ngoài Việt Nam này sẽ được đăng tải nơi đây, trên Gio-O.com../-

*****

PHẪN III

CÁC PHỤ LỤC CỦA NGÔ BẮC

 

Phụ Lục A

Lễ Thiên Thành và Núi Vạn Thọ Nam Sơn thời nhà Lý

       Về nghi lễ này, bản dịch Tập Một, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, do Nhà Xuất Bản Giáo Dục ấn hành tại Hà Nội, năm 1998, nơi các trang 296-297 có ghi như sau:

[Bắt đầu trích] Tân Dậu, năm thứ 12 (1021).  Tống, năm Thiên Hi thứ 5).

       Tháng 2, mùa xuân.  Ngày tiết Thiên Thành, thết yến tiệc các bầy tôi.

Đặt ngày sinh nhật nhà vua làm tiết Thiên Thành.  Ngoài cửa Quảng Phúc (lời chua: cửa Tây kinh thành Thăng Long) kết trúc làm núi, gọi là Vạn Thọ nam sơn; trên núi làm nhiều hình trạng chim bay, thú chạy, lắm vẻ ly kỳ.  Nhân đó ban yến cho bầy tôi để mua vui. [Hết trích]

*****

 

Phụ Lục B

Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ

Keith Weller Taylor

       Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ được ghi chép trong quyển Lĩnh Nam Chích Quái và bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Phiên bản của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có sửa đổi đôi chút so với bản văn của Lĩnh Nam Chích Quái.  Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ, 5), Âu Cơ là vợ một vị vua “nhuận triều” (interloping).  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (TT, I, 22), tuy thế, đã biến Âu Cơ thành con gái của ông ta, rõ ràng vì các lý do luân lý, để Lạc Long Quân sau đó sẽ không phạm tội lấy vợ của kẻ khác.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ, 6), một trăm người con trai đã được sinh ra từ một bọc trứng duy nhất; Lạc Long Quân đã dẫn năm mươi đứa con trai theo ông xuống biển, để năm mươi đứa con trai kia ở lại cùng với Âu Cơ trên Núi Tản Viên, trong số đó, đứa con can đảm nhất đã được tuyển chọn trở thành vị vua đầu tiên trong các vua Hùng.  Tuy nhiên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (TT, I, 22) đã ghi rằng nhà vua đầu tiên của các vua Hùng là một trong các người con trai đi theo cha, chính vì thế, nhấn mạnh đến các giá trị phụ hệ.  Sự kiện này được hồi nhớ một cách khác biệt bởi các người Mường vùng thượng du, các kẻ, giống như các người Việt Nam hiện đại, đều là hậu duệ của dân Việt cổ.  Theo người Mường, đã có năm mươi đứa con trai và năm mươi đứa con gái thay vì một trăm đứa con trai; một nửa đi theo người mẹ lên núi và trở thành tổ tiên của người Mường, trong khi một nửa đi theo cha ra biển và trở thành tổ tiên của người Việt Nam (Nguyễn Linh và Hoàng Xuân Chinh, trang 103).

Phả hệ của các vua Hùng được ghi trong cả hai nguồn tài liệu (LNCQ, 5-6, và TT, I, 1b-2a).  Lạc Long Quân và Đế Lai, nhà vua nhuận triều từ phương bắc và là chồng của Âu Cơ, là các anh em họ.  Họ tượng trưng cho hai chi nhánh của một gia tộc duy nhất có nguồn gốc từ nhà lãnh đạo Trung Hoa trong huyền thoại, Yen Ti Shen Nung (tiếng Việt là Viêm Đế Thần Nông).  Thần Nông là vị thần nông nghiệp có gốc rễ từ văn hóa Tây Tạng, là kẻ đã xuất hiện trước tiên trong số các người Trung Hoa tại miền bắc của Hồ Bắc (Hu-pei) và miền nam của Hà Nam (Ho-nan), nơi mà các nền văn hóa của dân Pa và dân Thái cổ xưa hòa hợp vào nhau.  Các người tuân phục ông đến từ miền nam và là ngoại nhân đối với các người Trung Hoa cổ thời.  Họ là những nông dân trồng lúa nước, và sự tôn thờ Thần Nông có liên quan với các hệ thống định cư nông nghiệp (Eberhard, các trang 219-21, 229).

Trong huyền thoại Trung Hoa, Thần Nông được xem là vị Chúa Tể Thứ Nhì trong Ba Vị Chúa Tể (Three Sovereigmns: Tam Hoàng), người thứ Ba trở thành Huang Ti (Hoàng Đế), kẻ được nghĩ là người đầu tiên trong Năm Vị Hoàng Đế (Ngũ Đế) theo truyền thuyết.  Thần Nông bởi đó có thể được nói là đã hiện diện trước khi co sự thành lập truyền thống đế triều tại Trung Hoa.

Hai chi của gia tộc tượng trưng cho một chi đế triều, trên đất liền, ở phương bắc, có các hậu duệ đều mang tước hiệu “hoàng đế” (đế), và chi nhánh phương nam thì  liên kết với biển:

Mẹ của Lạc Long Quân là một Thần Long Nữ (Lady Dragon Spirit), con gái của Động Đình Quân (Lord of Tung T’ing Lake) tại lưu vực sông Dương Tử; cha của ông ta, Kinhh Dương Vương, cai trị một vùng đất phía nam của “Ngũ Quan” (Five Passes) có tên là “Nước Xích Quỷ” (Kingdom of Red Devils) (Xích Quỷ Quốc).  Mẹ của Kinh Dương Vương là Vụ Tiên Nữ, một chùm sao trên trời giám sát miền bắc Việt Nam (xem phần tham chiếu Han shu (Hán Thư) trong tác phẩm của Aurousseau, trang 205), là kẻ đã gặp gỡ với Đế Minh, cha của Kinh Dương Vương, khi ông này tuần du các miền phía nam.  Đế Minh là vị vua trị vì thuộc thế hệ thứ ba kể từ Thần Nông.  Chi nhánh miền bắc đã đi đến chỗ kết liễu khi con trai và kẻ kế ngôi Đế Lai, Đế Du, bị đánh bại bởi Hoàng Đế (Yellow Emperor).

Chi miền bắc của gia tộc này, cũng như kẻ nhận là tổ tiên của nó, có thể bị quy là một sự cải biên sau này; chức năng duy nhất của nó là để tuyên xác một một dòng dõi cổ xưa hơn cho các vua Hùng so với vị vua đầu tiên của Trung Hoa, Hoàng Đế (Huang Ti).  Tuy nhiên, chi tộc phương nam có trưng bày đủ chi tiết văn hóa và địa dư tán trợ cho ý tưởng rằng nó đã được đặt trên các truyền thống cổ xưa.

Mẹ của Kinh Dương Vương là chùm sao sáng chói tương ứng với miền bắc Việt Nam, và Kinh Dương Vương đã cai trị một vương quốc với danh hiệu mọi rợ (ít nhất trong khung cảnh Trung Hoa) là Xích Quỷ (Red Devils); ông kết hôn với Thần Long Nữ từ Động Đình Hồ (có lẽ là một sự ám chỉ đến nước Chu cổ thời) và có một người con trai trở nên một anh hùng văn hóa của người Việt Nam cổ thời.  Tác giả C. Madrolle (trang 268) đã tường thuật rằng một khu nào đó được suy đóan là ngôi mộ của Kinh Dương Vương có thể được tìm thấy tại vùng phụ cân Luy Lâu.

Ý tưởng về phả hệ hoàng tộc với một chi phương bắc và một chi phương nam có thể biểu lộ chiều kích chính trị của vị trí địa dư của Việt Nam trong các thời đại cổ xưa.  Như hành lang nằm giữa Vân Nam, và bởi sự nối dài tới cao nguyên Tây Tạng ở phía tây và biển cả ở phía đông, bình nguyên sông Hồng đã là địa điểm chịu áp lực chiến lược tối đa giữa các dân tộc “chi băc’ và “chi nam” của vùng Đông và Đông Nam Châu Á.  Cả về mặt phả hệ lẫn về kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam, người Việt Nam tự xem mình là một dân tộc “phương nam” khác biệt với dân Trung Hoa “phương bắc”.  Phả hệ chính vì thê” có thể là một chau chuốt văn chương về các truyền thống cổ xưa, về kinh nghiệm lịch sử sau đó, hay cả hai.

Trong một bài báo gần đây, tác giả Nguyễn Thị Huệ thảo luận về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, như được lưu truyền trong các nông dân Việt Nam ngày nay.

(Nguồn: Keith Weller Taylor, Appendix A, The Legend of Lạc Long Quân and Âu Cơ, trong quyển The Birth of Vietnam, các trang 303-305, University of California Press, Berkeley, 1983.

*****

 

Phụ Lục C

Biên Giới Địa Lý Nhân Văn: Trường Hợp Việt Nam

       Quyển sách giáo khoa Human Geography: Culture, Society, and Space, Sixth Edition, của hai tác giả H. J. de Blij (Giáo Sư Đại Học Marshall University) và Alexander B. Murphy (Giáo Sư Đại Học University of Oregon), do nhà xuất bản Wiley phát hành tại New York năm 1999, có trình bày về các loại biên giới chính trị theo căn nguyên, trong đó có hai thí dụ về biên giới tại Việt Nam, nơi các trang 350-351 như sau:

Sự Xếp Loại Biên Giới Dựa Trên Nguồn Gốc

Một cách khác để khảo sát các biên giới liên quan đến sự tiến hóa hay căn nguyên của chúng.  Sự xếp loại biên giới theo căn nguyên này được đề xuất bởi Richard Hartshorne (1899-1992), nhà chính trị đia lý học Hoa Kỳ hàng đầu hồi giữa thế kỷ thứ hai mươi.  Hartshorne lý luận rằng một số biên giới nào đó đã được định nghĩa và phân ranh trước khi cảnh trí nhân văn ngày nay được phát triển.  Mặc dù Hartshorne sử dụng chính yếu các thí dụ của Tây Phương để minh chứng ý tưởng này, tính ứng dụng của nó cũng được biểu hiện ở các nơi khác, thí dụ, tại Đông Nam Á.

Trong Hình 25-6A [giữ nguyên cách đánh số trong nguyên bản, chú của người dịch] biên giới giữa Mã Lai và Indonesia trên đảo Borneo là một thí dụ của loại biên giới theo tiền lệ (antecedent boundary) này.  Phần lớn biên giới này chạy qua miền rừng mưa nhiệt đới dân cư thưa thớt, và sự định cư lác đác còn có thể được phát hiện trên bản đồ phân bố  nhân số thế giới (Hình 4-1, [trong nguyên bản]).  Loại biên giới thứ nhì tiến triển như cảnh trí văn hóa của một khu vực được hình thành.  Các biên giới hậu biến (subsequent boundaries) này được tiêu biểu bởi bản đồ trong Hình 25-6B, trình bày ranh giới giữa Trung Hoa và Việt Nam, kết quả của một tiến trình điều chỉnh và sửa đổi trong trường kỳ.

Một số biên giới bị vạch một cách cưỡng chế cắt ngang một cảnh trí văn hóa thống nhất.  Một biên giới áp đặt lên trên (superimposed boundary) như thế hiện diện ở giữa hòn đảo New Guineavà chia cắt vùng West Irian của Indonesia ra khỏi nước Papua New Guinea (Hình 25-6C).  Vùng West Irian, vốn được cư ngụ bởi phần lớn sắc dân Papuans, là một phần của Đông Ấn thuộc Hòa Lan đã không được độc lập vào lúc Indonesia được độc năm 1949.  Sau nhiều năm đầy căng thẳng, người Indonesians sau hết đã xâm lăng lãnh thổ này vào năm 1962 để đánh đuổi các người Hòa Lan còn lại; tiếp theo sau sự điều giải của Liên Hiệp Quốc và một cuộc trưng cầu dân ý chung cuộc, West Irian được chính thức sáp nhập vào Indonesia năm 1969 – do đó vĩnh viễn hóa biên giới mà chính quyền thực dân nguyên thủy đã áp đặt lên trên New Guinea hồi đầu thế kỷ thứ mười chín.  Loại biên giới theo nguồn gốc thứ tư là biên giới theo di tích (relict boundary) – một biên giới thôi không còn hiệu lực nhưng dấu vết vẫn còn hiển hiện trên bối cảnh văn hóa.  Biên giới giữa Bắc và Nam Việt Nam trước đây (Hình 25-6D) là một thí dụ cổ điển: từng có thời để phân cách về mặt quân sự, nó trở thành loại biên giới di tích kể từ năm 1976, tiếp theo sau sự tái thống nhất Việt Nam trong sự kết thúc cuộc Chiến Tranh Đông Dương (1964-1975).

Hình 25-6: Các Loại Biên Giới Chính Trị Theo Căn Nguyên.  Các loại biên giới chính trị theo căn nguyên là: (A) Tiền Lệ (antecedent), (B) Hậu Biến (subsequent), (C) Áp Đặt Lên Trên (superimposed), và (D) Di Tích.  Nguồn: từ một bản đồ trong sách của H. J. de Blij và P. O. Muller, Realms, Regions, and Concepts, ấn bản lần thứ 7, New York: Wiley, 1994.

*****

Phụ Lục D

Đất Vành: Địa Lý Chính Trị Của Việt Nam hay

Ban Lơn Quay Ra Thái Bình Dương

Đất Vành hay Đất Viền (Rimland) là một khái niệm được đế xướng bởi tác giả Nicholas John Spykman để mô tả đường ven biển của một xứ sở hay một lục địa; đặc biệt các bờ đông đảo dân cư ở phía tây, phía nam và phía đông của lục địa Âu – Á.

Theo Spykman, giải đất ven biển bao quanh Âu Á, thì quan trọng hơn khu vực trung Á châu (được gọi là trọng địa trung tâm (Heartland) cho sự kiểm soát lục địa Âu-Á.  Dự kiến của Spykman là nền tảng của “chính sách be bờ ngăn chận” được thi hành bởi Hoa Kỳ trong mối quan hệ của Mỹ với Liên Bang Sô Viết trong thời Chiến Tranh Lạnh sau Thế Chiến II.

Theo tác giả Mackinder, trong quyển “Inner or Marginal Crescent”, Đất Vành được chia thành ba đoạn: vùng ven biển Âu Châu; vùng sa mạc Ả Rập – Trung Đông, và vùng gió mùa Á Châu.

Trong khi Skypman chấp nhận hai vùng đầu tiên như được xác định, ông đã bác bỏ sự gộp chung đơn giản các nước Á Châu vào thành một “vùng gió mùa” (monsoon land).  Ấn Độ, vùng duyên hải Ấn Độ và văn hóa Ấn Độ thì tách biệt về mặt địa dư và văn minh với vùng đất Trung Hoa.

Đặc tính xác quyết của Đất Vành rằng nó là một khu vực trung gian, nằm giữa các quyền lực đất và hải lực, nó phải tự phòng vệ ở cả hai phía, và các vấn đề an ninh nền tảng  của nó nằm ở đó.

Đất Vành có tầm quan trọng lớn lao phát sinh từ trọng lực về dân số, các tài nguyên thiên nhiên, và sự phát triển kỹ nghệ của nó.  Tác giả Skypman nhìn tầm quan trọng này như là lý do tại sao Đất Vành sẽ có tính chất quan yếu trong việc ngăn chặn vùng Trọng Địa Trung Tâm, trong khi tác giả Mackinder lại tin tưởng rằng Vành Cung Bên Ngoài hay Hải Đảo sẽ là thành tố quan trọng nhất trong việc ngăn chặn vùng Trọng Địa Trung Tâm.

Việt Nam, Đông Dương, Phi Luật Tân, Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản là những phần đất được kể chịu ảnh hưởng nhiều nhất của gió mùa Á Châu, và ở vào vị trí đất vành, Việt Nam đã dễ dàng trở thành bãi chiến trường cho các sự xung đột giữa các cường lực đất liền và từ ngoài biển, như được chứng minh trong suốt thế kỷ thứ hai mươi vừa qua./- (Phần lớn các dữ kiện trong Phụ Lục này đều được rút rat ừ Wikipedia)

_______                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            

Nguồn: Thomas Suárez, Early Mapping of Southeast Asia, Periplus Editions (HK) Ltd: Singapore, 1999, Chapter 16, The Nineteenth Century and the Mapping of the Interior – Indochina, Burma and Thailand, Transition to the Modern Era, các trang 252-263, và rải rác nhiều nơi trong quyển sách.

Ngô Bắc dịch và phụ chú

18/10/2010

© gio-o.com 2010

 

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á

Thomas Suárez
THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á
Ngô Bắc dịch


*****

Lời Người Dịch:

Dưới đây là bản dịch một loại tài liệu hiếm hoi về chủ đề địa lý và việc vẽ bản đồ vùng Đông Nam Á, trong đó bao gồm cả Việt nam. Ngoài phần bài dịch chính, để có được một ý niệm tổng quát về tư tưởng địa dư học từ nhiều vùng của thế giới, từ thời thượng cổ cho đến nay, đối với địa hình Đông Phương nói chung và của Việt Nam nói riêng, người dịch đã trích dich các đoạn quan trọng liên hệ đến địa lý và lịch sử Việt Nam, trong cùng tác phẩm bao gồm bài dịch chính. Người dịch có bổ túc một số các phụ lục đánh số A, B,C, D liên quan đến lịch sử và địa dư Việt Nam cùng một số chú giải rải rác trong bản văn.

Bản dịch có kèm theo nhiều bản đổ cổ, hiếm thấy đối với các độc giả Việt Nam, và ít nhiều hữu ích cho việc nghiên cứu về địa dự, lịch sử Việt Nam. Các bản đồ được giữ nguyên số thứ tự như ghi trong nguyên bản, ngoại trừ các bản đồ hay tài liệu bổ túc khác sẽ được nêu rõ xuất xứ.

Vì bản văn khá dài, dưới đây là dàn bài để giúp độc giả dễ nắm bắt nội dung hơn:

Phần I: THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VÙNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á

Phần II: CÁC PHỤ LỤC TRÍCH DỊCH TỪ NGUYÊN BẢN

01. Ý Niệm Của Người Việt Nam Về Xứ Sở

02. Phân Loại Chính Các Bản Đồ Về Đông Nam Á

03. Bản Đồ Vũ Trụ (Cosmographic Maps) Của Đông Nam Á và Việt Nam

04. Địa Dư Thực Nghiệm: Việc Vẽ Bản Đồ Tại Đông Nam Á và Việt Nam

05. Phù Nam

06. An Nam & Đông Dương

07. Xứ Chàm Trong Bản Đồ Giữa Thế Kỷ Thứ Mười Hai Của Sharif al-Idrisi

08. Xứ Chàm Trong Bản Đồ Năm 1522 Của Lorenz Fries

09. Trịnh Hòa Và Tập Bản Đồ Vũ Bị Chí (Wubei-zhi)

10. Số Phận Của Cattigara và Mũi Đất Vĩ Đại Của Ptolemy – Cattigara Có Thể Là Hà Nội?

11. Đảo Côn Sơn

12. Đông Dương

13. “Bản Đồ Bàn Tay” Vùng Đông Nam Á Của Barros, Năm 1552

14. Vịnh Bắc Việt, Đảo Hải Nam, Quần Đảo Hoàng Sa, và Biển Trung Hoa (China Sea)

15. Lục Địa Đông Nam Á Trên Bản Đồ Của Gastaldi năm 1548

16. Lục Địa Đông Nam Á Trên Bản Đồ Của Ramusio Năm 1554 và Trên Bản Đồ Của Gastaldo Năm 1561.

17. Các Phái Bộ Truyền Giáo Âu Châu Đến Việt Nam

18. Hải Lộ Singapore – Trung Hoa và Quần Đảo Hoàng Sa

19. Các Bản Đồ Của Âu Châu Được Lập Tại Đông Nam Á

20. Xứ Chàm Trên Bản Đồ Của Johann Ruysch, 1507 và Trong Cac Văn Bản Của Odoric, Mandeville và Tomé Pires

21. Huyền Thoại Âu Cơ

22. Claudius Ptolemy

23. Tomé Pires

24. Giovanni Ramusio, Người Đã Khai Sinh Ra Quần Đảo Hoàng Sa Trên Bản Đồ

25. Giacomo Gastaldi

26. William Dampier

Phần III: CÁC PHỤ LỤC CỦA NGÔ BẮC

Phụ Lục A: Lễ Thiên Thành và Núi Vạn Thọ Nam Sơn thời nhà Lý

Phụ Lục B: Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, theo tác giả Keith Weller Taylor

Phụ Luc C: Biên Giới Địa Lý Nhân Văn: Trường Hợp Việt Nam

Phụ Lục D: Đất Vành: Địa Lý Chính Trị Của Việt Nam hay Ban Lơn Quay Ra Thái Bình Dương

*****

PHẪN I:

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN VÀ

VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VŨNG NỘI ĐỊA ĐÔNG NAM Á

Vào lúc khởi đầu thế kỷ thứ mười chín, bất kể ba thế kỷ hiện diện của Âu Châu dọc theo các bờ biển của Đông Nam Á lục địa, phần lớn vùng nội địa hãy còn chưa được biết đến và bị che phủ trong sự bí ẩn. Nói theo lời Trung Úy James Low, một người Anh dính líu đến việc vẽ bản đồ Đông Nam Á vào lúc đó, “Các Bản Đồ Thế Giới hiện có cho thấy [Xiêm La, Căm Bốt, và Lào] gần như một giải đất trống trơn.” 1 Ngay các vương quốc hùng mạnh, được che chắn của Trung Hoa và Nhật Bản từ lâu đã nhường bước trước Tây Phương hơn nhiều so với vùng nội địa của Đông Nam Á đất liền. Song nó là một nơi ấn chứa nổi tiếng của sự giàu có đáng kể, và hệ thống sông ngòi của nó hứa hẹn một thủy lộ thực tế dẫn đến Trung Hoa.

Sự thất vọng cảm thấy bởi một số người Âu Châu thế kỷ thứ mười chín vì sự cự tuyệt của vùng nội địa Đông Nam Á trong việc bộc lộ các sự bí mật của nó khiến vùng đất này trở thành người tình định mệnh [femme fatal, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của kẻ đi chinh phục. Như một viên chức thực dân ở Mã Lai thuộc Anh hồi cuối thế kỷ thứ mười chín đã viết, “Giống như tượng nữ thần mình sư tử ở Ai Cập (Sphinx), vùng đất đã đề ra các câu đố mà ít người có thể giải đáp được, cám dỗ chúng ta tiến tới với các hy vọng hão huyền về các sự phát hiện đầy hứng khởi, song mãi mãi che dấu trong bầu ngực tuyệt trần, tả tơi của nó, các điều bí mật của một trong các lịch sử con người được ghi chép cổ xưa nhất nhưng cũng ít đầy đủ nhất.” 2 Có một sự thúc dục để chiếm ngự vùng ít được hay biết và huyền bí này: “Phương Đông phỉnh gạt trong khi nó mê hoặc chúng ta: mê hoặc chúng ta bởi vì nó phỉnh phờ,” cách nói bóng bẩy tiếp tục như thế.

Cùng lúc, các sự quan tâm được cho là nhân đạo đã biện minh một cách giả dối cho sự thám hiểm và vẽ bản đồ vùng nội địa Đông Nam Á. “Các nhân vật cao cấp và đặc biệt các vị ở Ấn Độ,” một viên chức người Anh tại Mã Lai đã viết hồi đầu thế kỷ thứ mười chín, “không bao giờ được quên” sự kiện rằng các bản đồ tốt hơn của vùng nội địa Đông Nam Á “sẽ cung cấp các phương tiện hay nhất giúp chúng ta phát tán trong những đồng loại kém may mắn và man rợ hơn của chúng ta các ân phúc của kiến thức hữu dụng và các tiện nghi của cuộc sống văn minh hóa”. 3 Các cảm nghĩ tương tự cũng được phát biểu bởi người Pháp tại Đông Dương. Vào giữa thế kỷ thứ mười chín, Francis Garnier, nhà thám hiểm nổi tiếng nhất các dòng sông của Đông Dương, đã khoa trương về “nước Pháp, vị trọng tài của Âu Châu, chỉ sử dụng ảnh hưởng của mình nhằm tạo hạnh phúc và cho sự cải thiện đạo đức của các dân tộc.” 4 Chính vì thế, việc vẽ bản đồ vùng nội địa Đông Nam Á thì cần thiết cho cảm nghĩ về “định mệnh hiển nhiên” của các cường quốc Âu Châu, để truyền bá phong cách văn hóa và lối sống cụ thể của nó cho các dân tộc Đông Nam Á, và để cứu vớt các người dễ bị xâm hại khỏi các kẻ chinh phục không xứng đáng, bởi mỗi dân tộc Pháp và Anh đều xem sự bảo hộ của mình sẽ phục vụ cho các quyền lợi tốt nhất của các dân tộc bản địa trong vùng.

Đông Dương

Garnier đã trưng dẫn các di sản Anh Quốc trong các cuộc Chiến Tranh Nha Phiến tại Trung Hoa và sự suy đồi của văn minh Ấn Độ dưới sự cai trị của Anh như một bằng cớ rằng Căm Bốt, Lào và Việt Nam phải nên chào đón chế độ bảo hộ của Pháp hầu tránh cho các vương quốc của họ cùng sự thống khổ như thế. “Hãy đi sang Ấn Độ, ” ông ta cáo giác, để thăm viếng xứ sở bị tàn phá và bần cùng hóa bởi các sự cướp đoạt của Công Ty Anh Quốc.” Và về các cuộc Chiến Tranh Nha Phiến, “ai là kẻ mà không ghê tởm khi [Anh quốc, vì các lợi nhuận về thuốc phiện, đã tuyên chiến với Trung Hoa nhằm cưỡng bách] vị Hoàng Đế … chuẩn thuận việc đầu độc ba trăm triệu con người?” 5

Tuy nhiên, chính các giấc mơ giàu có vẫn tiếp tục là lý do chính cho việc tại sao các người Âu Châu đã chú ý đến việc thủ đắc một hồ sơ bản đồ chính xác của Đông Dương và các sông ngòi của nó. August Pavie, một nhà thám hiểm quan trọng vùng Đông Dương và sông Cửu Long trong thập niên cuối của thế kỷ thứ mười chín, vẫn còn có thể đồn đoán rằng Căm Bốt cổ thời không gì khác hơn là xứ Ophir [theo Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, là xứ đầy vàng, chú của người dịch] của Nhà Vua Soloman. Nhưng trong sự khiếm khuyết bất kỳ bằng chứng vững chắc nào rằng Đông Dương vẫn còn cất chứa sự giàu có huyên thoại như thế, các người Pháp tìm kiếm sự giàu có thay vào đó đã trở nên say đắm với huyễn tượng rằng các dòng sông của nó có thể cung cấp các luồng mậu dịch trên nước xuyên qua “các xứ sở hoang dại” đến “cac vùng giàu có nổi tiếng của Miền Tây Trung Hoa,” là miền mà họ tin rằng “Thiên Triều khư khư phòng vệ chống lại sự tò mò của các cặp mắt Âu Châu.” 6

Các ý tưởng này có được truy tầm ngược lại khá xa trong tài liệu bản đồ. Bản đồ hải hành (portolan) năm 1641 của Antonio Sanches (Hình 80) [số đánh theo nguyên bản, chú của người dịch],thí dụ, cho thấy một thủy lộ khổng lồ tại vùng phụ cận Châu Giang (Pearl River), trong tỉnh Quảng Đông, nam Trung Hoa, chảy thênh thang và tương đối thẳng đến hết đường xuyên qua quanҫi (Kwangsi: Quảng Tây), nơi có một cái hồ lớn hiể:n nhiên sẽ cung cấp các cơ sở cặp bến và du hành dễ dàng trong vùng. Từ cùng cái hồ đó hai chi lưu khác của con sông tiếp tục chạy về phía tây đến quacheu (Kweichou: Quý Châu), trong khi các nhánh khác có thể đón nhận các thuyền mậu dịch đi xa hơn về hướng bắc tiến vào nội địa Trung Hoa. Trong thế kỷ thứ mười chín, trong khi người Anh nhìn các con sông của Miến Điện như là các thủy lộ đầy tiềm năng hứa hẹn dẫn vào nội địa Trung Hoa, các nhà thám hiểm Pháp nhắm tới sông Cửu Long và sông Hồng với cùng mục đích đó. Trong hai con sông này, chính con sông mênh mông Mekong, được gọi là “Sông Căm Bốt” (River of Cambodia), xem ra là thủy lộ ở vị trí thuận tiện nhất với một lượng nước cung cấp phong phú sẽ cung cấp sự tiếp cận đến miền bắc xa xôi.

Jean Marie-Dayot và John White

Hình 158: Map of the River of Don Nai, from Cape St. James to the City of Saigon (Bản Đồ Sông Đồng Nai, từ Vũng Tầu đến Thành Phố Sàigòn). Sông Donnai [Đồng Nai] ở Việt Nam với Sàigòn nằm ở góc trên bên trái. John White, 1823 (43.5 x 57.5 cm) [Edward Lefkowicz, Providence]

Trong sự kỳ vọng rằng con sông Mekong sẽ trở thành một thông lộ vĩ đại tiền vào nội địa miền nam Trung Hoa, một nỗ lực đã được thực hiện để cung cấp một sự nối kết giữa sông Mekong với Sàigòn. Một kinh đào vì thế đã cắt ngang để nối liền các phụ lưu của sông Mekong và sông Đồng Nai, một trong những con sông chính tiến tới thành phố. Khi một cuộc viễn chinh từ Hoa Kỳ, dưới sự chỉ huy của John White, đã đến Việt Nam trong năm 1819, viên chỉ huy đã báo cáo rằng:

Từ phía tây của thành phố, một con sông hay một kinh đào đã được mở ra hồi lgần đây, (trong thực tế mới chỉ được hoàn tất vào lúc chúng tôi đến đó) dài hai mươi ba dậm Anh, nối liền với chi lưu của sông Căm Bốt [tức Mekong], theo đó một sự lưu hành bằng đường sông thông thoáng đã được khai mở đối với Căm Bốt.

Chính Sàigòn “nằm trong vòng vài dặm từ bước khởi đầu cuộc hải hành trên chi nhánh đó của sông Đồng Nai [nguyên bản ghi sai la Don-nai, chú của người dịch], trên đó thành phố tọa lạc.” Tập tường thuật năm 1823 về cuộc viễn chinh của ông White bao gồm một bản đồ chi tiết của sông Đồng Nai và kinh đào mới của nó (Hình 158) [số thứ tự được đánh trong nguyên bản, chú của người dịch], bởi vì một việc vẽ họa đồ chính xác hệ thống thủy lộ rắc rối đã là chìa khóa đối với các sự chú ý đến việc đặt cơ sở ở Sàigòn, hy vọng khai quật được tiềm năng của sông Cửu Long. Bản đồ được dựa trên các sự thăm dò được thực hiện vào năm 1791 bởi Jean-Marie Dayot, “nhà thủy đạo học của vị Vua miền Nam Kỳ,” được cập nhật hóa với các sự quan sát của chính White và gồm kinh đào mới. Khi White đi thuyền xuyên qua một vịnh được gọi là Ngã Bẩy [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] hay sete-bocas (bẩy cửa sông) tại các thủy đạo gần Sàigòn, ông đã viết rằng:

Cảnh trí từ lưu vực bao la này, mặc dù chỉ có ít đường nét của sự tuyệt diệu, thì đẹp đẽ và thơ mộng. Các cây cao và đáng sợ phủ kín các đầu ngọn song được tạo thành bởi trào lượng của nhiều dòng nước, chia nhánh ra nhiều hướng khác nhau, giống như thật nhiều đường bán kính từ một tâm điểm, phát hiện ra các phối cảnh trải dài, được viền mỗi bên các chùm lá với các sắc độ khác nhau của màu xanh, trong khi chúng đánh bóng mặt nước phản chiếu,với một vẻ đẹp trinh nguyên, các sắc thái biến đổi của các khu rừng lơ lửng.

Bức Trường Thành Tại Việt Nam – Tập Bản Đồ Thế Giới (Atlas Universel) năm 1827 của Vander Maelen.

Một cái nhìn sát cận Đông Dương vào lúc khởi đầu của cuộc thám hiểm sâu rộng của người Pháp tại vùng có thể được tìm thấy trong các bản đồ của Philippe vander Maelen,tác giả quyển Atlas Universel năm 1827 đã là tập bản đồ đầu tiên – ngoài các bản hình tam giác vẽ địa cầu được đóng thành bộ của Coronelli – đã sử dụng một tỷ lệ xích đồng nhất trong suốt tập sách. Phương tiện tương đối mới của cách in thạch bản đã được sử dụng cho bốn trăm bản đồ của tập bản đồ toàn thư. Sáng sủa nhưng không thực dụng, sự ấn hành nó có lẽ không thể tồn tại nếu tác giả đã không thừa hưởng vốn liếng đáng kể từ doanh nghiệp xà phòng thịnh đạt của cha mẹ ông.

Hình 159: Indochina, Philippe vander Maelen, 1827. (46.8 x 54.7 cm)

Hình 160: “Bức Ttrường Lũy ngăn đôi hai vương quốc” của Việt Nam được vẽ trên bản đồ này dựa theo các nguyên mẫu được công bố bởi Jean Baptiste d’Anville trong thập niên 1730. Solomon Bolton, 1755.

Bản đồ Camboge et Anam (Căm Bốt và An Nam) Hình 159) trong toàn tập trình bày một khu vực “gần như trống trơn” (như James Low đã than phiền), bất kể cơ hội để ghi nhiều chi tiết trong nội địa được cung cấp bởi tỷ lệ xích to lớn của nó, đã có các dữ kiện khả tín được cung cấp. Tuy nhiên, một đặc điểm không thể sai lầm được là bức trường thằnh (Muraille: tức Lũy Thầy) chạy từ bờ biển, gần Đồng Hới (không được ghi tên), cho đến Rặng An Nam [tức rặng Trường Sơn, chú của người dịch]. Bức tường thành này nguyên thủy được xây dựng bởi Trung Hoa [China [?][sic, nhiều phần không đúng, chú của người dịch] khoảng năm 1540 để trung giải một cuộc tranh chấp giữa hai phe Việt Nam tranh dành nhau, họ Trịnh và họ Nguyễn. 7 William Dampier, kẻ đã thăm viếng Việt Nam năm 1688, thuật lại rằng bức tường thành là một công sự duy nhất còn tôn tại sau chiến sự liên miên trong nước, nhưng bất kể có các báo cáo như thế, bức tường thành đã không được ghi lại trên các bản đồ được ấn loát cho đến khi nhà địa dư người Pháp, ông Jean-Baptiste d’Anville, phổ biến nó hồi đầu thế kỷ thứ mười tám (Hình 160). Được dựng ở phía bắc của vĩ tuyến thứ 17, nó nằm sát cận một cách kỳ dị với đường được vạch ra bởi Hội Nghị Geneva năm 1954 để phân chia tạm thời Việt Nam cho đến khi có cuộc tổng tuyển cử, dự trù có thể được tổ chức trong năm 1956 (các cuộc bầu cử đã không bao giờ xảy ra).

Căm Bốt, bị kẹp giữa Việt Nam và Thái Lan

Vander Maelen cung cấp một tiêu điểm nhắm vào Căm Bốt trong cao điểm của các lời tuyên xác cạnh tranh về sự lệ thuộc của vương quốc này bởi các láng giềng hùng mạnh của nó, Thái Lan và Việt Nam. Bẩy trăm năm trước đây, trong thời cực thịnh của đế quốc Khmer, lãnh địa kiểm soát bởi Angkor trải dài đến tận miền ngày nay là Thái Lan và Việt Nam. Khi Angkor bắt đầu suy sụp trong thế kỷ thứ mười bốn, Sukhothai và sau này Ayuthaya [các kinh đô, trung tâm quyền lực của Thái Lan khi đó, chú của người dịch] đã nới rộng sự kiểm soát của chúng trên Căm Bốt, sau rốt tuyên bố Căm Bốt là một vương quốc triều cống. Vào thế kỷ thứ mười bẩy, Việt Nam cũng đã đưa ra các đòi hỏi trên Căm Bốt, và năm 1834 đã chứng kiến sự khởi đầu của mười bốn năm giao chiên công khai giữa Xiêm La và Việt Nam để quyết định xem nước nào sẽ sở hữu Căm Bốt. Năm 1847, Căm Bột, giờ đây lại “độc lập” một lần nữa, song cũng thêm một lần bị kẹt giữa hai láng giềng hùng mạnh của nó, bị tàn phá.

Bản chất bất định hình của “bản đố bản xứ của Đông Nam Á được vẽ một cách tuyệt vời theo lời thỉnh cầu của nhà vua xứ Căm Bốt với hai vương quốc láng giềng của ông vào lúc kết thúc cuộc chiến. Ông ta đã hiểu rằng bởi vị trí địa dư của lãnh thổ của ông, Căm Bốt sẽ không bao giờ được để yên chừng nào nó là chư hầu của chỉ một trong hai láng giềng khổng lồ của nó. Chính vì thế, nhà vua đã khẩn cầu sẽ được “chinh phục” trên danh nghĩa bởi cả hai nước.: “Xin vui lòng để tôi được thần phục trước công đức và sức mạnh của cả hai vương quốc vĩ đại [Xiêm La và Việt Nam], sao cho người dân của tôi có thể sống trong hòa bình và hạnh phúc.” 8

Sự Huyền Bí Của Sông Cửu Long

Trong các năm 1858-60, nhà thiên nhiên học Henri Mouhot du hành xa về hướng bắc lên tới Xiêm La, Căm Bốt và Lào, nơi mà ông đến được Luang Prabang và thu lượm được một hình ảnh thô sơ về dòng chảy của sông Cửu Long. Bản đồ Đông Nam Á năm 1863 của Edward Weller (chi tiết phóng lớn, Hình 161) tiêu biểu cho thời kỳ này, trình bày một cách chính xác về con sông Cửu Long đổi hướng sang phía đông ở kinh đô M. Udong (Phnom Penh). Nhưng cả khúc ngoặt ngoạn mục về hướng bắc ngay bờ phía đông của Vạn Tượng (Vientiane), lẫn phần quay ngoặt hai lần một cách gắt gao về hướng tây ở bên trên Luang Prabang, đã giới hạn sự hải hành ở phía cực bắc của con sông, vẫn chưa được vẽ ra (Luang-Prabang trong bản đồ của Weller được ghi là Muang-luang Prabang, muang: có nghĩa là thành phố).

Hình 161: Đông Nam Á lục địa (chi tiết phóng lớn), Edward Weller, 1863 (45 x 30.5 cm). Bất kể các biên giới rõ ràng được hàm ý bằng các đường nét tô màu, Weller cố gắng chỉ cho thấy sự tế nhị trong việc sắp xếp chính trị vùng Đông Nam Á qua việc ghi dấu một số khu vực nào đó như “các nước nhỏ bé: petty states” và cho thấy quy chế triều cống của các vương quốc của chúng. Khu vực bao quanh bởi đường tô màu tím, được cư trú bởi nhiều bộ tộc nhỏ khác nhau, đáng để ý trong khía cạnh này. Sự kiện rằng sông Cửu Long chảy ra lãnh địa tập hợp của chúng và rằng chúng nằm ở đường phân cách giữa Xiêm La và Đông Dương bị chiếm đóng, có nghĩa rằng trong vòng ít thập niên sắp tới các nhóm này đích thực bị xóa bỏ sự hiện hữu khi Xiêm La và Pháp lấn sang từ phía bên đối lập. Miến Điện hãnh diện có nhiều chi tiết nhất trên bản đồ, một kết quả của việc vẽ bản đồ cần mẫn của người Anh về các phần đất khai thác của họ tại đó. Mặc dù vương quốc Lan Na (ở giữa, bên trái) hãy còn độc lập, sự liên kết chặt chẽ với Xiêm La đã khiến Weller bao gồm vương quốc này vào trong cùng phần bên trong đường bao bọc chung quanh màu cam, tách biệt hai nước cựu đối thủ với một đường vẽ bằng nét thanh, màu đỏ. Kinh đô của nó, Chiang Mai (ở đây ghi là Zimmé), nơi mà địa điểm từ lâu chỉ được phỏng đóan, sau hết đã được vẽ một cách chính xác.

Các phần bổ túc này cho bản đồ xẩy ra không lâu sau thời kỳ của Mouhot, nhờ ở các kẻ năng nổ Doudart de Langée [sic, Lagrée?] và Francis Garnier, các kẻ mà cuộc thám hiểm trong các năm 1866-68 sau hết đã mang lại cho Âu Châu sự hiểu biết cặn kẽ về miền thượng nguồn sông Cửu Long và vùng biên cương núi đồi của miền này với Trung Hoa. Tài liệu từ cuộc thám hiểm của Garnier mau chóng được khai thác bởi nhà vẽ bản đồ người Đức, Justus Perthes trong bản đồ Ubersichtskarte der Franzosischen Expedition in Hinterindien vom Me-khong bis zum Jang-tse-kiang 1867-1868 (Hình 162), được công bố trong năm 1869, ngay năm khi mà cuộc thám hiểm vừa được hoàn tất.

Garnier đã mô tả Luang Prabang như là kinh đô của Lào,

… đẹp như tranh vẽ và thích thú để ngắm nhìn, [với nhiều ngôi nhà] được sắp theo các đường song song chung quanh kmột ngọn đồi nhỏ ở trung tâm, trông giống như một cái vòm màu xanh, mọc lên bên trên khối mái tranh màu xám … trên đỉnh đồi một ngọn tháp hay lăng [tat, tiếng Lào], hay dagoba, [tiếng Sinhgalese, trong nguyên bản, chú của người dịch] chỉa chóp nhọn như mũi tên bên trên một vành đai các cây cối, tạo thành một điểm chuẩn cho tất cả vùng đất chung quanh.

Mái đỏ của các ngôi chùa “tương phản một cách sống động với cây cỏ màu xanh đậm,” và đã có một thành phố trên sông với các túp lều được dựng trên các chiếc bè, “nối liền với chính thành phố kinh đô bởi các lối đi ngoằn ngoèo, sáng rực lên như các giải băng màu trắng từ xa.” Chính dòng sông là một thông lộ nhộn nhịp cho tàu thuyền đủ mọi cỡ, nơi mà “tiếng xào xạc trộn lẫn với tiếng rù rì của dòng nước, và tiếng thì thầm của các cây dừa [phe phẩy] tàn lá bên trên các bờ sông màu mỡ và tươi tỉnh.” 9 Ngược dòng từ Luang Prabang, Garnier nhận thấy con sông Cửu Long “hẹp lại một cách đáng kể, và lập lại khía cạnh hoang dại và thơ mộng của nó.”

Hình 162: Northern Indochina (Bắc Đông Dương), vẽ dòng chảy của sông Mekong,
như được phác họa thành bản đồ bởi Garnier. Justus Perthes, 1869. (26 x 20.5 cm)

Nhiều khúc căng dài của dòng sông thì không lưu thông được, buộc các kẻ tiên phong phải khiêng thuyền và đồ tiếp liệu của họ theo đường bộ. Sau sự khổ nhọc lớn lao (de Langée [sic] bị chết trên đường đi [en route, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], Garnier và đồng đội đã thành công trong việc đi tớiVân Nam xuyên qua sông Cửu Long, nhưng các sự thử thách của sông Mekong đáng kinh sợ đến nỗi họ đã không tìm cách đi lại con đường đã qua. Thay vào đó, đoàn thám hiểm, cầm đầu bởi Garnier, đã quay về Sàigòn bằng ngả sông Dương Tử và Biển Trung Hoa (China Sea). Khó khăn quá mức và không thực dụng tột cùng, dòng sông vĩ đại đã không toàn thành cho giấc mơ của họ về một hải lộ Đông Dương to rộng vươn tới Vương Quốc Thiên Triều.

Cuộc thám hiểm chứng minh rằng những gì mà Engelbert Kaempfer thu lượm được từ Thái, liên quan đến Lào, gần hai thế kỷ trước đó, là chính xác. Trong khi cư trú tại Ayuthaya năm 1690, Kaempfer có được nói cho biết rằng việc du hành trên các con sông thượng nguồn

… là cuộc du hành đến đó rất bất tiện và phiền phức trên đường bộ, bởi có các rặng núi cao, và bằng đường sông, bởi có đá và các thác nước lớn, đến nỗi các tàu thuyền, hay Prows như họ gọi chúng, được đóng theo cách mà chúng có thể được tháo ra thành từng mảnh, và khiêng qua các ghềnh thác nhô cao, hầu tiếp tục cuộc hành trình trên nước.

Song, mặc dù Francis Garnier bỏ lại sau lưng các hy vọng của mình về sông Mekong, giấc của ông về một tuyến đường thủy đến Trung Hoa vẫn còn. Ông giờ đây tin tưởng rằng trong số năm con sông vĩ đại của Đông Nam Á – Irrawaddy, Salween, Chao Phraya, Mekong, và sông Hồng – chính dòng sông cuối cùng của các con sông này, vẫn thực sự chưa được biết đến đối với Tây phương, theo đó “sự thừa mứa của các sự giàu có ở miền Tây Trung Hoa chỉ trong một ngày sẽ trôi xuống một hải cảng của Pháp.” Hơn nữa, chính lưu vực sông Hồng và miền Bắc Kỳ (Tongkin), với thành phố chính của nó là Hà Nội, sẽ là “một tiếp nối cần thiết cho sự thiết dựng ngọn cờ Pháp tại sáu tỉnh Nam Kỳ.” Garnier bị giết chết tại Hà Nội năm 1873 trong cuộc chiếm đoạt thành phố này cho Pháp.

Tầm hữu dụng của sông Hồng nằm phía nam Hà Nội, trong sự tiếp cận với các sản vật Trung Hoa xuyên qua Vịnh Bắc Việt và Biển Nam Hoa [South China Sea, hay Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam, chú của người dịch], đã là, trong thực tế, một sự cứu xét của người Việt Nam một nghìn năm trước đó, khi kinh đô được thành lập gần thành phố Hà Nội ngày nay. Một bia ký có nhật kỳ từ năm 870 bảo tồn truyền thống rằng “quyền lực khuấy động của sấm sét” đã khiến cho biển “tạo thành một tuyến đường, nơi mà các tàu thuyền có thể đi qua một cách an toàn, với biển sâu kéo dài ra một cách hòa dịu, một thông lộ cung cấp tiếp liệu cho thành phố chúng ta” – khu vực khởi nguyên của sông Hồng. 10 Hà Nội về mặt biểu tượng được xem như “bụng con Rồng” [Long đỗ, tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], trung tâm tinh thần của vương quốc.

Hình 163: (tay trái) Hà Nội và các vùng phụ cận, [Hà Nội Toàn Đồ,tên của bản đồ bên tay phải, chú của người dịch] từ một tập bản đồ toàn thư Việt Nam vô danh. Bản vẽ tay, khoảng 1870. [Rodolphe Chamonal, Paris]

Hình 164 (bên dưới) Bìa của Toàn Thư Bản Đồ Việt Nam, vô danh, được trình bày bên trái.

Các Tập Bản Đồ Lộ Trình Pháp-Việt

Một thí dụ về sự hiện diện mới, áp đặt của Pháp tại Việt Nam được phản ảnh bởi một tập bản đồ vẽ tay của đất nước nhan đề Hoàng Việt Dư Đồ (Atlas of Vietnam), từ đó bản đồ Hà Nội trình bày nơi Hình 163 được rút ra. Bản đồ có nhật kỳ khoảng 1870, vào lúc Hà Nội được thiết lập thành thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp. Mặc dù có tính chất Á Châu trong cách thực hiện của nó, quyển sách tuy thế đã là một trong các tập bản đồ Việt Nam sớm nhất với danh biểu cả bằng tiếng Pháp lẫn chữ Hán. Bản đồ tượng trưng một cách toàn hảo khái niệm của người Việt Nam về xứ sở của họ như Non Nước [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], có nghĩa “núi và sông nước”, với các hệ thống sông ngòi quanh Hà Nội được vẽ ngoài tỷ lệ [để làm nổi bật lên], trong khi các ngọn núi nội địa mọc lên theo cách vẽ thể loại hóa ở phía tây bắc, như thể trong một bức họa của Trung Hoa.

Trong khi đó, các kẻ bành trướng Pháp tiếp tục thám hiểm nội địa Đông Dương và các nhánh thượng nguồn của Sông Cửu Long. Hồi đầu năm 1877, Franҫois Jules Harmand khởi sự thám hiểm Cao Nguyên Boloven (Boloven Plateau) và các thung lũng của con sông tại miền Trung Lào, hy vọng thiết lập được một con đường từ Bassac trên sông Mekong đến Huế bên bờ biển Việt Nam. Một bản vẽ tay được lưu giữ trong các báo cáo của ông được trình bày nơi Hình 165.

Hình 165: Bản đồ vẽ tay một mảnh đất rộng 20 x 35 km trong nội địa Đông Dương, được vẽ cho Bộ Bản Xứ Sự Vụ (Ministry of Indigenous Affairs), 1874-75. Được tìm thấy trong các tài liệu của nhà thám hiểm người Pháp, F. J. Harmand, và được ký tên bởi Dr. Nansot (27.5 cm x 39 cm) (xin cảm ơn hảo ý của Thư Viện Đại Học Cornell).

Để thưc hiện dự kiến của mình về một nước Lào thuộc Pháp, Harmand tin rằng người dân bản xứ trước tiên phải được thay thế. Trong năm 1880, ông có viết rằng “điều cần thiết trước tiên là người Lào phải bị loại trừ, không phải chỉ bằng các phương cách bạo lực, mà bởi các hiệu quả tự nhiên của sự cạnh tranh và giống dân chủ tể là sắc dân thích nghi nhất.” Để hoàn tất điều này, ông dự kiến chuyên chở “người An Nam” (người Việt Nam), một khi đã được khuất phục, “để thực dân hóa có lợi cho chúng ta tại phần lớn [Thung Lũng sông Mekong tại Lào] nơi mà họ sẽ mau chóng thế chỗ cho các mảnh vụn của các sắc dân già yếu đang cư ngụ ở đó.” 11

Sau Harmand, Auguste Pavie đã thực hiện một loạt các cuộc thám hiểm gian truân khắp miền trung Đông Dương từ năm 1886 đến 1895. Du hành bằng voi, bè, ngựa và chân, Pavie đã tìm cách hoàn tất được một cuộc khảo sát thông suốt chưa từng có về xứ Lào. Bản đồ phát sinh từ công tác tại chỗ của ông được công bố năm 1899 và vẫn còn là kiểu mẫu cho việc vẽ bản đồ của vùng trong hai thập niên kế tiếp. Sự mê hoặc của sông Mekong như một thông lộ con thoi đến Trung Hoa không hoàn toàn bị lãng quên, một thế hệ mới các kẻ ủng hộ tin tưởng rằng nó có thể phục vụ công việc như thế nếu một lối thông hành khá tốt vòng qua con sông ở thác Khone được tìm thấy. Ngay chính Lào vẫn còn được lý tưởng hóa như một vùng giàu có bao la – trong sự dự liệu cuộc viễn thám của Pavie, Hội Địa Dư Thương Mại Ba Lê (Commercial Geographic Society of Paris) có ám chỉ đến “các sự giàu có không thể tính toán được” của đất nước này.

Các tiểu quốc nhỏ nhặt của Lào không thể kháng cự sự bành trướng của Pháp. Nhưng nhà vua Xiêm La, nhận thức sắc bén rằng nước Pháp đang thu vét càng nhiều càng tốt phần đất “chưa được xác lập’ của Đông Dương, đã tìm cách mở rộng quyền chủ tể của nó sang bờ phía đông của con sông, và khởi đầu một cuộc đánh cờ địa dư với người Pháp.

Miến Điện và Thái Lan

Trong số các nguyên nhân khác nhau đằng sau các cuộc tranh chấp Miến Điện – Anh Quốc đã dẫn người Anh đến việc xâm chiếm Miến Điện, có một điều khiến chúng ta quan tâm ở đây, tức một sự đụng độ của các khái niệm địa dư khác nhau làm trầm trọng hơn sự bế tắc trong vũng lầy. Miến Điện tuyên nhận một số lời thề trung thành từ các vương quốc Assam, Maniput, và Arakan, nhưng bác bỏ sự quy tội về bất kỳ cuộc đột kích nào mà các vương quốc đó có thể đã thực hiện vào các phần đất đã sẵn bị chiếm hữu bởi Công Ty Đông Ân tại Ấn Độ. Anh Quốc, với khái niệm Tây phương của mình về không gian chính trị, không thể hiểu được khái niệm của Đông Nam Á về các khu vực biên cương và quyền chủ tể không rõ ràng. Nhà Vua Bagyidaw của Miến Điện không nghĩ về mặt các biên giới chính xác, mà đúng hơn đã nhìn Assam, Maniput, và Arakan như các vùng tự trị trong bản chất, vốn chỉ được kỳ vọng sẽ không hành động chống lại các quyền lợi của Miến Điện. Ông đã không nhận thức các biên giới quốc gia theo các điều kiện tuyệt đối, rõ ràng của đám con buôn trái phép Âu Châu, mà thay vào đó, tưởng kiến các biên giới có tính cách phỏng chừng và có thể thẩm nhập qua lại. Nhưng tách riêng cái nhìn hậu kiểm, Quốc Vương Bagyidaw đã phạm phải một quyết định có thể tệ hại nhất khi đáp ứng các sự dương danh hão huyền leo thang giữa ông và người Anh: ông đã xâm lăng xứ Bengal. Chinh từ đó đã được tiếp nối bởi cuộc chiến tranh Anh-Miên Điện các năm 1824-26.

Người Anh đã phái các lực lượng ngược dòng sông tới Prome và đã đòi hỏi rằng Arakan và Tenasserim phải được nhượng lại cho Công Ty [Đông Ấn]. Khi Nhà Vua từ chối, quân Anh tiến lên phía bắc, sau hết đã buộc Vua Bagyidaw phải từ bỏ Tavoi, Mergui, và Tenasserim. Với việc đoạt được các phần đất chiến lược này, Công Ty Đông Ấn đã chiếm đóng toàn thể giải duyên hải sinh tử từ Ấn Độ đến Xiêm La, thực sự bóp cổ Ava [kinh đô của Miến Điện khi đó, chú của người dịch]. Mặc dù không có cuộc tiến quân xa hơn được thực hiện trong hai mươi sáu năm kế đó, đế quốc thực dân Anh tại Miến Điện đã được khai sinh.

Sidney Hall, Miến Điện và Các Vùng Chung Quanh, 1829

Bản đồ năm 1829 của Sidney Hall mang tên Birmah, with part of Anam and Siam (Hình 166), ghi nhận Miến Điện trong thời kỳ chuyển tiếp của nó thành một thuộc địa của Anh Quốc, được ấn hành ba năm sau khi có cuộc chinh phục của Anh. Ông Hall đã chấm định một số địa điểm nổi bật dọc theo sông Irrawaddy, phía bắc xuyên qua Mandalay (Amaraputa), với chi tiết đáng kể, còn vươn xa hơn nữa về phía bắc, hầu làm bắng cớ cho mức độ theo đó người Anh vào lúc này đã xâm nhập Miến Điện đến đâu. Các bản đồ của Anh Quốc về dòng sông xa đến tận Mandalay đã được tu bổ đáng kể như kết quả của một cuộc thăm dò dưới tên của Trung Úy (Lieutenant) Woods, người đã tháp tùng một sứ bộ Anh Quốc đên Ava trong năm 1795 được cầm đầu bởi Thuyền Trưởng Michael Symes. Hành trình trên sông đến Mandalay đã trở nên rất nổi tiếng đối với phe bành trướng Anh Quốc, bởi vì sự miễn cưỡng của Miến Điện chuẩn cấp cho họ các đặc quyền mậu dịch rộng rãi đã dẫn dắt họ nhiều lần đến kinh đô vào lúc đó.

Hình 166: Burma and Thailand (Miến Điện và Thái Lan) Sidney Hall, 1829. (42 x 51 cm)

Phần đất phía đông của Miến Điện vẫn còn, phần lớn, một vùng bí ẩn và chưa được khai phá trên bản đồ của Hall. Tại vùng núi thuộc biên giới Miến Điên – Xiêm La có một phần được đánh dấu là “Giải Đất Núi Đồi Rộng Lớn chiếm ngụ bởi người Karen.” Ông Hall đề cập đến người Karen, một trong những sắc dân được gọi là “bộ tộc miền nui đồi” sinh sống tại núi đồi phía tây và bắc Thái Lan và vùng biên cương của nó với Miến Điện. Trong các nhóm này, người Karen có thể đã sống tại vùng núi đồi miền tây Thái Lan (vào lúc này, vẫn còn đất của vương quốc Lan Na) trong hàng trăm năm, trong khi người Hmong, Akha, Lisu, Yao, và các sắc dân khác bắt đầu định cư tại miền bắc Thái Lan từ Miến Điện và Lào khoảng năm 1880. 12 Mặc dù người Karen hiếm khi được đề cập tới trên các bản đồ, họ đã được hay biết bởi người Âu Châu từ thế kỷ thứ mười sáu. Tác giả Camoes, nhắc lại lời đồn đại, đã mô tả người Karen như “các bộ tộc man dại cư ngụ tại các đồi núi xa xôi hơn, ăn thịt quân thù và xâm mình một cách hung bạo trên chính thân thể họ với thanh sắt nung đỏ,” có lẽ liên kết họ với sắc dân đáng sợ Gueos.

Sự Tái Sinh Của Chiang Mai

Tiếp tục theo hướng đông vào vương quốc Lan Na, được đánh dấu gồm cả Lao và An Nam, chúng ta tìm thấy Chiang Mai (Xiêng Mai) và chỉ định bởi danh xưng hiện đại của nó, một sự chứng nhận ban đầu cho sự phục sinh của miền này. Vào lúc kết thúc thế kỷ thứ mười tám, Chiang Mai, trong một tình trạng suy đồi dần dần kể từ khi nó bị chiếm đoạt bởi Miến Điện trong thế kỷ thứ mười sáu, thực sự bị bỏ hoang, và gần như đã bị lãng quên bởi ngọn bút của nhà vẽ bản đồ, (mặc dù nó có xuất hiện, thí dụ, trên bản đồ Xiêm La của La Loubère, Hình 129 [thuộc một chương khác, chú của người dich]). Các trung tâm dân số quan trọng của phần giờ đây là miền bắc Thái Lan đang trong cơn tàn phá, dân chúng của chúng sống rải rác tại vùng thôn quê. Trong năm 1775 – chính năm mà Xiêm La tự mình mở cửa trở lại đới với khối Tây – triều đình hoàng gia tại Chiang Mai di chuyển xuống một trại ở phía nam Lamphun.

Biến cố định mệnh đã đặt Chiang Mai trở lại trên bản đồ, một cách mỉa mai, là sự tàn phá của Miến Điện trên thành phố Ayuthaya [kinh đô của Thái Lan khi đó, chú của người dịch] năm 1767. Cuộc tấn công đó khiến cả Xiêm La lẫn Lan Na nhận thức rõ ràng rằng vì quyền lợi hỗ tương, chúng cần liên kết lực lượng để chống lại Miến Điện. Tiếp theo sau cuộc lục soát Ayuthaya, kinh đô của Xiêm La được tái thiết lập xa hơn về hướng nam bên bờ phía đông của con sông Chao Phraya tại Thonburi. Nó vẫn còn ở lại đó cho đến năm 1782, khi kinh đô được di chuyển một lần nữa, về phía hạ lưu bên bờ tây, tại Bangkok. Trong năm 1797, nhà vua xứ Lan Na tái nhập Chiang Mai, được bảo vệ bởi một liên minh với Xiêm La. Trong nhiều năm kế đó, lực lượng kết hợp của Xiêm La và Lan Na đã đánh trả thắng lợi các cuộc tấn công liên tiếp của Miến Điện. Miến Điện, trong khi đó, ngày càng trở nên bận tâm với người Anh.

Liên minh Xiêm La – Lan Na lãnh đạo trực tiếp Chiang Mai, Chiang Rai và các bang quốc khác ở miền bắc, sau hết đã trở thành một phần của Thái Lan. Chiang Rai, nằm gần các biên cương với cả Miến Điện và Lào, đã không chính thức được tái lập cho mãi đến năm 1844 và chính vì thế chưa xuất hiện trên bản đồ của Hall. Các biên giới hiện đại của miền bắc Thái Lan, Miến Điện và Lào là kết quả của các hiệp ước với Pháp và Anh được soạn thảo giữa các năm 1894 và 1904 (xem bản đồ năm 1904 về Chiang Mai, Hình 168).

Người Anh Khai Thác Các Nguồn Tài Liệu Bản Xứ

Trong khi các bản đồ Âu Châu theo truyền thống bao gồm một tỷ lệ khoảng cách được tính toán trong một hay nhiều loại đơn vị dặm (mile) đường của Âu Châu, Hall đã ghi lại tỷ lệ xích của ông theo dặm Anh và “Roé-ning của Xiêm La”, từ “roé-ning” được nghĩ phát sinh từ từ ngữ nueng-roi, con số một trăm trong tiếng Thái – nó có thể tương đương với một lý [league, đơn vi đo đường dài, thay đổi tùy nơi và thời gian; tại các nước theo đơn vị của Anh, thường bằng ba (3) dặm Anh hay ba hải lý, chú của người dịch]. 13 Nỗ lực này để chỉ dẫn bằng số đo lường đường thẳng của Thái chỉ là một mảnh bằng cớ của sự quan tâm của Anh Quốc trong việc thu thập những gì họ có thể rút ra được từ các đồng sự bản xứ của họ. Trong năm 1795, Francis Hamilton, cư dân tại Miến Điện trong tám tháng như một phụ tá cho viên đại sứ đầu tiên của nước ông ở nước này, đã thu thập, nghiên cứu, và giám sát việc vẽ bản đồ Miến Điện. Trong khi Hamilton quan tâm đến các bản đồ Miến Điện vì các sự chú ý học thuật của họ, ông cũng lấy làm toại nguyện bởi họ “có khuynh hướng chiếu rọi nhiều ánh sáng vào địa dư của vùng … được gọi là Vùng Xa Hơn Bán Đảo Ấn Độ (Further Penisula of India).” Chắc chắn điều này được chú ý một cách đặc biệt, xảy ra vào một lúc khi mà người Anh đang tranh đua để chiếm hữu đất đai của Miến Điện. Thí dụ trong số các bản đồ thụ đắc được, là một bản đồ về xứ Lan Na, mà trong năm 1795, vẫn còn được săn tìm bởi Miến Điện, và chính từ đó nhiều phần là một đối tượng của các bản vẽ của Anh Quốc.

Một nhà vẽ bản đồ Anh Quốc khác quan tâm đến các bản đồ bản xứ là James Low. Tại Penang (có tên Anh ngữ là Prince of Wales Island), trong năm 1824, Trung Úy Low đã đề trình lên các nhà chức trách Anh Quốc trên hòn đảo một bản đồ của nước Xiêm La, Căm Bốt và Lào mà theo lá thư đính kèm, ông đã hoàn tất đầu tiên hồi năm 1822, “từ một khối lượng lớn lao các nguyên bản, và tôi tin tưởng chắc chắc, là các Họa Đồ Bản Xứ đích thực, Các Lộ Trình, và các tin tức truyền khẩu.” 14 Bản đồ của Low chứa đựng khá nhiều các dữ liệu địa hình nhưng không đạt được lời hứa hẹn của tác giả rằng nó chính xác “trong mọi hình thể và ranh giới chính yếu của nó.” Không bao lâu sau khi bản đồ được công bố, ông Low đã tham dự vào cuộc Chiến Tranh Anh-Miến Đầu Tiên (First Anglo-Burmese War).

Việc Vẽ Bản Đồ Sông Mekong và Số Phận Của Thái Lan

Năm 1830, ông Low đưa ra một bản đồ mới cho vùng trong khi cư trú tại Calcutta. 15 Tác phẩm này mang lại một số cải tiến khiêm nhường trong sự phác họa các bờ biển như được khảo sát bởi John Crawfurd, một sứ giả người Anh xông xáo được phái đến Bangkok năm 1821, cũng như một số bờ biển được vẽ bởi chính ông Low. Tuy nhiên, khuyết điểm chính của bản đồ rằng nó đã lưu truyền quan điểm Âu Châu sai lầm về Vương Quốc Xiêm La hẹp hơn nhiều (từ tây sang đông [tức chiều ngang]) so với thực địa bằng cách đặt Sông Mekong quá xa về phía tây. Bởi vì sông Mekong được nhìn như ranh giới giữa Xiêm La và các nước láng giềng của nó ở phía đông, sự ngu dốt về dòng chảy của con sông đã di chuyển phần thực sự là miền đông của Xiêm La vào nước Lào và Căm Bốt. Sự tăng cường của Low trên lõi lầm này có thể đã ảnh hưởng đến diễn biến trong các cuộc tranh dành thuộc địa tại Đông Nam Á hồi thế kỷ thứ mười chín.

Có hai nguyên do cho sự kiện này. Trước tiên, nếu tầm trải rộng thực sự của Xiêm La được nhận biết bởi các nhà chức trách Anh Quốc tại Ấn Độ hay các kẻ đi tìm kiếm thuộc địa người Pháp tại Đông Dương, sự chinh phục Xiêm La sẽ mang thứ tự ưu tiên cao hơn, vừa như một phần thưởng cụ thể tự bản thân nó, vừa để né tránh các sự tranh chấp với Xiêm La trong tương lai. Lý do thứ nhì là cung cách theo đó Xiêm La đã tính toán trong các thỏa ước Anh-Pháp để chia cắt vùng Đông Nam Á lục địa. Trong khi người Anh đang khống chế Miến Điện, người Pháp bắt đầu củng cố sự tuyên xác của họ tại Đông Dương, Anh và Pháp đồng ý dùng Xiêm La như một vùng trái độn giữa hai nước – một sự thỏa thuậm xem ra hợp lý nếu các nhà thương thuyết tin rằng Xiêm La là một mảnh đất thon gọn. Chính vì thế Xiêm La được dự tưởng như một khu vực biên cương, hay một quốc gia [nguyên bản tiếnh Anh in sai, sate (làm cho thỏa thích), đúng ra phải là state: quốc gia, chú của người dịch] trái độn, bởi Anh và Pháp. Khá lâu sau này, cùng nguyên tắc địa dư này có thể được nhận thấy nơi các DMZ (demilitarized zones: khi phi quân sự) của Hàn Quốc và Việt Nam.

Bưu Thiếp Với Bản Đồ Vùng Đông Nam Á Lục Địa

Bản đồ Weller cho thấy vương quốc Lan Na như “Các Bang Quốc dân Shan: Shan States”, mới được sáp nhập vào Xiêm La như các vùng đất triều cống trong một liên minh để chống lại Miến Điện. Các Bang Quốc dân Shan xa hơn về phía bắc được phân định là triều cống đối với Ava (Miến Điện). Biên giới phân chia hai vương quốc ở phía bắc được vạch thẳng ở kinh độ 20 o bắc, gần nơi mà biên giới bất thường hiện đại tọa lạc giờ đây. Chiang Mai được ghi là Zimmé, vốn là một cách phiên dịch trong Anh ngữ thế kỷ thứ mười chín cách phát âm của người Miến cho danh xưng đó. Vientiane (Vạn Tượng), thủ đô hiện đại của Lào, đã bị chiếm đóng và bị phá hủy phần lớn bởi Xiêm La năm 1827, và xuất hiện chỉ như làng Ban-chan hay Vien-chan cách xa con sông Mekong vài dặm.

Các cuộc thương thuyết của Anh Quốc với triều đình Xiêm La chứng tỏ ít nhất đã khiến cho người Anh thất vọng, y như các cuộc điều đình với Miến Điện. Anh Quốc đã mong muốn ấn định một biên giới theo ý niệm Tây phương, rành mạch giữa các phần đất cưỡng chiếm của nó tại Miến Điện với phần đất tuyên nhận bởi Xiêm La, nhưng Bangkok đã không hiểu lý do tại sao lại cần thiết để xác định một ranh giới chút nào, và khi bị thúc đẩy để làm như thế, nó chỉ có thể đưa ra một sự mô tả của một khách du lịch về một vùng “biên cương” mơ hồ hơn là một ranh giới. Các con sông và núi non, dĩ nhiên, là bộ phận của các trụ cột hướng dẫn, nhưng các điểm mốc cũng là “các rừng gỗ teak, các ngọn núi bên trên các ngọn núi, các ao bùn nơi có ba ngôi chùa, các cây Maprang [?], ba đống đá,” v.v… 16 Các thương thuyết gia người Anh còn sững sờ hơn nữa khi Xiêm La liên tiếp cho thấy không quan tâm đến việc thực sự đi đến nơi để xác định và vẽ các biên giới tuyên nhận của họ, để mặc người Anh làm việc đó nếu họ thực sự cảm thấy là cần thiết.

Không lâu trước khi có bản đồ Weller, một vụ tranh chấp đã xảy ra tại một ngôi làng người Karen trên núi giữa Chiang Mai và Ava – một khu vực khá trống trơn trên bản đồ. Người Anh ngạc nhiên nhận thấy người dân ở Chiang Mai khá thờ ơ với sự rắc rối, nói rằng thị trấn Karen đó “không thuộc vào ai cả.” Dĩ nhiên, trong cái nhìn của người Anh, một thị trấn không thể “không thuộc ai cả”, nhưng ngay cho đến ngày nay, nhiều bộ tộc miền núi khác nhau dọc theo biên cương Thái – Miến phần lớn sống dửng dưng với căn cước dân tộc, và nhiều kẻ sống trong phạm vi lãnh thổ Miến Điện đã kháng cự một cách dữ dội thẩm quyền tài phán của Rangoon trên đời sống của họ. Trong khai niệm về không gian địa dư của họ, họ sống tại “các kẽ hở” (cracks) giữa các láng giềng lớn hơn – nhà của họ không nằm trên “bản đồ” của bất kỳ nước nào.

Biên giới tây bắc của khu vực trống trơn trên bản đồ Weller là Sông Salween. Có nhiều rừng gỗ teak dọc theo các bờ của con sông này và trong miền của Lan Na (phần lớn khu vực trống trơn) mà người Anh hắng hái chiếm hữu. Ở đây người Anh nhận thấy mình ở trong một “lãnh địa” khái niệm khác thường hơn nữa so với trước đây, bởi các miền phía bắc bị phân hóa nhiều hơn những miền mà họ đã sẵn có kinh nghiệm tại Miến Điện và Xiêm La chính danh. Nhiều ngôi làng khác nhau đã thuộc về một hay nhiều vương quốc và người dân sống dọc biên cương với vùng giờ đây trở thành Miến Điện thuộc Anh không thể hiểu được tại làm sao mà họ không còn có thể vượt qua một lằn ranh vô hình nào đó (biên giới do Anh xác định của Miến Điện] để tiếp tục mậu dịch, săn bắn hay đánh cá như họ đã từng làm trước đây, không cần để ý tới “quyền sở hữu” trên đất đai. Giống y như các nhà chức trách Xiêm La nêu ý kiến với người Anh rằng họ cứ tiến tới và vẽ các ranh giới đề nghị mà không cần có họ [viên chức Thái, chú của người dịch] đi theo, Chiang Mai cũng bày tỏ không quan tâm đến việc vẽ bản đồ con sông Salween, nhưng khuyến khích người Anh hãy tự mình làm như thế. Kết quả, giữa các năm 1847 và 1849, các nhà địa chính Anh Quốc đã vẽ bản đồ sông Salween với chi tiết, và từ đó, có sự cải tiến trong việc phác họa con sông đó giữa bản đồ của Hall năm 1829 với bản đồ của Weller năm 1863.

Tuy nhiên, Weller nhận biết sự kiện rằng nhiều vương quốc nhỏ bé nằm ở các kẻ hở giữa các cuờng quốc Đông Nam Á quan trọng. Dọc bờ tây của sông Cửu Long tại miền bắc-đông bắc Thái Lan, chúng ta tìm thấy “các Bang Quốc Nhỏ triều cống Trung Hoa, Xiêm La và Nam Kỳ”. Các “Bang Quốc dân Shan” phía bắc (giờ đây là miền dân Shan của Miến Điện) được ghi nhận như thần phục đối với Ava, trong bkhi Các Bang Quốc dân Shan miền nam (Chiang Mai) thì thần phục Xiêm La. Căm Bốt được vẽ phủ chùm, một cách mơ hồ, lên Thái Lan và Việt Nam. Bên dưới nó, phần còn lại của “Camboja Độc Lập: Inđepenent Camboja”, vùng mà hồi đầu của thế kỷ thứ mười chín được dùng như một quốc gia trái độn giữa Việt Nam và Thái Lan.

Hình 168: Bản Đồ Chiang Mai, vào khoảng 1904. Theo một sự ghi chú ở cuối, viết bởi một sĩ quan quân đội năm 1972, bản đồ được ”lập ra năm 1904 khi Ông Tướng Hoàng Thân (General Prince) NakhonCaisi Suradet du hành đến các tỉnh miền bắc.” [được vẽ lại bởi H. Penth (1986) từ một bản sao tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia, Chiang Mai, Thái Lan. Nguyên bản được lưu trữ tại Ban Bản Đồ (Map Division), Quân Đội Hoàng Gia Thái, Bangkok.]


Chuyển Tiếp Sang Kỷ Nguyên Hiện Đại

Anh Quốc và Pháp đã vẽ bản đồ Miến Điện và Đông Dương theo các điều kiện của chính họ, bởi họ là các kẻ chiếm đoạt trong các vùng này – họ đơn giản du nhập việc vẽ bản đồ phương Tây như một phần của đặc ưu quyền của sự chinh phục. Xiêm La, ngược lại, vẫn còn độc lập. Tuy thế, khát vọng để hiện đại hóa hạ tầng cơ sở của vương quốc, cũng như sự tranh dành để ấn định các biên giới thuận lợi nhất khả hữu trong bản đồ chính trị đang thay đổi của vùng, dẫn vương quốc đến việc nhập cảng cách vẽ bản đồ Tây phương.

Sự tiếp nhận các kỹ thuật vẽ bản đồ Tây phương tại Thái Lan được gia tốc dưới thời trị vì của Quốc Vương Mongkut (1851-68). Mặc dù Mongkut đã sẵn quen thuộc với các bản đồ Tây phương, nhưng chính chính sách đế quốc của Pháp tại Đông Dương đã cung cấp một chất xúc tác cho việc vẽ bản đồ vương quốc kiểu “Tây phương” cho chính Xiêm La . Sau khi Pháp đã thực sự chinh phục được Việt Nam, nó bắt đầu di chuyển sâu vào nội địa, xâm nhập nhiều bộ tộc nhỏ nằm ở các giải đất lờ mờ phân cách Xiêm La với Việt Nam và Căm Bốt. Trong năm 1866, Mongkut hay biết rằng các nhà thám hiểm Pháp đang khảo sát các khu vực nằm dọc theo sông Mekong và hiểu được các hàm ý chính trị của việc vẽ bản đồ như thế, đã thuê mướn một nhà địa chính Hòa Lan cầm đầu một toán đến sông Cửu Long để vẽ bản đồ miền này cho Thái.

Việc này châm ngòi cho một cuộc tranh đua có hiệu quả xóa bỏ “tâm lý mô hình tiểu vũ trụ thu nhỏ: mandala psychology” cổ xưa của địa lý chính trị Đông Nam Á, trong đó quyền lực và chủ quyền chiếu rọi ra bên ngoài từ trung tâm của một vương quốc. Cả Pháp lẫn Xiêm La đều vội vã để đặt bước chân đầu tiên đến nơi luôn luôn là các-vùng-đất-nằm-ở-các-kẽ-hở — những miền được chiếm ngụ bởi các tù trưởng và dân miền núi có thể chính thức tán dương một hay nhiều vương quốc to lớn với cống phẩm và biểu tượng của lòng trung thành, nhưng trong bản chất vẫn tự trị. Đột nhiên, các khoảnh đất xa xôi này bị áp lực phải tự xếp hàng hoặc là với Xiêm La hay với Pháp, để bao gồm cộng đồng của họ với bên này hay bên kia của một lằn ranh tưởng tượng xác định quyền sở hữu chính trị. Sự phân chia địa lý chính trị này, theo định nghĩa, có nghĩa sự loại bỏ chính các tiểu quốc tí hon này.

Xiêm La cũng thuê mướn các kỹ thuật gia ngoại quốc, dù không nhất thiết phải là các nhà địa chính hay các người vẽ bản đồ chuyên nghiệp, để thực hiện việc vẽ bản đồ được tiếp nối bởi các dự án canh tân hóa. Ước vọng xây dựng các đường lộ, đường rầy xe lửa, và đường dây điện tín đều đòi hỏi rằng các cuộc khảo sát địa chính tân tiến phải được tiến hành. Ngay Auguste Pavie, sau này trở nên nổi tiếng như một nhà thám hiểm người Pháp trên phần nội địa Đông Dương, đã làm việc tại Xiêm La trong khoảng 1878-79, chỉ huy sự xây dựng một đường dây điện tín từ Bangkok đến Battambang (nay nằm tại Căm Bốt), được nối liền với đường dây của Pháp đến tận Sàigòn.

Trong năm 1880, một động lực mới đến từ láng giềng thực dân phía tây của Xiêm La. Anh quốc đã thực hiện các cuộc khảo sát địa chính theo phép đo tam giác sâu rộng tại Ấn Độ và Miến Điện, nhưng cần tiến vào Xiêm La để hoàn tất tiến trình. Nhiều người trong triều đình Xiêm La đã nhìn lời yêu cầu trắc địa theo phép đo tam giác tại Bangkok với sự ngờ vực, đặc biệt bởi vì hai trong các mốc làm chuẩn cụ thể là các địa điểm tôn giáo quan trọng. Nhưng Quốc Vương Chulalongkorn đồng ý với đề nghị khi được nêu ý kiến rằng phép trắc địa theo tam giác sẽ được thực hiện bởi các kỹ sư người Anh nhằm thiết lập một bản đồ của chính nước Xiêm La.

Việc này, kế đó, đã dẫn đến các dự án vẽ bản đồ của Xiêm La do người Anh cầm đầu hồi đầu thập niên 1880. Các dự án trải khắp vương quốc và có tính chất đa trạng về mục đich: một đường dây điện tín được khảo sát địa chính và xây dựng nối liền thị trấn Tak của Xiêm La với Miến Điện; một bản đồ khu phố Trung Hoa tại Bangkok được thực hiện nhằm làm dễ dàng cho việc thu một sắc thuế hữu hiệu hơn trên các cư dân Trung Hoa; một bản đồ vùng biên cương giữa Chiang Mai và vùng lân cận Thái Lan đã được vẽ để giải quyết một cuộc tranh chấp về thuế chặt cây; và một bản đồ được phác họa về ranh giới giữa Pattani, một bang quốc Mã Lai nằm dưới sự kiểm soát của Thái Lan, với một bang quốc Mã Lai thuộc quyền người Anh. Tuy nhiên, các nhà địa chính Anh đã tuyên bố rằng nhiều người Thái, các viên chức cao cấp cũng như thường dân, nghi ngờ công việc của họ, và đã cản trở các cuộc khảo sát. Nhưng trong năm 1882, một trường dạy vẽ bản đồ đã được thiết lập bởi Hoàng Thân Damrong và ba năm sau đó, Xiêm La đã thành lập Ban Khảo Sát Địa Chính Hoàng Gia (Royal Survey Department), kết hợp một cách hữu hiệu việc vẽ bản đồ Tây Phương như một phần chính thức của văn hóa Thái Lan.

Cùng lúc mà người Anh và người Pháp tranh nhau quyền kiểm soát trên các miền nội địa và các kỹ thuật vẽ bản đồ Tây Phương được tiếp nhận bởi nước Xiêm La độc lập, các sự chuyển đổi trong sự sử dụng đất đai cũng gây ra các sự thay đổi mạnh mẽ đối với “bản đồ” của cả hai vùng Đông Nam Á đại lục và hải đảo. Một nông phẩm thu hoạch tại Đông Nam Á có một hiệu ứng đặc biệt dễ nhận thấy là cao su. Cao su, là một chất có ít sự ứng dụng thực tế cho đến khi các sự tiến bộ khoa học của thế kỷ thứ mười chín phát triển các phương thức giúp nó được chế biến thành một chất liệu bền chắn tương đối không bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Nguyên thủy nó chỉ được cung cấp từ các nguồn tiếp liệu đắt giá và không mấy tin cậy ở Nam Mỹ Châu, nhưng trong suốt hai thập niên cuối của thế kỷ thứ mười chín, cao su đã được cấy trồng ở Đông Nam Á nơi mà nó được nhận thấy là sè tăng trưởng một cách sinh lợi. Việc này trùng hợp với cao trào mạnh mẽ trong nhu cầu toàn thế giới về chất liệu này, và không lâu các đồn điền cao su đã phủ kín các khu vực bao la ở Việt Nam, Căm Bốt, Mã Lai, Sumatra, và Java, chiếm chỗ các hoa màu đương hữu và khai khẩn các khu rừng và các giải đất rộng lớn trước đây không được canh tác. Kế tiếp đó, sự đầu tư đáng kể mà các đồn điền này đòi hỏi đã củng cố hơn nữa sự kiểm soát của thực dân trên các miền này.

Vào các thập niên đầu của thế kỷ thứ hai mươi, phần cướp đoạt của thực dân và vị thế của Xiêm La đã đặt định nền tảng cho các sự phân chia chính trị mà chúng ta có ngày nay, và sự thám hiểm năng nổ tiếp diễn vùng nội địa đã khai mở nhiều bí mật địa dư quan trọng của miền này. Nhưng không phải Đông Nam Á, cũng như bản thân việc vẽ bản đồ, lại bất động, và việc vẽ bản đồ đất đai, nhân chủng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đáy đại dương, và vô số các khía cạnh khác, vẫn được liên tục cho đến thời đại của chúng ta./-

_____

CHÚ THÍCH

1. Trung Úy James Low trong một lá thư năm 1824 gửi Bộ Trưởng Chính Phủ Penang (Secretary to the Government of Penang (khi đó là Đảo Prince of Wales Island). Xem Sternstein, Larry, “LOW’ Maps of Siam, trong tạp chí The Journal of the Siam Society, Vol. 73, part 1 & 2, Jan-July, 1985, Bangkok, trang 132.

2. Clifford, Hugh, Further India being the Story of Exploration from the Earliest Times in Burma, Malaya, Siam, and Indo-China. London: Lawrence and Bullen, Ltd., 1904, các trang 1-14.

3. Trích từ một lá thư của W. E. Phillips trong Hồ Sơ Xí Nghiệp Các Khu Định Cư Eo Biển (Straits Settlements Factory Records, 15 April, 1824, các trang 442-445; được trích dẫn bởi Larry Sternstein, trong bài “LOW’ Maps of Siam, trên tạp chí The Journal of the Siam Society, Vol. 73, trang 135.

4. Clifford, sách dẫn trên, các trang 131-133.

5. Francis Garnier, trong Clifford, sách dẫn trên,các trang 133-134. Một cách mỉa mai, lá thư từ đó điều này được rút ra được giả định viết bởi Garnier khi anh ta vào khoảng hai mươi tuổi, có nhật kỳ ba năm trước khi có cuộc Chiến Tranh Nha Phiến, trong đó, nước Pháp đã liên kết với Anh Quốc trong việc cưỡng bách Trung Hoa mở cửa cho thuốc phiện.

6. The French in Indochina , tác giả vô danh, Edinburgh: T. Nelson & Sons, 1884 [Sách in lại, với lời đề tựa của Dean Meyers, Bangkok, White Lotus Co. Ltd., 1994], trang 1.

7. Sar Desai, D. R., Southeast Asia Past & Present, Boulder and San Francisco: Westview Press, 1989 (1994), trang 73.

8. Như được trích dẫn trong Winichakul, Thongchai, Siam Mapped a History of the Geo-body of a Nation, Honolulu: University of Hawaii Press, 1994 [Chiang Mai, Silkworm Books], trang 85.

9. The French in Indochina, sách dẫn trên, trang 40.

10. Taylor, Keith Weller, The Birth of Vietnam, University of California Press, Berkeley and Los Angeles, trang 252.

11. Trích dẫn bởi Martin Stuart-Fox, A History of Laos, Cambridge University Press, 1997, trang 47.

12. Penth, Hans, A Brief History of Lan Na, Chiang Mai: Silkworm Books, 1994, trang 39.

13. Xem, Lotika Varadarajan, “Glimpses of Seventeenth Century Currency and Mensuration in Siam”, trang 207, chú thích số 13, trong tạp chí Journal of the Siam Society, Vol. 83, Parts 1 & 2, 1995.

14. Trích dẫn từ Sternstein, “LOW’ Maps of Siam, tạp chí đã dẫn trên, các trang 132 & 135.

15. Bản đồ thứ nhì này có nhan đề A Map of Siam, North Laos, Martaban, Tennasserim and Part of the Malayan Peninsula … Xem, Sternstein, “LOW’ Maps of Siam, tạp chí đã dẫn trên, trang 153, v.v…

16. Trích dẫn từ Winichakul, sách dẫn trên các trang 67-70.

_____

PHẪN II

CÁC PHỤ LỤC TRÍCH DỊCH TỮ NGUYÊN BẢN

*****
Phụ Lục 1

Ý Niệm Của Người Việt Nam Về Xứ Sở

(các trang 16-17)

[Bắt đầu trích dịch] … Các con sông, cùng với núi hay rừng, là chủ điểm chính yếu trong địa dư Đông Nam Á và trong đời sống Đông Nam Á. Các từ ngữ trong tiếng Phạn (Sanskrit) và tiếng Pali chỉ “đại lục hay châu: continent” lần lượt là dvipa và dipa, vốn bao gồm dvi = hai, và apa = nước, chính từ đó tạo ra hình ảnh trong tinh thần về một khối đất như một vật gì đó nằm giữa hai dòng nước, bất luận là biển cả hay sông ngòi. 1 Một trong những từ ngữ bản địa của người Việt Nam để chỉ xứ sở của họ là Non Nước [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], có nghĩa là “núi và nước” . 2 Bởi do hình dạng và lộ trình của các con sông, các ngọn núi và các hòn đảo ấn định sự di chuyển của người dân Đông Nam Á, một bản đồ về sự sinh hoạt con người hàng ngày tại vùng đất liền Đông Nam Á và các hòn đảo Nam Dương có thể hình dung như các đường “dọc: vertivcal” và “ngang: horizontal” vô tận. Đối với dân chúng vùng bán đảo và nội địa, đời sống được chia sẻ cùng với các dòng sông và sự di chuyển tổng quát của họ theo hướng bắc-nam, trong khi sư du hành duyên hải hay xuyên-hải đảo của dân chúng vùng Đông Nam Á hải đảo phần lớn theo trục đông-tây. Trong khi các hải đảo có nhiều hệ thống sông ngòi đa cấp, vùng lục địa lệ thuộc vào các mạch chính của sông lớn và các đồng bằng phì nhiêu của chúng. Các vương quốc cổ xưa ở Pagan [Miến Điện], Angkor [Căm Bốt], và Việt Nam đều bắt nguồn tại các đồng bằng lúa gạo phì nhiêu (lần lượt, đồng bằng sông Irrawaddy, Tônle Sap, lưu vực sông Hồng). Các hệ thống sông ngòi, như chúng ta sẽ thấy, cũng là các mạch chính của quyền lực chính trị, bởi vì bản chất của địa hình Đông Nam Á khiến cho sự kiểm soát chính trị trực tiếp trên dân chúng xa xôi trở nên khó khăn.

Các sự khác biệt về nông nghiệp có để lại dấu vết của chúng trên bản đồ. Một số các sự khác biệt này phát sinh từ sự thích ứng với môi trường, chẳng hạn như các kỹ thuật canh tác mà người dân đồi núi sử dụng để sống sót tại các núi đồi ở Lào, Thái Lan và Miến Điện. Các sự khác biệt khác nặng về văn hóa, tạo ra sự tương phản địa hình trong cùng môi trường. Người đân bên phía Việt Nam và Căm Bốt của sông Mekong dồn sức cho các cánh đồng lúa gạo làm ra hai mùa gặt trong một năm, trong khi dân bên phía tây thì biến đổi và hoang dại hơn. …

… Địa lý Đông Nam Á ngăn cách các văn hóa tiến triển của Ấn Độ và Trung Hoa với nhau; cùng lúc, với các mực độ khác nhau, các nền văn minh của Đông Nam Á đã vay mượn từ cả hai, thích ứng và biến đổi các tư tưởng của Ấn Độ và Trung Hoa cho phù hợp với các nhu cầu của chúng. Ảnh hưởng của Trung Hoa mạnh nhất ở Việt Nam, nhưng không trải dài xuống tới miền nam Đông Dương mãi cho đến thế kỷ thứ mười tám. Miền nam Đông Dương, bao gồm Chàm và Căm Bốt, tương đồng về mặt văn hóa với phần còn lại của Đông Nam Á.

Việc “Ấn Độ hoa’ vùng Đông Nam Á thường hay được thảo luận, bắt đầu sớm sủa ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, không bao giờ là một sự tiếp nhận mù quáng các giá trị Ấn Độ, mà đúng hơn, sự tiến hóa của văn hóa Đông Nam Á rút ra từ kinh nghiệm và nguồn cảm hứng của văn minh Ấn Độ. Các tín ngưỡng địa phương và Ấn Độ đan lẫn vào nhau đến nỗi các nhà xã hội học thường tranh luận nhau về việc liệu một truyền thống hay vị thần nào đó là có tính chất bản địa, Ấn Độ, hay bản địa với một danh xưng hay vỏ bọc Ấn Độ. Các miền vòng ngoài, nổi bật nhất là Phi Luật Tân, chỉ có ít kinh nghiệm hay không chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ bởi có khoảng cách địa lý đích thực của nó.

Cũng như văn hóa Trung Hoa cũng không được tiếp nhận chỉ vì văn hóa; ngay ảnh hưởng mạnh mẽ trong truyền thống của Trung Hoa trên Việt Nam bị giới hạn nhiều trong lớp thường dân hơn là các định chế hoàng triều. Thí dụ, trong khi người dân Việt Nam chấp nhận sự sử dụng đũa để ăn từ Trung Hoa và từ bỏ các nhà sàn, được dựng trên các cây cột, âm nhạc Việt Nam chỉ vay mượn cơ cấu âm vực Trung Hoa [tức hệ thống ngũ cung, chú của người dịch] bên trong phạm vi các cánh cổng triều đình. Trong thực tế, sự thất bại của tầng lớp tinh hoa ban sơ tại Châu Thổ sông Hồng để tạo lập một quốc gia khả dĩ sinh tồn một phần bởi có sự ngần ngại du nhập các truyền thống bản xứ vào ý thức hệ Khổng học của họ. 4 ….

*****

Phụ Lục 2

Phân Loại Chính Các Bản Đồ Về Đông Nam Á

(trang 33)

[Bắt đầu trích] … Với các giới hạn này ghi nhớ trong đầu, chúng ta có thể nhìn vào các loại bản đồ Đông Nam Á khác nhau và các niên đại của các thí dụ còn tồn tại của mỗi loại, và sau đó bình luận về các loại bản đồ đối chiếu tại Tây Phương, các bản đồ Đông Nam Á có thể được phân chia thành bốn loại chính:

1) các bản đồ thuần túy có tính chất vũ trụ quan (trong khung cảnh này, có nghĩa “siêu hình” hay “tinh thần” trong bản chất, hay nói cách khác, không có tính chất bản đồ địa dư;

2) các bản đồ đại diện một cách biểu trưng các đặc tính địa dư có thực nhằm các mục đích tôn giáo hay phác họa vũ trụ quan;

3) các bản đồ cố gắng vẽ lại địa dư chân thực, bất luận theo báo cáo hay sự quan sát thực nghiệm;

4) các lộ trình, có thể được viết thành văn bản, được học thuộc lòng, hay ký âm thành bài hát, dùng để kiến tạo một hình ảnh tinh thần về thời gian và không gian, chiều hương và vị trí, địa hình, và các thắng tích. …[hết trích dịch]

*****

Phụ Lục 3
Bản Đồ Vũ Trụ (Cosmographic Maps)
Của Đông Nam Á và Việt Nam

(trang 34)

Tại Đông Nam Á thời tiền hiện đại, phác họa con đường của người ta đi đến một mức độ khác biệt của sự hiện hữu cùng quan trọng y như vẽ con đường đến thung lũng bên cạnh. Các bản họa tượng trưng cho thế giới vô hình hay siêu hình dưới hình thức các ngôi đền hay dinh thự bằng đá là các thí dụ cổ xưa nhất còn sống sót về các họa đồ của Đông Nam Á.

Để nhìn vào các bản đồ vũ trụ của Đông Nam Á, cần nhìn vào vị trí của của các ngọn núi trong đời sống Đông Nam Á. Không chỉ các ngọn núi là một đặc điểm chính yếu trong phong cảnh cụ thể của Đông Nam Á, chúng cũng còn là một phần liên hợp của cảnh trí tinh thần của toàn miền. Quyền chủ tể của một nhà vua thường được liên kết một cách rắc rối với một ngọn núi, hoặc có thực hay chỉ có tính cách biểu trưng. Các ngọn núi có thể tượng trưng cho sự hiện thân của các trạng thái cao siêu hơn của sự hiện hữu và đồng thời là nơi cư ngụ của các thần linh. Sự tôn kính dành cho núi non này có tính cách bản địa, nhưng được bổ túc bởi các ảnh hưởng ngoại lai. Ngọn núi nổi tiếng nhất trong các ngọn núi tinh thần là Sumeru, được tin nằm ở phía bắc, tại trung tâm thế giới, có nghĩa, tại núi Hi Mã Lạp Sơn (Himalayas) , Tây Tạng hay Rặng Núi Pamir thuộc Trung Á Châu.

Khi Ấn Độ Giáo lan truyền khắp Đông Nam Á, bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, nó mang theo cùng với mình ý tưởng về Sumeru và các niềm tin Ấn Độ khác về các ngọn núi, kế đó hòa trộn với các tín ngưỡng thờ thần linh bản địa. Vị thần Ấn Độ, Indra (Đế Thích), là chúa tể của ngọn núi Sumeru, và cư ngụ tại một nơi gọi là Trayastrima ở định núi. Người dân Khmers của Căm Bốt có ngọn núi riêng của họ tương đương như Sumeru, mà họ gọi là Ngọn Mahendra; khi tín ngưỡng Ấn Độ vươn tới Căm Bốt, chúng trộn lẫn với các khía cạnh tôn giáo của Mahendra, với các nhà lãnh đạo ban đầu của Khmer được xác định như các sự hiện thân tại thế gian của các vị thần linh của ngọn núi vũ trụ này. 42 Siva, vị thần uy quyền nhất trong các vị thần Ấn Độ, là “Vị Quân Vương Của Ngọn Núi: Lord of the Muontain”, và sự tôn thờ Siva như một vị thần núi đã hiện diện tại Căm Bốt ngay từ thế kỷ thứ năm. 43 Tại Miến Điện cũng vậy, sự tôn kính núi non nhập cảng từ Ấn Độ đã đồng hóa với các vì thần linh bản địa. 44 Khái niệm các ngọn núi linh thiêng tiếp tục với sự du nhập của Phật Giáo; các niên sử Trung Hoa đầu thế kỷ thứ mười ba ghi chép rằng tại một nước nằm phía tây Căm Bốt, “có một ngọn núi được gọi là Wu-nung [có thể từ một từ ngữ Mã Lai để chỉ núi, gunong]” từ đó người ta nhập vào cõi Niết Bàn (Nirvana). 45

Hòn đảo Bali, theo truyền thuyết địa phương, nguyên thủy là một vùng đất phẳng, không có núi. Tuy nhiên, khi Hồi Giáo thay thế cho Ấn Độ Giáo tại phần lớn đảo Java, các vị thần Ấn Độ, lựa chọn để tái định cư tại đảo Bali bên cạnh, trước tiên cần tạo ra, trên quê hương hải đảo mới của họ, các ngọn núi đủ cao làm nơi cư ngụ. Trong một phiên bản khác, các ngọn núi đã được di chuyển từ miền đông Java. Ngọn núi được tán dương nhất trong số các nơi cư ngụ của cac thần linh này, ngọn “Sumeru” của Bali, là núi Gumung Agung, nằm miền đông hòn đảo. 46 Bali là thế giới, và Ngọn Agung là “rốn” (navel; puséh). Các biểu trưng về Sumeru, trong thực tế là các họa đồ vũ trụ, luôn luôn được tìm thấy trong các ngôi đền của ngay cả các ngôi làng Bali nghèo hèn nhất.

Các ngọn núi đã là suối nguồn của đời sống tinh thần; chúng cũng là căn nguyên của “thành tố” khác của thế giới, các con sông, chính vì thế, cũng là suối nguồn của sinh hoạt thực tế. Trong khía cạnh sau cùng này, chiếc bóng tuyệt hảo của một ngọn núi Nam Dương, vươn cao trên nền thung lũng hay trổi lên từ biển, đôi khi được so sánh với hình ảnh của một bầu vú.

Sự phì nhiêu của đất đai là một bộ phận của tượng dung học (iconography) của một loại họa đồ biểu trưng được biết dưới hình thức các bức chạm khắc trên đá từ xứ Chàm (phía đông miền trung Việt Nam). 47 Các bức chạm khắc này có nguồn gốc như “các tảng đá của nền đất” thần diệu, trong đó hòn đá thể hiện vị thần đất; không giống như các tín ngưỡng nhập nội, trong đó các thần linh cư ngụ (inhabited) ở các thực thể trần gian, quan điểm bản địa có thể đã xem bản thân trái đất như một vị thần. Các đối tượng huyền bí như thế tương tự như các hòn đá hay gò đất được thờ cúng bởi người Việt Nam hay Trung Hoa. Các tảng đá độc khôi của Chàm mang hình thức linga, biểu tượng cho dương vật theo Ấn Độ Giáo, tượng trưng thần Siva, hay năng lực tái sinh sản của thiên nhiên. Chúng được đặt ở giữa một ngôi làng và rõ ràng đã tạo ra một tiểu vũ trụ quan đa diện về lãnh thổ, sự hiện thân của vương quốc hay nhóm phong kiến trong đó linga là trung tâm. Đình tảng đá là vật biểu trưng cho Siva. Siva được được đặt trên đỉnh hòn đá bởi vì ông là “Vị Quân Vương Của Núi” (Meru) và cũng bởi vì quyền lực chính trị tại xứ Chàm và Căm Bốt ban sơ được chính thống hóa qua sự đồng nhất hóa nhà vua với thần Siva. Một phần hình bát giác bên dưới đầu mũi này tượng trưng cho thần Vishnu, và một phần bốn mặt bên dưới nó biểu trưng cho Brahma, kẻ giám sát tất cả sự vật linh thiêng (một thí dụ khác về ý nghĩa đặc biệt của các con số này). Phần dưới cùng nhất tượng trưng cho nền đất, tức vương quốc. Chính vì thế, hòn đá đã tức thời là một biểu đồ về trật tự của vũ trụ, một biểu tượng của thần quyền của nhà vua và sự hiện thân độc hữu của ông với Siva, và một họa đồ của các quyền lực ban sủng sự phì nhiêu đến cho đất đai và dân chúng. “Họa đồ” này về quyền lực, sự phồn sinh, và trái đất có thể phục vụ như một công cụ linh thiêng trong các nghi lễ sinh sản. Các hình tượng chạm khắc đá khác của Chàm có nội dung nửa như sổ địa bạ, và sẽ được đề cập tới trong phần liên quan đến các bản đồ thực nghiệm (empirical maps) (xem trang 38) [trong nguyên bản, chú của người dịch].

Sumeru đã được mô phỏng về mặt biểu tượng tại khắp vùng Đông Nam Á theo Phật Giáo-Ấn Độ Giáo (Hindu-Buddhist). Các đền thờ Ấn Độ Giáo tập trung vào các đền thờ tượng trưng cho Sumeru, trục của vũ trụ, có niên đại từ thế kỷ thứ bẩy tại Java, và các công thự với các biểu tượng kiến trúc Phật Giáo dựa theo ngôi đền vĩ đại tại Borobudur (khoảng 800 sau Công Nguyên). Borobudur và các ngôi đền Phật Giáo-Ấn Độ Giáo lân cận phác họa nhiều trạng thái khác nhau của sự hiện hữu, là các họa đồ lâu đời nhất còn tồn tại ở Đông Nam Á. Các tầng thấp bên dưới của Borobudur diễn tả các vấn đề thế tục và tượng trưng cho các trạng thái thấp kém của ý thức tinh thần: khi một người leo lên các tầng trên, chủ đề được dần nâng cao và có tính cách siêu hình, với thượng đỉnh biểu thị cho sự thành đạt được sự giác ngộ chân thực. Nhìn như một toàn bộ, cơ cấu phác thảo nhất thể của vũ trụ.

Các chủ điểm tương tự, mặc dù sử dụng các phương tiện khác, được ghi nhận tại Việt Nam thời ban sơ. Vào cuối thế kỷ thứ mười, khoảng thời gian Việt Nam dành lại sự độc lập từ Trung Hoa sau gần một nghìn năm lệ thuộc, các nghệ nhân Việt Nam đã phác thảo các tín ngưỡng vũ trụ bằng việc xây dựng một “ngọn núi” bằng tre trên một con sông, và trong thế kỷ theo sau, bằng việc kiến tạo một công thự bằng gạch với các hồ nước kề cận. 48 [Xem thêm: Phụ Lục A của người dịch bên dưới].

Tại Căm Bốt, các đền đài uy nghiêm tại khu Angkor (đầu thế kỷ thứ mười hai) cũng cấu thành một họa đồ vũ trụ, phác thảo cả không lẫn thời gian. Các nhà nghiên cứu hiện đại khám phá rằng khoảng cách giữa các thành tố của ngôi đền, đi từ đông sang tây, tương ứng với số các năm trong kỷ nguyên hiện tại – [cũng chính là hồi] chung cuộc – của trái đất, theo như tín ngưỡng Ấn Độ, được đo bằng hat ( 1 hat = tương đương 0.4 mét). 49 ….

*****

Phụ Lục 4

Địa Dư Thực Nghiệm:
Việc Vẽ Bản Đồ Đông Nam Á Tại Bản Địa

(trang 38)

Việc vẽ bản đồ nền đất Đông Nam Á, trong một ý nghĩa thô sơ nhất, có thể tìm thấy tại các hình tượng chạm khắc trên đá nửa có tính chất vũ trụ, nửa có tính chất “trần thế” được đặt tại trung tâm một số ngôi làng hay nhóm đất đai của người Chàm. 53 Các tảng đá độc khối như thế là một tiểu vũ trụ về một lãnh địa được xác định rõ ràng và được nối kết về mặt nghi lễ với các tảng đá tọa lạc tại đường ranh giới lãnh địa. Tảng đá trung tâm mang tất cả tầm quan trọng một phần là một biểu tượng địa bạ sơ đẳng, một “bản đồ” về đất đai, cùng lúc nó là vật bảo đảm cho sự phì nhiêu và một đối tượng cho sự tôn kính về tôn giáo. Bởi các pháp quy đất đai và tôn giáo đan lẫn vào nhau, và bởi vì tôn giáo phần nào phục vụ cho việc hợp thức hóa các quyền hạn trên đất đai, các khía cạnh tôn giáo và địa bạ của tảng đá độc khối cộng tác với nhau trong sự hòa hợp.

Ngoài bằng cứ hoàn toàn có tính cách phỏng định được trưng dẫn trước đây liên quan đến một lịch sử lâu dài của việc vẽ bản đồ tại bản địa, tài liệu hay biết về thuật vẽ bản đồ của Đông Nam Á khởi đầu qua sự các sự tham chiếu văn bản với các bản đồ của Việt Nam, Java và Thái Lan. Mặc dù không bản đồ nào trong số này còn tồn tại, chúng có niên đại trước các họa đồ ngôi đền tại Chiang Mai và Chiang Rai nửa có tính cách đia dư. Các bản đồ Việt Nam bắt nguồn từ các nhu cầu của chính quyền, dĩ nhiên đã là một động lực quan trọng cho việc lập bản đồ, vừa để bảo vệ các biên giới, vừa cho sự giám định dân số và các sắc thuế. Trong năm 1075, theo một quyển sử ký Việt Nam năm 1479, một bản đồ được được lập cho biên cương phía nam với xứ Chàm; cùng quyển sứ ký này ghi nhận một bản đồ được lập ra trong thập niên 1170 là kết quả của “một cuộc tuần tra của nhà vua vùng bờ biển và các biên cương.” 54 Với truyền thống Trung Hoa lâu dài về việc lưu trữ tài liệu kỹ lưỡng và ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa trên công việc chính phủ của Việt Nam, không có gì đáng ngạc nhiên rằng chính ở Việt Nam chúng ta tìm thấy tài liệu cổ xưa nhất còn tồn tại về các bản đổ Đông Nam Á “có tính cách thực dụng”.

Việt Nam đã khởi đầu một cuộc vẽ bản đồ địa bạ triệt để hơn về đất đai và dân số của nó trong hậu bán thế kỷ thứ mười lăm, khi triều đình của nó du nhập các ý niệm của Trung Hoa về hạ tầng cơ cấu xã hội và về một chính quyền tập trung hơn, mạnh hơn. Trang bị cho chính quyền với sự kiểm soát hữu hiệu hơn trên lãnh thổ và dân chúng của nó, các cơ chế đã được thiết lập cho một cuộc khảo sát địa chính có phương pháp, thông suốt khắp toàn thể xứ sở. Trong năm 1467, nhà vua đã ra lệnh mười hai tỉnh (khi đó) của Việt Nam vẽ bản đồ tỉnh hạt của mình. Các bản đồ đã phác họa lại địa hình, các đặc tính thiên nhiên và nhân tạo, các đường lộ du hành, và các dữ liệu liên hệ khác. Triều đình thu thập các cuộc khảo sát địa chính riêng rẽ thêm vào đó, họ đã bổ túc các thống kê phụ trội về thường dân và xứ Chàm mới vừa sáp nhập, vùng mà Việt Nam đã chinh phục trong thập niên 1470. Tin tức tổng hợp đã được tuyên bố là tập bản đồ chính thức của vương quốc vào năm 1490, ngay trước khi có cuộc tấn công của Âu Châu, mặc dù các bản đồ xưa nhất còn tồn tại của Việt Nam, có niên đại từ thế kỷ thứ mười bẩy (có thể từ thế kỷ thứ mười sáu). 55 Tập bản đồ của Việt Nam trong thế kỷ thứ mười chín được trình bày nơi Hình 163 [xem trong phần chính của bài dịch bên trên, chú của người dịch] có thể mang các sự tương đồng về cách vẽ của các tác phẩm sớm hơn như thế…. “ [hết trích dịch]

*****

Phụ Lục 5
Phù Nam
(các trang 29-30)

[Bắt đầu trích dịch] … Vương quốc Phù Nam, được thiết lập tại Châu Thổ Sông Cửu Long vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, thường được nhìn như quốc gia được biết đến đầu tiên của Đông Nam Á, mặc dù tài liệu thành văn xác định duy nhất về nó là từ các đoạn văn trong một tập tường thuật bởi hai sứ giả Trung Hoa trong thế kỷ thứ ba. 29 Sự thành công kinh tế của Phù Nam phần lớn do vị trí chiến lược của nó nằm giữa các địa điểm đông và tây, bởi đó là một nơi chốn lý tưởng để phục vụ các thương nhân và các người hành hương tôn giáo xuyên qua eo biển Kra (isthmus of Kra) [Thái Lan], hay qua lại giữa Ấn Độ và Trung Hoa bằng cách lái thuyền bọc quanh Bán Đảo Mã Lai. Các khám phá khảo cổ học được khai quật tại hải cảng của Phù Nam ở Óc Eo, bao gồm các chế tạo phẩm La Mã và Ấn Độ được tin là có niên đại từ các thế kỷ thứ nhì và thứ ba, cho thấy nó là một trung tâm thịnh đạt về mậu dịch đường biển. 30

Một vị vua đã sử dụng các bản đồ để ghi chép các cuộc chinh phục của ông và tạo ấn tượng trên người dân về tầm mức quyển chủ tể của ông, để ghi chép các phần đất nằm dưới thẩm quyền tài phán của ông cho việc đánh các sắc thuế từ các thần dân, và để làm dễ dàng cho việc tạo dựng các đường xá và các hệ thống dẫn nước tưới tiêu. Hai nghìn năm trước đây – khoảng cùng lúc mà người dân Nam Dương mở đường cho cuộc du hành đến Madagascar và Phù Nam đã được thành lập tại phần giờ đây là miền nam Việt Nam – người dân Banaue tại miền bắc Luzon [Phi Luật Tân] đã kiến tạo các vùng ruộng bậc thang đồ sộ phần lớn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Các cấu trúc bằng đá tạo thành các bực thang ruộng mênh mông này vươn lên cao đến gần một dậm Anh (mile) từ đáy thung lũng cho đến đỉnh núi. Một báu vật của thiên tài và việc xây dựng, bản thiết kế đã tạo ra các thác nước nhân tạo, khoan thai dẫn nước cho các cây trồng theo bậc thang bên dưới. Mặc dù các ruộng lúa bậc thang tại Luzon ngoạn mục nhất trong các hệ thống dẫn nước tươi tiêu ban sơ, các phức thể dẫn nước tưới tiêu tinh vi với việc tạo các thang ruộng trồng lúa được biết đến trong toàn vùng Đông Nam Á. Phù Nam và vương quốc Căm Bốt ở khu đền Angkor tiếp nối nó tại miền nam Đông Dương, cả hai đều tùy thuộc nhiều vào các hệ thống dẫn nước tưới tiêu sâu rộng của chúng. …

… Các cấu trúc bằng đá hướng đến vũ trụ quan còn sống sót tại Căm Bốt, nhưng không có các bản đồ địa dư. Vào giữa thế kỷ thứ ba sau Công Nguyên, Phù Nam, quốc gia quan trọng nhất tại miền nam Đông Dương, trước khi có sự trổi dậy của đế quốc Khmer, đã được đến thăm bởi các sứ giả triều đại nhà Ngô (Wu) của Trung Hoa. Các sứ giả Trung Hoa đã mô tả Phù Nam như một địa điểm nơi mà dân chúng “sống trong các thành phố, các cung điện, và nhà cửa có tường thành bao quanh”, 34 Tuy nhiên, chúng ta không hay biết rằng liệu “các đồ vật khác” trong các văn khố của họ có thể gồm cả các bản đồ hay không….[hết trich]

Theo nhà văn Sơn Nam, “Phù Nam chỉ là phiên âm tiếng Phnom – theo tiếng Miên là núi (như trường hợp Phnom Penh), chưa ắt vua chúa xưa gọi Vương Quốc của họ là Phnom!” (Sơn Nam, Văn Minh Miệt Vườn, Nhà Xuất Bản Văn Hóa, [không ghi nơi xuất bản], 1992 [không rõ có phải sách in lại hay không, tác giả có ghi nhật kỳ viết xong là ngày 1-7-1970 tại Sàigòn], trang 29.

*****

Phụ Lục 6
An Nam, Đông Dương
(các trang 46, 51)

[Trang 46] (Bắt đầu trích) Một số thư lại chính quyền nhà Tống tuy thế đã ghi chép theo niên lịch các báo cáo mà họ nghe được về các vùng đất ở phía nam và hai văn bản còn tồn tại với các chi tiết liên quan đến Đông Nam Á. Một văn bản được viết vào năm 1178 bởi Chou Ch’u-fei (Chu Khứ Phi), một viên chức của tỉnh hàng hải tại Kuang-hsi (Quảng Tây), văn bản thứ nhì nửa thế kỷ sau đó, viết bởi Chao Ju-kua, Ủy Viên về Ngoại Thương tại Ch’uan-chou (tỉnh duyên hải Phúc Kiến). Chou Ch’u-fei giải thích rằng

Đại Dương Bao Quanh (Encircling Ocean) vĩ đại bao bọc các nước man rợ [Đông Nam Á]. Ở mọi nơi, họ có các vương quốc của họ, mỗì nơi đều có các sản phẩm đặc thù của nó, mỗi nơi đều có thị trường trên đó sự thịnh vượng của nhà nước lệ thuộc. Các vương quốc nằm ngay phía nam [của Trung Hoa] có quốc gia hàng hải Sumatra ở Srivijaya] là thị trường của chúng; những vương quốc ở phía đông nam [Trung Hoa] có She-p’o [Java]. 75

Đề cập đến Đông Dương, họ Chou cho hay mặc dù

Không thể liệt kê các nước ở Nam Tây Dương (South Western Ocean) … chúng ta có ở phía nam [của Chiao-chih: Giao Chỉ = Bắc Kỳ (Tongkin), Chan-ch’eng [(Chiêm Thành]?: Annam], Chen-la [Chân Lạp tức Căm Bốt] và Fo-lo-an [?]. [hết trích]

(Trang 51) Các chuyên khảo hải hành Ả Rập còn tồn tại xưa nhất ghi chi tiết sự du hành tại các vùng biển Đông nam Á tương đối muộn, có niên kỳ vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười lăm hay đầu thế kỷ thứ mười sáu, nhưng bao hàm các dữ liệu từ nhiều thế kỷ hải hành trước đó. Chúng được viết bởi hai thuyền trưởng đi biển trong thế kỷ thứ mười lăm, Ahmad ibn Majid, kẻ mà truyền tích kín đáo đề cập đến như là kẻ hướng đạo do Vasco da Gama thuê mướn để hướng dẫn đội thuyền của mình băng ngang từ đông bắc Phi Châu sang Ấn Độ, và Sulaiman al-Mahri. Tác phẩm của Ibn Majid được viết thành thơ để tạo dễ dàng cho việc nhập tâm các chỉ dẫn của quyển sách. Các cẩm nang chỉ đường này xem ra đã là đỉnh cao nhất của các văn bản như thế ít nhất trong bốn thế kỷ qua; ibn Majid, trong thực tế, có trưng dẫn các soạn giả đi trước tác phẩm của ông có niên đại lùi lại từ đầu thế kỷ thứ mười hai, và một du hành ký từ lúc bắt đầu thế kỷ thứ mười một. Tuy nhiên các cẩm nang hải hành này đã không có tác động rõ rệt trên việc vẽ bản đồ của người Ả Rập.

… Các văn bản kể gộp chung bờ biển Mã Lai với Xiêm La, và vùng lục địa phía đông với Trung Hoa, mặc dù Zaiton [Quanzhou] được xem là ngưỡng cửa của vương quốc Trung Hoa chính danh. Dọc con đường từ Singapore đến Trung Hoa, các hải cảng được trình bày bao gồm Shahr-I Naw, chỉ kinh đô của Thái tại Lop Buri hay Ayuthaya. Từ ngữ Shahr-I Naw (thành phố mới) sau này được vay mượn bởi các người Âu Châu quen biết với người Ả Rập chẳng hạn như Mendes Pinto, và được tiếp nhập bởi một số người vẽ bản đồ (xem Hình 80). Xa hơn đó, dọc theo bờ biển phía đông của Đông Dương, các nhà hàng hải thường hay ghé lại Champa (Shanba), và hải cảng Kiao-Chi (Giao Chi?) tại An Nam.” …[hết trích]

*****

Phụ Lục 7
Xứ Chàm
Trong bản đồ giữa thế kỷ thứ mười hai
của Sharif al-Idrisi
(các trang 56-57, và trang 52)

(Các trang 56-57) [Bắt đầu trích dịch] “Công trình của nhà địa dư Sicilian, [Sharif ] al-Idrisi trong thế kỷ thứ mười hai là quan điểm xưa nhất còn tồn tại của Ả Rập về Đông Nam Á. Tập bản đồ của Al-Idrisi được chia thành một bản đồ thế giới (Hình 27) và bảy mươi bản đồ cấp miền, trong đó sáu bản đồ bao gồm miền nam và đông nam Á Châu (ghép liền nhau trong Hình 28). Bản đồ của ông là một sự tổng hợp các nguồn tài liệu. Một số các dữ liệu của ông có thể truy tìm ngược lại đến văn bản hồi giữa thế kỷ thứ chín, Akhbar al-Sin, và nhà địa dư học, Ibn Khurđahbih; phần lớn dữ liệu có nguồn gốc từ các nhà địa dư học thuộc giai đoạn nằm ở giữa, và một số là mới, hay ít nhất được giải thích theo cách mới. Các bản đồ trưng bày là từ một bản sao còn tốt của tập bản đồ của al-Idrisi, có niên đại là 960 AH (tức 1553 sau Công Nguyên).

Khối lục địa chạy dọc bên trên cùng (hướng nam) là Phi Châu, mà al-Idrisi, bị ảnh hưởng bởi các nhà địa dư học trước đó, uốn mình chung quanh một giải đất mà Ptolemy tin rằng đã nối liền Đông Nam Á với Phi Châu (xem bản đồ thế giới của al-Idrisi, Hình 27). Khái niệm này, một sự nhượng bộ ngoạn mục của các nhà địa dư học Ả Rập đối với Ptolemy, có nhiều ảnh hưởng, được nhận thấy trong các nguồn tài liệu Tây Phương chẳng hạn như bản đồ thế giới mappamundi năm 1320 của Sanudo (Hình 3). Nhưng trái với Ptolemy, al-Idrisi đi theo sự đồng thuận áp đảo của Ả Rập trong việc để mở ngỏ bờ phía đông (tay trái) của Ấn Độ Dương .

Hình 27: Bản đồ thế giới của al-Idrisi, giữa thế kỷ thứ mười hai, một bản sao đề niên đại 960AH (1553 sau Công Nguyên). Định hướng với phía nam ở trên cùng, Phi Châu bọc quanh phía nam Ấn Độ Dương,. Nhan đề tiếng Ả Rập của địa đồ của al-Idrisi được phiên dịch là “The Recreation for Him Who Wishes to Travel Through The Countries: Bản Sao Vẽ Lại Dành Cho Ngài Là Kẻ Mong Ước Du Hành Xuyên Qua Các Nước” (đường kính khoảng 25 cm) [Bodleian Library, Oxford, ms. Poc. 375]

***

Hình 28: Đông Nam Á, trong tập bản đồ của al-Idrisi, giữa thế kỷ thứ mười hai, theo một bản sao có niên đại 960 AH (1553 Sau Công Nguyên). Sáu trang của tập bản đồ được xếp liền nhau trong hình này; hướng nam là ở trên cùng. (Mỗi tờ khoảng 21 x 30.5 cm) [Bodleian Library, Oxford, ms. Poc. 375, fol. 33v-34r, 38v-39r, 42v-43r, 77v-78r81v-82r, 84v-85r]

Quần đảo phía cực đông nam (bên trên, tay trái) bao gồm các hòn đảo của Waq-Waq, một vùng đất màu mè với đầy vàng và cây cối cùng nhiều đàn thiếu nữ. Các đảo này nằm ở biển ngoài khơi Trung Hoa, chính là bờ biển của lục địa nằm bên dưới. Về phía trái của mỏm lục địa tọa lạc quần đảo Sila, được xác định là Hàn Quốc. Nhảy sang bên trên, tay phải (phía tây), một hòn đảo hình tròn rộng lớn trong góc là Tích Lan (Ceylon), và đảo bằng phẳng, rộng lớn gần lục địa ở phía bên dưới, tay trái (đông bắc) của Tích Lan là Ramni, một vương quốc của Sumatra mà đôi khi đã được dùng để gọi tên hòn đảo. Nhiều đảo “Java” nhỏ khác nhau nằm ở phía đông (tay trái) của Ramni, gồm cả Salahit, đã được thăm viếng bởi Sindbad và có thể là một phần của Sumatra, cùng với Harang, một trong các điểm xuất phát đến các Hòn Đảo Gia Vị và có thể là một bộ phận của Sumatra hay Java. Sanf, tức xứ Chàm ở Đông Dương, là hòn đảo nằm ngay giữa phía đông của Ramni và miền lục địa. Trong số các thành phố duyên hải của lục địa gần bờ phía đông của Ramni là Cattigara, một thị trường ghi nhận bởi Ptolemy mà địa điểm đã được hăng hái đi tìm trong suốt thời Phục Hưng (Renaissance).

Giờ đây chúng ta tiến tới đảo dài, nổi tiếng hẹp bề ngang vốn chế ngự Ấn Độ Dương, al-Idrisi xác định đảo này là al-Qumr, tức Madagascar, hòn đảo nằm ở vị trí “xác thực” của nó ngoài khơi bờ biển Phi Châu hoang dại bị châm định sai lạc. Al-Idrisi ghi nhận cùng đảo này còn được gọi là Mala‘i. Danh xưng này có thể để chỉ một địa danh trên đảo Madagascar, hay để chỉ Malayu của các nhà địa dư Ả Rập khác, là một phần của Malaya (Mã Lai) hay Sumatra. Ngoài ra, một trong các địa phương trên hòn đảo rộng lớn là Qmar, tức Căm Bốt (hay Khmer). Chính vì thế, hòn đảo có thể vừa là Madagascar lẫn một phần của vùng lục địa Đông Nam Á và Sumatra.

Xứ Chàm (Sanf) bị trình bày sai lạc như một hòn đảo bởi vì ít điều được hay biết về nó ngoại trừ việc nó là một cảng dừng chân trên đường đến Trung Hoa. Một thí dụ rõ rệt hơn về các cạm bẫy của việc vẽ các vùng đất dựa trên các sự tham khảo bản văn không chính xác có thể được nhận thấy nơi ba quần đảo ngoài khơi phía đông “Madagascar”. Chúng là Ma‘id, một đảo lớn nằm giữa “Madagascar” và lục địa, phân cách đồng đều giữa các mảnh bản đồ bên trên tay trái với bên trên, ở giữa; Muja, một trong những hòn đảo ngoài khơi bờ biển đông nam của “Madagascar”; và Qamrun, nhóm năm đảo nhỏ bị kẹp giữa “Madagascar” và bờ biển Phi Châu trong bản đồ của Ptolemy. Cả ba địa điểm này đều được mô tả trong văn bản hồi giữa thế kỷ thứ chín, quyển Akhbar al-Sin, là nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, điều mà al-Idrisi đã giải thích có nghĩa rằng chúng nằm trên hải trình giữa hai nước. Trong thực tế, chúng nằm trên lộ trình đường bộ: Qamrun là Assam, trong nlhi Ma‘id và Muja là các vương quốc nằm dọc biên giới giữa Miến Điện và Vân Nam. [hết trích]

***

(trang 52) [bắt đầu trích dịch] Xứ Chàm được trình bày trong nhiều văn bản, khi nói đến vương quốc Sanf. Nó được nói nằm trên hải lộ đến Trung Hoa nằm giữa Qmar (Khmer, tức Căm Bốt) và Luqin (Lung-p’ien: Long Biên [tức Hà Nội, chú của người dịch], một hải cảng ở cửa sông Hồng). Tác giả Akhbar al-Sin wa ‘l-Hind (khoảng 850) ghi nhận số xuất cảng của vương quốc này về gỗ trầm hương (aloeswood), và rằng các người đi biển trên đường đến Trung Hoa kế đó dừng chân tại một hòn đảo có nước ngọt được gọi là Sundur Fulat (một cách hợp lý, là đảo Hải Nam, nhưng có thể là Pulo Condore (đảo Côn Sơn). [hết trích]

*****

Phụ Lục 8
Xứ Chàm Trong Bản Đồ Năm 1522 Của Lorenz Fries
(các trang 118-119)

[Bắt đầu trích] Bản đồ mới khác của vùng Đông Á mà Fries đã bổ túc vào tập bản đồ của Waldseemuller có tên là Tabula Superioris Indiae et Tartariae Majoris (Map of Upper India and Greater Tartary). Giống như bản đồ trước, nó được dựa hoặc trên bản đồ thế giới hình trái tim (cordiform) của Waldseemuller năm 1507, hay trên các bản đồ cấp miền liên hệ của Waldseemuller không còn tồn tại nữa.

Trong dịp này, Fries trình bày tất cả Trung Hoa, Tartary, Nhật Bản và Đông Nam Á nằm ở phía bắc của đường xích đạo. Thực sự, tất cả vùng Đông Nam Á đều nằm bên trên đường xích đạo ngoại trừ phần lớn Quần Đảo Indonesia, nhưng khung vẽ trên đó Fries phác thảo – nền tảng mà ông đã thừa hưởng từ Martellus và các vết tích của khuôn mẫu Mũi Đất Vĩ Đại – đã đẩy tất cả miền đất Đông Nam Á được tường thuật bởi Marco Polo, ngoại trừ xứ Chàm (Việt Nam), xuống nam bán cầu.

Địa Hạt Vĩ Đại Chàm (The Great Province of Champa: Cianba Provicial Magna [trên bản đồ trong Hình 63 dưới đây, chú của người dịch] được tượng trưng bởi hình vẽ vị vua ngồi trên ngai của xứ này, kẻ gây ngạc nhiên cho người Âu Châu về số đông đảo các bà vợ, con cái và đàn voi của ông, cùng sự phong phú về gỗ mun và trầm hương trong các khu rừng của ông. Bên dưới Champa là tỉnh hạt Bocat, mà như chúng ta nhìn thấy trong bản đồ của Ruysch, chính là Căm Bốt (Cambodia) (boja có nghĩa là “xứ sở: country) trong tiếng Pali, Bocat = Cambocati). 179

Giáp phía đông của Cambodia là Hồ Nước Xiêng Mai (Lake Chiang Mai) (Lamia Lacq), suối nguồn theo truyền thuyết của các con sông chính của Đông Nam Á và địa điểm thuận lợi cho sự thành lập Chiang Mai. Ở phía tây có tọa lạc một số địa danh trong danh pháp Ấn Độ của Polo và “Vịnh Vĩ Đại: Great Gulf” của Ptolemy. Ở góc bên dưới, phía tay trái là vùng Malaya/Indochina nguyên thủy, “chính xác (correct)”của Ptolemy, đuợc bỏ trống dành chỗ cho danh pháp Đông Nam Á bởi các nhà vẽ địa đồ tán đồng về một bán đảo mới được sáng chế ra từ dấu vết của cầu đất Phi-Á châu (Africa-Asia land bridge) của Ptolemy…” [hết trích]

Hình 63: Trung Hoa và Nhật Bản, Lorenz Fries, 1522 (28.8 x 45.2 cm) [Roderick M. Baron]

*****

Phụ Lục 9
Trịnh Hòa Và Tập Bản Đồ Wubei-zhi
(các trang 48-49)

[Bắt đầu trích dịch] Trịnh Hòa, tuy thế, đã thu đạt sự thành công đáng kể trong việc khai thông Trung Hoa đến phần lớn vùng nam Á Châu và các phần của miền đông Phi Châu. Trong những năm 1405 và 1433 – một cách mỉa mai, vào đúng thời kỳ mà Bồ Đào Nha khởi sự dương oai và tiến bước xa hơn quanh Phi Châu – nhà hàng hải Trung Hoa này, kẻ trở nên nổi tiếng là “thái giám tam bảo[?] (three-jewel ennuch), đã cầm đầu bẩy cuộc viễn thám đến các biển miền nam, đi theo bờ biển Đông Nam Á vào Ấn Độ Dương, và dọc theo bờ biển phía đông của Phi Châu, có thể đã vươn mãi tới Đảo Kerguelen tại miền nam Ấn Độ Dương. Quy mô của các cuộc mạo hiểm này thật dị thường. Cuộc thám hiểm đầu tiên được khoa trương gồm 62 chiếc thuyền lớn, 225 thuyền nhỏ hơn, và một thủy thủ đoàn gồm 27,000 người; nó đã đến các bờ biển Sumatra trong lượt đi, và Xiêm La cùng Java trong lượt về. Tính đến cuộc hành trình thứ bẩy, Trịnh Hòa đã dành đạt cho Trung Hoa các quan hệ thương mại và ngoại giao với 35 nước tại Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, và miền đông Phi Châu. Fra Mauro, trong bản đồ thế giới năm 1459 của ông, ghi chép các thuyền buồm hải quân Trung Hoa ngoài khơi bờ biển phía đông của Phi Châu – có thể là các thuyền của Trịnh Hòa – rút ra từ các nguồn tài liệu Ả Rập.

Một bản đồ dựa trên các cuộc du hành của Trịnh Hòa (Hình 23) được tìm thấy trong một ấn phẩm có nhan đê Wubei-zhi (Treatise on Military Preparations: Vũ Bị chí [?]”, được hoàn thành bởi Mao Yuanji vào khoảng 1621 (niên kỳ của lời đề tựa quyển sách), và đệ trình lên nhà vua năm 1628. Tác giả họ Mao đã không nêu nguồn tài liệu của bản đồ, nhưng không có mấy thắc mắc rằng nó đã dựa sâu rộng trên các cuộc du hành của họ Trịnh. “Các bản đồ của ông ta,” họ Mao cho hay, “ghi chép một cách cẩn thận và chính xác các khoảng cách của lộ trình và các quốc gia khác nhau và tôi đã gộp chúng để bảo truyền tin tức cho hậu thê” và như một sự ghi nhớ (momento) các thành tích quân sự cvủa ông,” 80 Chúng ta biết được từ văn bản của tập Khảo Luận rằng các bản đồ và tin tức đã được thu thập trước mỗi cuộc hành trình của Trịnh Hòa, và rằng các bản đồ đã được so sánh và điều chỉnh cho chính xác các số đo khoảng cách của la bàn và các ngôi sao hướng dẫn, với các bản sao bao gồm các bản vẽ về cấu hình của các đảo, các hải phận, và lãnh thổ.” Tuy nhiên, bản đồ, như nó còn tồn tại, rõ ràng đã được xây dựng một phần từ các nguồn văn bản.

Nguyên thủy, bản đồ Wubei-zhi có thể là một mảnh duy nhất, dài, được giữ như một cuộn giấy, mặc dù để đóng thành sách, nó đã được cắt chia thành một loạt các tấm giải dài ra. Một hậu quả của hình thức giải dài hẹp (bất luận thành cuộn hay được phân làm nhiều khúc) là sự định hướng không được nhất quán. Ngoài ra, tỷ lệ xích được kéo dài ra hay ép ngắn lại tùy theo khối lượng chi tiết được bao gồm trong một phần cá biệt. Thí dụ, khu vực duyên hải nguy hiểm và lộn xộn của Singapore được vẽ theo tỷ lệ lớn gấp ba lần tỷ lệ của bờ biển phía đông của Mã Lai và gấp hai lần rưỡi tỷ lệ của bờ biển phía tây. 82

Bản đồ bao gồm các chỉ thị lái buồm mà các học giả hiện đại nhận thấy khá chính xác. 83 Lái thuyền từ Malacca và Eo Biển Singapore theo trục tây sang đông, tập chỉ dẫn lái thuyền cho hay rằng (dùng các số đo khoảng cách la bàn hiện đại)

Để đến Quần Đảo Aroa, định hướng đi ở 120o và sau đó 110o, sau 3 canh (watches) thuyền đến sát [South Sands: Nam Sa]. Định hướng đi ở 115o và sau đó 120o trong 3 canh, thuyền đến sát [đảo Cotton]. Sau 10 canh đi theo hướng 130o, thuyền đến sát cạnh [Malacca]. Định lại buồm từ Malacca theo hướng 130o, sau 5 canh thuyền đến sát cạnh [Gunong Banang]; sau 3 canh theo hướng 130o thuyền đến sát cạnh [Pulau Pisang] … 84

Từ Pulau Pisang, chạy theo hướng 135o đưa chúng đến Karimun, và từ đó, 5 canh theo hướng 115o và sau đó 120o và thuyền đến Blakang Mati, đi xuyên qua Eo Biển Răng Rồng (Dragon-Teeth Strait). Với 5 canh ở 85o, thuyền sau đó đến Pedra Branca (Pulau Batu Puteh), sau khi đi qua Pedra Branca, định hướng đi theo 25o và sau đó 15o trong 5 canh, mang thuyền đến sát ”Núi Tre Đông: East Bamboo Mountain”, một trong hai đỉnh cao của Pulau Aur. Sau cùng, định hướng đi ở 350o và sau đó 15o, thuyền đi ngang bên ngoài đảo Pulau Condor (đảo Côn Sơn).

Đế quốc thương mại chớm nở mở đường bởi Trịnh Hòa bị yểu tử. Sau sự băng hà của vị hoàng đế bảo trợ ông ta, vua Yong-lo (Vĩnh Lạc), và sự từ trần của chính Trịnh Hòa một thập niên sau đó, các nhà cầm quyền Trung Hoa đã bác bỏ bất kỳ cuộc đột kích nào khác vào vùng các biển phía nam. Thương mại trong cuộc mậu dịch ở Ấn Độ Dương một lần nữa bị bỏ lại cho các mạng lưới của các nhà mậu dịch Hồi Giáo và Đông Nam Á vào ngay ttrước khi có sự xâm nhập của Bồ Đào Nha vào các hải phận phía đông…[hết trích]

Hình 23: Phần trong Bản Đồ của Wubei-zhi bao gồm Đông Nam Á, 1621

[Cảm tạ hảo ý của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Washington D. C., E701.M32.1]


*****

Phụ Lục 10
Số Phận Của Cattigara và Mũi Đất Vĩ Đại Của Ptolemy–
Cattigara có thể là Hà Nội?
[tiểu đề in nghiêng bên trên là của người dịch]


(các trang 90-92)

[Bắt đầu trích dịch] Sự đồng hóa của các nhà vẽ bản đồ tiểu lục địa mới khai sinh từ “Mũi Đất Vĩ Đại” (Great Promomtory) của Ptolemy với sự thay đổi mau chóng quan điểm về Đông Nam Á đã xảy ra bởi các cuộc du hành khám phá liên tiếp có thể được dõi tìm qua việc lần mò theo lịch sử của thị trường miền nam lớn lao của nó, Cattigara. Ptolemy đã tạo ra một chuyện rắc rối về địa điểm chính xác của Cattigara, nơi mà ông cố gắng để xác định dựa trên sự tường thuật một chuyên du hành bởi người lái tàu, Alexander, như được kể lại bởi Marinus ở Tyre. Alexander được nghĩ đã rời Bán Đảo Vàng (Bán Đảo Mã Lai) và lái thuyền trong hai mươi ngày đến Zaba, một địa điểm được tìm thấy trên các bản vẽ phác theo Ptolemy điển hình (thí dụ các Hình 32 và 43) như là một mũi đất phía đông của Mã Lai, nơi mà một số các nhà quan sát thế kỷ thứ mười sáu, chẳng hạn như Barros, tin là Singapore, nhưng phần lớn các sử gia hiện đại tin là nó tọa lạc ở Đông Dương. Từ Zaba, ông tới Cattigara bằng cách lái thuyền “theo hướng nam và tiến sang phía trái” (tức phía đông) trong một thời khoảng được trình bày bởi Alexander là “một số ngày (some days),” bị tái giải thích bởi Marinus có nghĩa “nhiều” (many) ngày, và sau đó được tái lượng định một lần nữa bởi Ptolemy. Hành trình từ “kinh đô Sina” (China: Trung Hoa) đển cửa ngõ của Cattigara” chạy, theo Ptolemy, theo hướng tây nam, trong khi Marinus tường thuật rằng các kinh tuyến của chúng trùng với nhau. Ptolemy đã cố gắng xác định tọa độ chính xác của Cattigara xuyên qua một toan tính (nó vô tình như thế) hoàn toàn khôi hài để suy đoán một sự phỏng định chính xác từ các “dữ liệu” phi-hiện hữu trong các từ ngữ “một số; some” và “nhiều: many”. Phán quyết chung thẩm của ông về địa điểm của thị trường miền nam chủ yếu này của Mũi Đất Vĩ Đại rằng nó nằm ở 177o đông Quần Đảo Canary, và 8o 30’ nam đường xích đạo.

Sự chuyển biến về phép vẽ bản đồ vùng “Mũi Đất Vĩ Đại” trong các bản đồ thế kỷ thứ mười sáu có thể được tóm lược thành ba giai đoạn:

1. Bản đồ thế giới của Martellus (khoảng 1489) xóa bỏ phần nửa phía tây cầu bằng đất liền của Ptolemy, nhưng giữ lại Cattigara trên bán đảo Đông Nam Á phát sinh. (Muốn có một thí dụ hơi sau hơn một chút cho sự kiện này, xem Bán Đảo Mã Lai trong bản đồ thế giới của Waldseemuller năm 1507, Hình 45; Cattigara là thành phố trên cao tột cùng được nhìn thấy trên bán đảo). Rất có thể, họa đồ này được dựa trên các mẫu trước đó, nay không còn tồn tại nữa (có thể, thí dụ, một bản đồ được nghĩ sở đắc bởi một người con trai Ông Hoàng Prince Henry trong năm 1428; xem trang 95, bên dưới).

2. Tuy nhiên, một số các nhà địa dư học, có quan điểm rằng tiểu lục địa Đông Nam Á mới trong thực tế là Mỹ Châu. Bản đồ phác thảo bởi Alessandro Zorzi và Bartolomeo Columbus (anh em của Christopher) (1506?/1522, Hình 51), thích ứng cầu đất liền cũ cho chức năng của vùng Trung Mỹ Châu. Tin rằng Cattigara sẽ được tìm thấy trên mũi đất, và biết rằng Ptolemy đã chấm định nó bên dưới khá xa đường xích đạo, họ đã vì thế nới dài Trung Mỹ Châu xuống sâu miền nam. Oronce Fine (1531 và 1534; các hình 52 và 71) cũng quyết định rằng phần mà Ptolemy gọi là Mũi Đất Vĩ Đại trong thực tế chính là Tân Thế Giới – sự phác họa Mỹ Châu của ông khá hơn nhiều so với bản đồ của Zorzi, và Cattigara giờ đây nằm “một cách xác đáng” tại Nam Mỹ Châu.

3. Sebastian Munster đã hoàn tất sự chuyển tiếp, như có thể được nhìn thấy trên các bản đồ của ông về Á Châu và Mỹ Châu năm 1540 (Hình 72). Munster vẽ Bắc và Nam Mỹ Châu là một châu lục độc lập, hoàn toàn tách biệt ra khỏi Á Châu, nhưng đã giữ lai Cattigara tại vĩ độ “chính xác’ của nó trên bờ biển Péru. Giải pháp cấp tiến của Munster cho câu đố về Cattigara là kết luận hợp lý cho một nửa thế kỷ thích ứng hóa “Mũi Đất Vĩ Đại” của Ptolemy đối với các khám phá mới của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Hơn nữa, một số bản đồ hải hành vẽ bờ biển và hải cảng xác thực đã loại bỏ hoàn toàn mũi đất cũ và chấm định Cattigara trên một hòn đảo ở vùng Đông Ấn Độ. Nhà vẽ bản đồ ở Genoa [thuộc Ý Đại lợi], Battista Agnese (Hình 47), làm việc tại Venice hồi giữa thế kỷ thứ mười sáu, đã xác định Biển Nam Hải (South China Sea) của mình với Vịnh Vĩ Đại (Great Gulf) của Ptolemy, và kết quả đã chấm định Cattigara của ông tại quân đảo Moluccas, đôi khi như một dải đất không rõ rệt, ở các lúc khác (như trong Hình 47), như một hòn đảo nhỏ. Đây là một giải pháp nhậy cảm cho câu đố; nó đơn giản lập lại cuộc du hành của Alexander ở vùng Ấn Độ Dương mở ngỏ, và tôn trọng một cách lỏng lẻo lời tuyên bố của Ptolemy rằng Cattigara là một phần của Sinae, hay miền nam Trung Hoa.

Cattigara là nơi nào, và tại sao nó lại quan trọng đến thế? Trong một vài thủ phủ mà Ptolemy đã đặt định trên “Mũi Đất Vĩ Đại”, các nhà vẽ bản đô thời Phục Hưng đều miễn cưỡng nhiều nhất trong việc loại bỏ Cattigara bởi vì ý nghĩa đã được quy cho nó trong tập Geographia như một thị trường quan trọng đánh dấu mũi đông nam xa nhất tại thế giới hay biết được.

Trạm trung chuyển ở vị trí chiến lược này của Cattigara được đặc biệt truy lùng bởi các kẻ tiền phong Âu Châu tại Đông Nam Á. Một người là ông Magellan, đã hy vọng đến đó sau khi băng ngang qua Thái Bình Dương. Nhưng một số nhà quan sát ban đầu đã sớm suy luận rằng Cattigara phải nằm xa hơn về phía bắc nhiều hơn tọa độ của Ptolemy cho hay. Antonio Pigafetta, ghi chép đường đi của đoàn thuyền của Magellan băng ngang Thái Bình Dương, đã giải thích rằng:

Chúng tôi đã đổi đường đi theo hướng tây nam, hầu chúng tôi có thể tiến gần đến Mũi Cattigara, nhưng mùi đất đó, với sự xá tội cho các nhà vẽ bản đồ vũ trụ, bởi họ chưa nhìn thấy nó, đã không được tìm thấy nơi mà nó được tưởng tượng ở đó.

Maximilian của vùng Transylvania, kẻ ghi chép theo niên lịch hành trình của Magellan từ các cuộc phỏng vấn với những người còn sống sót, cũng đã ghi nhận tương tự rằng khi họ tới được Moluccas, “các người Tây Ban Nha … đã đồng ý rằng [thuyền Victoria] hẳn đã phải được lái đến mũi Cattigara.” Tuy nhiên, “mặc dù họ đi xa mãi đến 12o nam, họ đã không tìm thấy Cattigara mà Ptolemy xem là nằm phía nam khá sâu của đường xích đạo.” 131 Peter Martyr ám chỉ rằng đã có sự không chính xác trong các con số của Ptolemy khiến cho thủy thủ đoàn của Magellan không tìm thấy Cattigara. Martyr viết rằng mặc dù Magellan đã có chủ định “tối đa để tiến tới mũi mà các tác giả cổ xưa gọi là Cattigara”, địa điểm địa dư này “không được tìm thấy như các nhà vẽ bản đồ vũ trụ cổ xưa đã mô tả về nó, nhưng nó nằm theo hướng bắc xii độ như họ biết được sau này.” 132

Trong các lý thuyết khác nhau khi đó được lưu hành liên quan đến câu đố về Cattigara, sự đáp ứng của Peter Martyr tương ứng gần nhất với các sự thẩm định hiện đại. Các học giả một cách tổng quát đồng ý rằng Cattigara thực sự hoặc là nằm dọc theo Châu Thổ sông Hồng, gần nơi giờ đây là Hà Nội, hay nếu không, nó nằm ở phần cực nam của Trung Hoa, Thành Phố Quảng Châu hay Zaiton trong thời đại đó. Cattigara cũng được xác minh với Phù Nam, vương quốc cổ xưa then chốt quanh miền nam Việt Nam và Châu Thổ sông Mekong, đã thịnh đạt vào lúc mà tập Geographia được biên soạn vào khoảng năm 150 sau Công Nguyên.

Mặc dù sự khám phá đã khiến cho tập Geographia của Ptolemy trở thành một vấn đề chỉ dành cho sự tò mò về học thuật vào khoảng đầu thế kỷ thứ mười sáu, hiện vẫn còn một khuynh hướng ngoan cố cố gắng cải chính và biện luận cho các giáo điều căn bản của nó. Các ấn bản mới của tác phẩm vẫn thường diễn ra cho tới chính những năm cuối cùng của thế kỷ thứ mười sáu, và tiếp tục được ấn hành, mặc dù ít thường xuyên hơn, mãi cho đến thế kỷ thứ mười tám. Cho đến tận khoảng năm 1786 người ta tìm thấy một bản đồ bao gồm trong quyển Philosophical Transactions vẫn còn cố giải thích phù hợp với sự bí ẩn về Cattigara, về Vịnh Biển Vĩ Đại (Great Bay) và về các từ ngữ định mệnh “một số: some” đối với “nhiều: many” được trích dẫn bởi Alexander và Marinus. Theo một lời ghi chú dài giòng đi kèm theo bản đồ này, chính “sự khó khăn của việc tăng gấp đôi Mũi Xiêm La (Cape Siam) trong khi lái thuyền ra khỏi vịnh” đã phải chịu trách nhiệm về “tin tức thiếu đồng nhất mà Ptolemy đã nhận được”, và điều này cũng “là Nguyên Nhân Chính cho sự Thay Đổi Ý Kiến của ông liên quan đến thời lượng thích đáng dành cho Từ Ngữ “Một Số: Some”. Các tác giả của bản đồ này tin tưởng rằng “Vịnh Biển Vĩ Đại” của Ptolemy là Vịnh Xiêm La (Gulf of Siam), và Vịnh Sinae, tức Sinarum Sinus (“China Gulf: Vịnh Trung Hoa) theo tên gọi của Ptolemy, là vũng ăn sâu hơn gấp đôi một chút vào miền đông nam của Chantanburi ở đông nam Thái Lan. Cattigara khó hiểu, trong lược đồ các sự sắp xếp này, được nói nằm ở 3o tây của Thành Phố “Cambodia City” (Phnom Penh hay Lovek).

Hình 45: Bán Đảo Mã Lai, từ bản đồ thế giới của Martin Waldseemuller, 1507 (từ một bản sao). Các phần của hai trong mười hai tờ của bản đồ khắc trên gỗ được trình bày nơi đây (Toàn thể bản đồ có kích thước 132 x 236 cm)

***
Hình 46: Bản đồ thế giới với bắc cực là tâm điểm phóng dọi ra, Peter Apianus, 1524. Bản đồ là một phần của một bàn xoay tròn (volvelle), trên đó di chuyển các mảnh giấy, nối với trục ở giữa bằng một sợi chỉ, xoay quanh bản đồ để thực hiện các phép tính khác nhau. (đường kính 11 cm)

***
Hình 47: Bản đồ thế giới của Battista Agnese, khoảng 1544, ghi lại lộ trình của chuyến đi vòng quanh của Magellan. Hòn đảo ở phía bên dưới tay trái của đầu (thổi) gió (wind head) ở vị thế đồng hồ chỉ 3 giờ được xác định là Cattigara. Bất kể sự hình dung tiên tiến của Agnese về Đông Nam Á và Mỹ Châu, ông chiếu theo Ptolemy trong việc đảo ngược các tỷ lệ tương đối của tiểu lục địa Ấn Độ và Tích Lan (Bản vẽ tay trên da (hay giấy) mịn vellum, khoảng 16 x 23 cm) (Thư Viện Quốc Hội [Hoa Kỳ]).

*****

Phụ Lục 11
Đảo Côn Sơn
(trang 106)

[Bắt đầu trích dịch] Marco Polo, người mà chúng ta giã từ ở xứ Chàm, đã không làm cuộc du hành giữa Java và lục địa, và đã không đề cập đến bất kỳ vùng biển tĩnh lặng nào. Rời xứ Chàm và lái thuyền bẩy trăm dặm theo hướng nam tây nam, Polo đi ngang qua hai đảo không có người cư ngụ, đảo Sodur và Candur của Ruysch (Bản văn của Polo để cho ông rời từ “Java” thay vì xứ” Chàm”, nhưng điều được đồng ý chung rằng đây là một sự nhầm lẫn). Những đảo này thuộc vào nhóm đảo Condore (Côn Sơn), một tập hợp các đảo nhỏ nằm ngoài khơi mỏm đông nam của Việt Nam, về phía đông nam của Châu Thổ sông Cửu Long (trong tiếng Mã Lai, pulau = đảo, kundur = trái bầu). Pulo Condore là một điểm chuẩn quan trọng và nơi dừng chân cho các kẻ hướng đạo hướng dẫn các chiếc thuyền của họ giữa Đông Nam Á và Trung Hoa. 156 Mặc dù Polo báo cáo rằng không có ai sinh sống trên Condore, đảo chính của nhóm sau này đã được định cư; thí dụ, William Dampier có đưa ra một sự mô tả dân chúng của đảo khi ông thăm viếng Côn Đảo bốn thế kỷ sau đó. [hết trích dịch]

Cũng xem thêm đoạn hai, trong phụ lục về Đông Dương dưới đây.

*****

Phụ Lục 12
Đông Dương
(trang 111)

[Bắt đầu trích dịch] … Đông Dương được mô tả sơ sài trên bản đồ năm 1513 của Waldseemuller và trên tất cả bản đồ dựa theo Cantino như một bán đảo nhỏ, nhọn ở góc đông bắc của bán đảo chính, với từ ngữ fulicandora để chỉ bán đảo hay mũi của nó (fulucandoia trên bản đồ của Waldseemuller). Từ ngữ fulucandora có lẽ phát sinh từ đảo Condore (Côn Sơn) nằm ngoài khơi Châu Thổ sông Mekong. 166 “Fulu” là cách đọc sai của từ “pulu”, sự sử dụng mẫu tự “f” cho mẫu tự “p” là một sự sai lầm thường xảy ra bởi không có các phụ âm p, q, ch và v của Anh ngữ trong tiếng Ả Rập. Các ngữ căn của từ fulucandoia có lẽ được nhìn thấy rõ hơn trên bản đồ của Ramusio năm 1554 (Hình 74), nơi mà một dấu vết của Đông Dương của Cantino đã được hình dung như một mũi đất khác tại Đông Dương được ghi là capo pulocanpola – “cape pulo Condore”.

Pulo Condore cũng là nguyên ủy của các hòn đảo nằm ngay bên ngoài bản đồ năm 1515 về bán đảo Đông Dưuơng, được gọi là y das Baixos (“đảo của các baixos”, baixos là một từ ngữ tiếng Bồ Đào Nha, để chỉ các bãi cát đá ngầm sẽ xuất hiện khi thủy triều xuống thấp]. Sự tham chiếu của Waldseemuller về “các đảo bãi cát đá ngầm này” được rút ra từ một sự chú giải đi kèm quần đảo Condore trên các bản đồ của Cantino; lời ghi chú như sau, ilha das baixos chamada fullu candor esta a norte em iij pulgadas, “đảo của bãi cát đá ngầm được gọi là Pulo Condore ở bắc ba pulgadas [của đường xích đạo], từ “pulgada” của tiếng Bồ Đào Nha (polegada = phân [Anh] = inch), được dùng thay cho từ isha của tiếng Ả Râp…. [hết trích dịch]

Cũng xem đoạn nói về Đông Dương trong phần cuối của phụ lục về An Nam, bên trên.

Hình 57, Asia, Martin Waldseemuller, 1513. (40 x 51 cm)

*****
Phụ Lục 13
“Bản Đồ Bàn Tay” Vùng Đông Nam Á của Barros, Năm 1552
(trang 123)

[Bắt đầu trích] Các nhà chức trách Bồ Đào Nha còn miễn cưỡng trong việc cho phép các bản dồ và sự mô tả vùng Indies được ấn hành hơn cả các đối nhiệm Tây Ban Nha của họ nữa. Thí dụ, Ramusio, đã ghi nhận trong phần giới thiệu tập I, quyển Navigazioni et Viaggi của ông rằng tác phẩm của Tomé Pires đã không được chấp thuận tại Bồ Đào Nha. Nhưng ngay Tây Ban Nha, chấp nhận sự ấn hành các bản đồ Mỹ Châu trong năm 1511 và 1545, lại không công bố một bản đồ Á Châu quan trọng nào trong thế kỷ thứ mười sáu 192

Chỉ đúng vào lúc mà việc vẽ địa đồ bản địa tại Đông Nam Á dàn trải các khái niệm Âu Châu phổ thông về đúng những gì cấu thành một bản đồ, khi đó các hạn chế của chính phủ và nhu cầu thiết thực của việc mở rộng phương tiện vẽ bản đồ mới được giãn ra.. Joao de Barros (khoảng 1496-1570), một viên chức ở Lisbon am hiểu về mậu dịch đồ gia vị và các sự vụ ở thuộc địa, đã viết một quyển lịch sử về các nỗ lực tại Á Châu của nước ông, quyển Décadas da Asia, đã xuất hiện qua năm tập bắt đầu từ năm 1552. Mặc dù không có bản đồ nào được bao gồm cho đến khi có ấn bản mở rộng sau khi ông chết đi, được công bố tại Madrid năm 1615. Barros đã trình bày cho khối khán thính giả Bồ Đào Nha nguyên thủy năm 1552 một bản đồ không có tính chất xúc phạm về chính trị hay cần bản khắc vẽ, các kỹ năng chưa được phổ thông tại Bồ Đào Nha.

Câu trả lời của Barros là dùng bàn tay con người để tạo ra một bản đồ của Đông Nam Á. Ông chỉ dẫn các khan thính giả của mình hãy chỉ bàn tay trái của họ hướng vào thân hình, lòng bàn tay úp xuống, ngón tay trỏ duỗi thẳng và tách xa khỏi ngón cái, với ba ngón tay còn lại cũng tách biệt với ngón trỏ, ba ngón tay này co lại sao cho phần duỗi ra của chúng chỉ đến khớp đốt [đầu tiên của] ngón tay. Ngón tay cái tượng trưng cho Ấn Độ, ngón tay trỏ cho Mã Lai, và phần thịt nằm giữa hai ngón tay đó là Miến Điện. Ba ngón tay co lại là Đông Dương với hình dáng tự nhiên của chúng tương tự như đường viền theo hướng đông bắc – tây nam đích thực của vùng đất. “Bản đồ bàn tay” của Burros, sử dụng ngay cả các đặc điểm của cảnh trí của bàn tay để chấm định các vương quốc nội địa và các tính chất địa hình, có thể đã là sự trình bày chính xác nhất về Đông Nam Á cung cấp cho công chúng có học thức Bồ Đào Nha. Trong thực tế, nó còn chính xác hơn một số bản đồ đã in ra vẫn còn được lưu hành. Trong bản văn của ông, Barros tham chiếu đến bàn tay trái của độc giả để chấm định Xiêm La, Chiang Mai, ba vương quốc người Lào, xứ Chàm, Căm Bốt, Malacca, các vương quốc Miến Điện ở Arakan, Ava và Pegu, các con sông Mekong và Chao Phraya, và các rặng núi khác nhau.

Người đọc có thể nhận thấy việc chỉ bàn tay về hướng thân thể với lòng bàn tay úp xuống sẽ khó khăn bởi nó đòi hỏi động tác uốn cong khá gắt theo chiều kim đồng hồ các phần khuỷu tay và cổ tay. Trong trường hợp này, bàn tay có thể được định hướng với phia nam ở trên cùng. Giữ ngón tay trỏ và ngón cái vươn thẳng ra, nhưng co ba ngón tay về phía trái (hướng đông) . Trong thí dụ này, ngón cái là Ấn Độ với khoảng trống rộng bên phía trái của nó là Vịnh Bengal và phần thịt của bàn tay cấu thành các vương quốc khác nhau của Miến Điện. Ngón tay trỏ là Bán Đảo Mã Lai, với Singapore [trong nguyên bản có thể đã ghi sai là singerpore, chú của người dịch] ở đầu mỏm của nó, khoảng trống giữa ngón tay trỏ và ba ngón tay uốn khum xuống bên phía trái là Vịnh Xiêm La, và kẽ hở được tạo hình khi các ngón tay này tiếp giáp với bàn tay là sông Chao Phraya. Đốt ngón tay của ngón kế tiếp (ngón giữa) là Căm Bốt, đường được tạo thành giữa nó và ngón tay kế bên tay trái là sông Mekong. Đường bờ biển uốn cong của hai ngón còn lại tượng trưng cho Việt Nam, vươn xa lên phía bắc, ở đường nối nơi bàn tay tiếp giáp cổ tay, là Hô Nước Chiang Mai, hồ lớn mà Barros tin là nguồn cội của sáu con sông chính của Đông Nam Á.” [hết trích]

Về phần tiểu sử của Barros, xin phụ lục về nhà đia dư học này bên dưới.

*****
Phụ Lục 14
Vịnh Bắc Việt, đảo Hải Nam, Quần Đảo Hoàng Sa,
và “Biên Trung Hoa: China Sea”
(trang 147)

Vịnh Bắc Việt xuất hiện trong một cung cách khả dĩ nhận biết được lần đầu tiên trên một ấn bản theo bản đồ của Gastaldi năm 1548, với bờ biển phía bắc của nó được chấm định chính xác ở 210 bắc và Bán Đảo Lôi Châu (Leithou Penisula) (không được ghi danh) tạo thành một cách xác thực các giới hạn phía đông bắc của nó. Vẫn chưa có bất kỳ dấu vết gì về đảo Hải Nam. Ramusio đã đỡ đầu khai sinh hòn đảo đó sáu năm sau, đề cập đến hòn đảo là Aliosar, mặc dù danh xưng hiện đại Aynam vốn đã được trưng dẫn bởi Pires năm 1515. Mercator đã giới thiệu danh xưng chính xác của hòn đảo trên bản đồ thế giới của ông năm 1596 (Hình 76), sử dụng cùng cách đánh vần của Pires.

Một nhóm đảo khác khai sinh từ bàn tay của nhà vẽ bản đồ Ramusio là Quần Đảo Hoàng Sa (Paracels), được chỉ như một giải cát với lời ghi chú Canali donde Vengono gli liquij. [Hình 74, chú của người dịch] Lời ghi chú của Ramusio về Quần Đảo Hoàng Sa được giải thích rõ ràng hơn bởi Gastaldi trong năm 1561, người đã xác định chúng là “Canalli dove passapo i chini per andarea palohan, et a boru” (tuyến đường biển xuyên qua đó, người Trung Hoa đi qua để đến Palawan và Borneo”). [Hình 75, chú của người dịch]

Bản đồ Gastaldi năm 1548, có vùng đảo bị thu nhỏ hơn bản đồ của Ramusio hay bản đồ Gastaldi năm 1561, đặt cho phía tây Thái Bình Dương một danh từ tổng quát Provincia di Maluco, “Tỉnh Molucca”, để vinh danh các nơi cất trữ đồ gia vị (Spiceries). Đối với Ramusio và Gastaldi (1561), biển nơi mà các hòn đảo này tọa lạc giờ đây được gọi là Biển Trung Hoa (China Sea = Mare de la China). Ý tưởng của Âu Châu về “Biển Trung Hoa: Sea of China” có niên đại trở lùi ít nhất từ thời Marco Polo , hơn hai thế kỷ trước đó. Pigafetta, gần phần kết thúc quyển biên niên của ông, khi ông ta phần lớn chỉ lập lại các báo cáo nghe thuật lại (second hand reports), lưu ý rằng “đi quá Đảo Java Lớn Hơn (Greater Java), hướng lên phía bắc, có một vịnh Trung Hoa được gọi là Sino Grand.” Từ ngữ sino có tính chất then chốt ở đây. Nó có đến bắt nguồn từ từ ngữ La Tinh sinus hay từ tiếng Bồ Đào Nha, seno, có nghĩa, vịnh (gulf), khiến cho danh xưng Sino Grand của Pigafetta để chỉ “Great Gulf: Vịnh Vĩ Đại” cổ xưa của Ptolemy (như trong thực tế Gastaldi đã đặt tên biển này trong năm 1548 bằng danh xưng đã Ý-Đại-Lợi-hóa của ông, Golpho Grande). Một cách khác, sino cũng có thể để chỉ “China: Trung Hoa”. Trong khi Gastaldi (1548) hiểu sino như là “gulf: vịnh: sinus”, Ramusio hiểu nó như là “Trung Hoa: China”, gần như đã chuyển vị từ Vịnh Vĩ Đại (Great Gulf) cổ xưa sang thành Biển Trung Hoa hiện đại qua sự trùng hợp về ngữ học.

Hình 74: Đông Nam Á, G. B. Ramusio. Nguyên thủy được ấn hành bằng bản khắc gỗ trong năm 1554, hình trên đây là từ bản khắc trên đồng năm 1563 (27.4 x 37.3 cm)

***
Hình 75: Đông Nam Á, Girolamo Olgiato, khoảng 1570. Đây là bản khắc lại bản đồ Asia của Gastaldi năm 1561, và tờ vẽ phần phía nam được ráp thêm vào bởi Fornali khoảng năm 1565. [Richard B. Arkwa].

*****
(Còn nữa…)

Nguồn: Thomas Suárez, Early Mapping of Southeast Asia, Periplus Editions (HK) Ltd: Singapore, 1999, Chapter 16, The Nineteenth Century and the Mapping of the Interior – Indochina, Burma and Thailand, Transition to the Modern Era, các trang 252-263, và rải rác nhiều nơi trong quyển sách.

Ngô Bắc dịch và phụ chú
18/10/2010
© gio-o.com 2010

 

Ý nghĩa hình tượng các con vật trên kiến trúc đền

Thu Hương

Hình tượng Rồng

Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ǎn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

Hình tượng con Rùa

Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ǎn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

Hình tượng chim Phượng

Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả nǎng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.

Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.

Hình tượng con Hạc

Ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Thu Hương

*****

Hạc đá

congiong12.jpg
rồng đá
congiong12.jpg
rồng đá
rong4.jpg
Hình ảnh
Nghê được đục theo mô tip hoa văn thời Lê
Hình ảnh
Nghê được làm theo mô tip thời Nguyễn
Hình ảnh
Tứ Linh hoa văn thời Nguyễn
Hình ảnh
Hổ phù hoa văn thời Nguyễn
Hình ảnh
Chim Phượng hoa văn thời Nguyễn
Hình ảnh
Hổ Phù hoa văn nóc nhà thời Nguyễn
Hình ảnh
Tứ linh hoa văn trên cốn mê đình chùa hoa văn thời Nguyễn
Hình ảnh
Chim phượng trên cốn mê hoa văn thời Nguyễn
Hình ảnh
Chim Phượng trên Long Đình cỗ kiệu hoa văn thời Lê
Đó là một số hình ảnh Liên Hoa Nguyễn Ngọc Tú xin giới thiệu với bạn đọc là những hoa văn họa tiết thường được trang trí trong các đình chùa miền Bắc Việt Nam nước ta
http://diendan.daitangkinhvietnam.org/viewtopic.php?f=15&t=259

 

Thẻ:

Ông Tà trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ

Hình: Ông Tà được thờ trang trọng trên đỉnh núi Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Xưa nay, trong tâm tưởng của nhiều người, nhất là cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, ông Tà, ông Địa là những vị thần luôn gần gũi, thân thiện và mang lại phúc lành cho họ. Do đó, mỗi khi gặp chuyện rủi ro hoặc làm ăn sa sút họ thường van vái: “Xin ông Tà, ông Địa hộ độ cho tôi tai qua nạn khỏi”.

Ông Tà là ai, ông từ đâu đến và quyền hành ra sao mà được dân gian kính nể và tôn sùng đến thế?

Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, ông Tà có nguồn gốc từ tín ngưỡng của người Khmer và được người Việt thờ ở khắp lục tỉnh Nam kỳ. Đó là vị thần mang tên Neak Ta, có quyền năng cai quản trong phạm vi phum sóc hoặc một khu vực rộng lớn hơn nên bà con ai nấy đều tôn kính. Nhiều người khi đi ngang qua miếu thờ ông Tà đều dở nón, lột khăn, kính cẩn nghiêng mình.

Xưa nay, mỗi dân tộc đều có một sắc thái văn hóa riêng, nhưng trong quá trình cộng cư thường có sự giao thoa văn hóa. Nhiều phong tục, tập quán và tín ngưỡng thường có sự tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Điển hình như tục thờ ông Địa và thần Tài của người Việt hiện nay là xuất phát từ Trung Hoa hoặc ông Tà là của người Khmer.

“Neak” có nghĩa là người nói chung, còn “Ta” là đàn ông đứng tuổi. Hai chữ này họp lại có nghĩa là thần linh*. Nếu như người Khmer thờ các vị thần sông (Neak Ta Prek), thần núi (Neak Ta Phnom), thần rừng (Neak Ta Prey)… thì người Việt và người Hoa thờ ông Địa và thần Tài.

Với đức tin “Hữu thành tắc hữu thần”, thời cổ xưa ông cha ta đã sùng bái nhiều vị thần, trong nhà thì “Sống ở đâu, thổ công ở đó”, ngoài đồng cũng cần một vị thần cai quản ruộng đất, hoa màu là ông Tà. Vì thế, hình tượng ông Tà đã ăn sâu vào tâm thức của nhiều người, nhất là cư dân miệt vườn sông nước.

Khoảng trước năm 1975, ở các vùng quê ngoại thành phố Cần Thơ, hầu như nhà nào cũng có bàn thờ ông Thiên (Thông thiên) và miếu thờ Thổ thần. Ngoài ra, ở một số nơi như đầu vàm, cuối rạch, giữa đồng hoặc bên cạnh gốc đa, gốc dừa, doi đất còn có miếu thờ ông Tà. Miếu chỉ rộng chừng một mét vuông, đủ chất vài cục đá và chiếc lư hương. Có khi ông Tà nằm ngoài mưa gió hoặc thu mình dưới những bọng cây. Hàng năm, bà con đều rước thầy về cúng Thổ thần và bao giờ cũng dành riêng cho ông Tà một mâm rượu thịt. Theo lệ, khi cúng ông Tà, chủ nhà phải ăn trước mỗi món một chút để chứng tỏ thức ăn đó không độc.

Chính những viên đá hình tròn, nhẵn nhụi đặt trong miếu, trên gò đất cao hoặc bên cạnh gốc cây là hình tượng tiêu biểu cho ông Tà. Viên đá lớn được gọi là thần, còn mấy viên nhỏ tượng trưng cho ma quỷ theo hầu.

Có rất nhiều giai thoại thật huyền bí và hấp dẫn về lai lịch và thành tích của ông Tà. Người ta đồn rằng ông Tà được thờ trên bọng cây, nếu đứa trẻ nào đó bướng bỉnh, cắc cớ ném ông xuống ruộng, nhất định vài hôm sau ông sẽ trở về chỗ cũ. Ông Tà rất thương trẻ con nên không bao giờ quở phạt trẻ dù chúng nghịch ngợm. Tại gần một khu du lịch, nhiều người qua đường cứ tiêu tiểu, xả rác rất mất vệ sinh, nhưng từ khi chủ đất thỉnh ông Tà về thờ cúng, tuyệt nhiên không ai dám đến làm chuyện bậy bạ đó nữa.

Với người Việt, bà con thờ ông Tà cũng giống như thờ Thổ thần hoặc thần Tài, ông Địa vì ai cũng muốn trong nhà, ngoài ngõ luôn có một vị thần trông coi việc gia cư, định đoạt phúc và giúp họ an cư lạc nghiệp. Để có được một chỗ thờ trang nghiêm, bà con chọn một gò đất thật cao, xung quanh vắng vẻ để dọn nền cất miếu thờ ông Tà. Cạnh bên miếu thường trồng cây đa, cây xộp hoặc bụi tre gai để tạo bóng mát.

Ngày nay, có dịp về vùng sâu ở nông thôn, chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh ông Tà thờ chung với Thổ thần trong cùng một ngôi miếu, nhưng bài vị thì chỉ có hai chữ Thổ Thần bằng tiếng Hán. Hàng năm, bà con thường cúng ông Tà vào tháng Giêng, sau khi thu hoạch mùa màng. Đồ ăn, có gì cúng nấy, nghèo thì nải chuối, ba vắt xôi… giàu thì gà, vịt, đầu heo và một bình rượu trắng, quan trọng vẫn là tấm lòng thành như ông cha thường nói: “Tâm động quỷ thần tri”. Trong cuốn Đình miếu và lễ hội dân gian, nhà văn Sơn Nam đã đưa ra một nhận định thật chí lý: “Ý niệm về thiên – địa – nhân lắm khi linh cảm nhưng không lý luận được”.

Lại có chuyện kể rằng, xưa kia, ông Tà được nhiều người mến mộ, cúng bái nhưng từ khi ông Địa vào nhà, bao nhiêu đồ cúng đều về tay ông Địa, ông Tà dần dần bị thất sủng, lại còn bị “thỉnh” ra ngồi dưới gốc cây hoặc bìa ruộng, bìa vườn. Vì vậy ông đã nhờ một vị thần phân xử.

Sau khi xem xét, vị thần ấy phán rằng: Địa suốt ngày cần mẫn chăm lo họa phúc cho dân tình nên được mọi người kính nể, còn như Tà thích rong chơi, hay ngao du sơn thủy, ít gần gũi xóm giềng nên người đời xao lãng, đó cũng là lẽ thường tình. Kể từ bây giờ, các ngươi hãy siết chặt tay nhau, người nào việc nấy để cùng chăm lo cho dân lành theo sự phân công của ta, ông Địa giữ nhà, ông Tà giữ ruộng. Thế là ông Tà mãn nguyện, sẵn sàng ngụ ở bất cứ nơi nào, dù ngoài đồng, bờ ruộng, gốc cây hay hang đá vẫn cứ vui lòng.

HOÀI PHƯƠNG
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 18, 2011 in Tín ngưỡng, Văn hóa

 

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN: CHÉN NƯỚC TRONG SOI LÒNG TRINH BẠCH

Tác giả: Kate Jellema

Hạ Anh Dịch
Nguồn: Viettimes

Những đóa hoa là thứ không thể thiếu trong mâm lễ thờ cúng…

Dâng hương cũng là hành động cơ bản nhất, thường được xem là một trong những việc làm ý nghĩa đối với việc thờ cúng của người Việt Nam. Cụm từ “với tấm lòng thành kính, tôi xin dâng nén hương này …” từ lâu đã trở thành một nhân tố tự nhiên trong đời sống tôn giáo Việt Nam, tác giả của “Dâng hương”, vốn là tín đồ Phật giáo, viết: “Mặc dù đơn giản nhưng cụm từ ngắn này chứa đựng tất cả những ý nghĩa văn hóa và đạo đức giúp chúng ta trở thành một con người có đạo đức ở Việt Nam”.
Mỗi ngày, khói hương được dâng cho Đức Phật, Thánh Mẫu, Bà Chúa Kho và Vua Hùng thơm ngát thoảng đưa trong những ngôi chùa cho thấy sự phục hưng tôn giáo của thời kỳ “đổi mới” ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, không những trên những bàn thờ của các gia đình mà còn ở các nhà thờ họ. Khoa học và chính quyền cũng đã nỗ lực rất nhiều để phân loại “việc thờ cúng tổ tiên” ở Việt Nam. Đó là một tôn giáo, một tín ngưỡng, sự mê tín hay là một đạo lý?
Trong bài này, tôi đi sâu khám phá việc thờ cúng tổ tiên của những người dân sống ở vùng châu thổ sông Hồng. Đây cũng là một bài nghiên cứu có ý nghĩa về đạo đức, xã hội và tôn giáo. Tôi đã tiếp xúc và mô tả chi tiết hai trường hợp được xem là điển hình của việc “thờ cúng tổ tiên”, hay “nhớ ơn ông bà”. Tôi quen với hai trường hợp này trong suốt thời gian làm luận án tiến sĩ ở khu làng giàu truyền thống có tên làng Đình Bảng (thuộc Bắc Ninh). Tại đây, tôi sống với một gia đình dòng họ Nguyễn Thạc suốt sáu tháng trong năm 2001. Và khi sống tại ngôi làng này, tôi có dịp chứng kiến những hành động thể hiện việc “thờ cúng tổ tiên” – một phần trong đời sống hàng ngày của người địa phương.
Những người làng Đình Bảng xem việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống” và nhấn mạnh mối liên hệ với “ngày xưa”. Họ công nhận truyền thống không bao giờ giữ nguyên hoàn toàn mà luôn có sự đổi mới, thậm chí được tái tạo bởi các thế hệ kế tục nó. “Những người lớn tuổi ủng hộ thế hệ trẻ phát huy truyền thống ông cha để lưu giữ truyền thống ấy đến muôn đời.
Trong phần thứ hai của bản nghiên cứu này, sau khi tôi mô tả về việc thờ cúng tổ tiên ở làng Đình Bảng ngày nay thì tôi sẽ quay lại, đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử, phân tích chiến tranh, cách mạng và công cuộc cải cách đã tạo nên cách nhớ ơn tổ tiên còn tồn tại đến ngày nay qua các thế hệ ở làng Đình Bảng như thế nào.
Tôi đã chọn hai trường hợp, trong cùng một ngôi làng để nghiên cứu những thói quen trong việc thờ cúng tổ tiên của người dân. Sự thành tâm và tận tụy của một người đàn bà cô đơn trong chính ngôi nhà mình là một ví dụ cho thấy sự công phu của một tôn giáo tập trung chủ yếu vào sự tu dưỡng đạo đức, sự tưởng nhớ người đã khuất và những mối liên hệ riêng tư, thân thiết của một cá nhân với thế giới tâm linh.
Ngược lại, sự tập hợp lại các cá nhân của dòng họ Nguyễn Thạc và một vài dòng họ khác cho thấy các tổ chức xã hội đang đóng một vai trò tích cực trong đời sống cộng đồng. Thường các buổi lễ có liên quan đến cả dòng họ thì tất cả những người cùng dòng họ này đều tập trung ở nhà thờ họ, còn nếu những buổi lễ chỉ thuộc phạm vi của một gia tộc thì sẽ tiến hành dưới hình thức những đám giỗ, tại các gia đình.

Thờ cúng tổ tiên và sự thành tâm của từng cá nhân

Mỗi buổi sáng, người phụ nữ tên Thúy thắp 3 nén hương, đứng trước bàn thờ đặt trên một cái tủ gỗ cao, được xem là bàn thờ tổ tiên. Người đàn bà khoẻ mạnh, tóc hoa râm này cắm hương vào bát hương bằng gốm màu trắng với những hoa văn xanh và đặt hoa quả vào một cái đĩa nhựa. Bao giờ bà cũng hài lòng với sự sắp xếp của mình. Bà lùi lại, chắp tay trước ngực, nhắm mắt và cúi đầu. Bà chậm rãi vái ba lần trước bàn thờ, rồi đứng im vài phút với đôi mắt khép, tay vẫn chắp trước ngực và khấn thầm những điều mình cầu xin.
Thông thường, mỗi ngày bà Thúy thường tiến hành những việc này đều đặn một mình. Nhưng một buổi sáng tôi đến thăm bà sớm, và bà nói rằng bà không để ý đến việc tôi có chứng kiến những việc bà đã làm hay không.
Bà im lặng chờ đợi trong khi những cây hương cháy. Đây là khoảng thời gian được xem là lúc tổ tiên thưởng thức đồ thờ cúng. Một vài người phụ nữ, như bà Hoàng, bà chủ nhà của tôi ở làng Đình Bảng, một người luôn luôn bận rộn và mệt mỏi, rời bàn thờ trong suốt thời gian chờ đợi để trở về làm nốt một vài việc nhà, và bà chỉ quay trở lại khi biết hương đã tàn. Nhưng bà Thúy lại thích ngồi gần đó, như một sự hiện diện với cha mẹ mình. Hương cháy từ trên xuống dưới, những nén hương tỏa thơm ngát, khói hương cuộn thành vòng tròn cho đến khi chúng cháy hết và tàn rơi xuống đống tro màu xám trong bát hương. Khi hương đã hoàn toàn tắt, bà Thúy quay lại đứng trước bàn thờ, chân khép lại, lưng thẳng, đầu hơi cúi, khuỷu tay nâng lên và hai tay chắp trước ngực, bà từ từ nhắm mắt lại và khuôn mặt lúc này ánh lên sự điềm tĩnh tự bên trong.
Bà Thúy vái trước bàn thờ 3 vái, sau đó yên lặng một lát trước khi mở mắt và thả tay xuống. Đồ cúng bây giờ có thể được chuyển từ bàn thờ xuống và chia cho mọi người.

Bà Thúy sinh ra năm 1941 ở Đình Bảng. Trước cách mạng, cha bà phục vụ cho Pháp, nhưng những gì ông kiếm được không đủ để bảo đảm cuộc sống gia đình trong thời điểm lộn xộn đó. Cuộc sống của họ trở nên gieo neo trong suốt thời kỳ đói kém giữa những năm 1940, sau đó càng trở nên túng bấn trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954), khi quân đội Pháp đóng quân ở Đình Bảng để chiếm lợi thế gần Hà Nội.
Quân đội Pháp đã san bằng ngôi làng bằng xe ủi và đóng quân ở các vùng lân cận, bắt dân địa phương nhập vào những ngôi nhà còn sót lại. Bà Thúy vẫn còn nhớ cha bà đã tham gia phong trào chống thực dân như thế nào, ông dành thời gian cho các buổi họp chính trị và phiên họp chiến lược, trong khi bà ở nhà và giúp mẹ chăm sóc những người ở cùng trong ngôi nhà chật hẹp, ngôi nhà đã nuôi ba đứa em trai và hai em gái của bà. Mặc dù mẹ bà rất ít khi được gần chồng trong những năm ấy nhưng bà vẫn luôn nghĩ đến ông, và trìu mến gọi ông mỗi buổi tối khi ông trở về nhà ăn cơm, và khi ấy bà sẽ chuẩn bị những món ăn ông thích.

Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã chuyển sang cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, bà Thúy đã hoàn thành một khóa học sư phạm và rốt cuộc đã chuyển sang làng khác cách nhà khoảng 20km để dạy học. Bà đem lòng yêu một thầy giáo trẻ trong trường, và họ phải kết hôn nhanh chóng trước khi ông gia nhập quân đội.
Buồn thay, ông đã bị giết trong năm đầu tiên sau khi gia nhập quân ngũ. Đau buồn nhưng quyết tâm đấu tranh vì độc lập tự do, bà Thúy đã kết hợp công việc ở trường với sự ủng hộ cho cuộc kháng chiến từ địa phương và giúp đỡ mẹ mình chăm sóc người cha đã rất ốm yếu. Vào các buổi tối, bà thường đi xe đạp 20km về làng Đình Bảng, và quay lại trường khi bình minh lên. Một lần, một quả bom của một máy bay Mỹ rơi xuống gần bà đến nỗi bà bị bật tung khỏi chiếc xe đạp và bay xuống hào, thoát chết. Trong suốt những năm đó, mệt mỏi liên tục và không đủ thức ăn để ăn, bà trở nên hốc hác và mệt mỏi. “Tôi đã từng là một đứa con gái đầy đặn và cuốn hút với đôi má hồng hào”, bà nói với tôi như vậy, “nhưng sau đó trong chiến tranh tôi đã đánh mất đi vẻ đẹp của mình. Tôi trở nên quá gầy gò! Cuộc sống lúc đó hết sức khó khăn. Và khi chiến tranh kết thúc thì tôi đã quá già”. Sau chiến tranh, bà Thúy không bao giờ kết hôn nữa và cũng không có con. Bà dành thời gian cho việc dạy học ở trường và cho ngôi nhà của mình, tiếp tục chăm sóc mẹ già cho đến khi bà mất năm 1993.
Khi tôi gặp bà Thúy, thì bà đã bước vào một thời kỳ mới, hạnh phúc hơn, và đã tìm thấy rất nhiều cách không để cho mình rơi vào cảm giác cô độc. Bà nghỉ hưu và trở thành một thành viên tích cực tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội của làng. Bà giúp họ tổ chức các buổi lễ đặc biệt, bà dạy các bài học thể dục cho những người già và một năm bà tiến hành một kỳ nghỉ với một nhóm bạn bè phụ nữ. Trước khi mẹ bà mất, bà và anh chị em ruột của mình góp tiền để xây cho mẹ một ngôi nhà mới trong làng. Bây giờ bà Thúy sống trong một ngôi nhà nhỏ, hai tầng rất thoải mái, sống một mình nhưng luôn có sự hiện diện của bố mẹ bà trên bàn thờ. Bây giờ và mai sau bà vẫn có những người bạn luôn “quấy nhiễu”, đó là các cháu trai và cháu gái của mình.

Việt Nam có một hệ thống quan hệ họ hàng đối ngẫu. Hình mẫu phụ hệ (theo họ cha) hay “trọng nam” cùng tồn tại song song với hình mẫu “nam nữ bình quyền”, là hình mẫu trong đó người phụ nữ có được sự tôn trọng từ xã hội và có quyền đưa ra những quyết định quan trọng như nam giới. Việc thờ cúng tổ tiên, đặc biệt khi nó diễn ra ở nhà thờ họ, thường gắn với hình mẫu “trọng nam” và đánh dấu sự phục tùng của đứa con trai đối với cha và của cá nhân người đàn ông với dòng họ. Ở phương diện này, người phụ nữ phải “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Chúng ta có thể hiểu sự cống hiến cho tổ tiên của những người đàn bà như bà Thúy và những người phụ nữ ở độ tuổi của bà, cả có chồng và không chồng ở làng này như thế nào? Đối với nhiều người, họ làm thế để thể hiện đạo làm con và lòng yêu thương của mình với các bậc cha mẹ, những người đi trước và mong muốn để duy trì mối quan hệ với cha mẹ mình thậm chí khi họ đã chết.

Đối với bà Thúy, việc thờ cúng ở bàn thờ mỗi buổi sáng là một mối quan hệ không tương ứng nhưng hết sức thân mật. Từ thời điểm bố mẹ bà bắt đầu sinh ra bà, chịu đựng nỗi đau thai nghén, sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục bà, họ đã ban cho bà một món quà vô giá, đó là “ơn sinh thành”, nuôi dưỡng và giáo dục. Suốt cuộc đời, bà Thúy biết ơn cha mẹ, bà yêu kính và đền đáp công ơn bằng sự quan tâm, chăm sóc của bà đối với cha mẹ mình khi họ ốm đau và thậm chí khi hai người đã sang thế giới bên kia.

Mặc dù thời nay, đồ cúng đã bị thay đổi đi nhiều nhưng những người làng đã nói với tôi rằng nội dung của đồ cúng không quan trọng lắm, cái quan trọng nhất là “tấm lòng thành” nhớ ơn tổ tiên. Nhiều người làng cũng cho tôi biết thắp hương chỉ là một trong những hành động thể hiện việc “nhớ ơn tổ tiên”. Bà Thúy giải thích với tôi: “Nếu bạn nghèo, thì bạn có thể chỉ thắp hương. Trái cây, xôi, cơm và tất cả những thứ đồ cúng khác là những đồ được thêm vào”. Những người khác cũng nói, nếu một gia đình quá nghèo, một cốc nước và một nén hương là đã đủ để tưởng nhớ những người đã mất…

Khi tôi hỏi bà Thúy về mối quan hệ của người sống và người chết, bà Thuý giải thích rằng khi ông bà còn sống, họ sống khôn; Sau khi chết, họ trở nên thiêng, “sống khôn chết thiêng”: Ông bà luôn ủng hộ cho con cháu mình và khi con cháu thỉnh cầu một điều gì đó thì tất nhiên ông bà sẽ giúp đỡ.
Bà Thúy tin rằng ông bà có thể bảo vệ được con cháu tại những thời điểm họ gặp nguy hiểm. Trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, không lâu sau khi bố bà Thúy mất, một trong những người anh trai của bà đã nhập ngũ và sau đó mất liên lạc với gia đình. Bà Thúy nói rằng đó là khoảng thời gian khó khăn nhất, nhưng bố bà đã đóng một vai trò chủ chốt, không chỉ bảo vệ người anh đã nhập ngũ mà còn là cầu nối cho các thành viên của gia đình có thể liên lạc với nhau.
Bà Thúy nhìn tôi với một cái nhìn sâu sắc và nhắc lại câu nói mà trước đây tôi đã từng được nghe: “Dù con cái có đi đến bất cứ nơi nào thì bố mẹ luôn theo đến đấy”. Bà gật gù: “Đúng, ông bà luôn luôn đi theo, bảo vệ và giám sát con cháu mình. Họ luôn che chở cho con cháu mình”. Bà Thúy nói với tôi rằng bà thường nói chuyện với bố mẹ ở ngoài mộ và ngay trên chính bàn thờ trong nhà mình. Bà thường kể cho họ nghe những sự kiện của gia đình và xin họ những lời khuyên.
Vậy, việc thờ cúng tổ tiên có phải để biểu hiện lòng hiếu thảo của đạo làm con hay chỉ là một niềm tin vào “năng lực huyền bí” của người chết? Tất cả những người tin đều cho rằng việc thờ cúng tổ tiên là một hệ thống đạo đức, và 2/3 trong số đó nói rằng họ cũng tin ông bà có khả năng siêu nhiên để tác động vào cuộc sống thường ngày, đi theo, bảo vệ con cháu, những người thân yêu của họ.
Khi tôi đến làng Đình Bảng, bà Thúy và các anh em mình đã góp tiền để xây cho cha mẹ một ngôi mộ đẹp và rất khang trang. Khi đã khá thân nhau, bà rủ tôi đi thăm mộ và cho phép tôi chụp ảnh. Chúng tôi đi xe đạp đến khu nghĩa trang, một vùng đất có rất nhiều ngôi mộ được xây bằng xi măng ở cạnh những cánh đồng lúa, được sắp xếp theo logic của môn bói đất (bói bằng những hình vẽ trên mặt đất).

Mặc dù có nhiều ngôi mộ mới được tu sửa, nhưng ngôi mộ của bố mẹ bà Thúy là một công trình xây dựng lớn nhất, đẹp nhất ở khu nghĩa trang. Sự giản dị, kiểu kiến trúc có sự kết hợp đá cẩm thạch đen giống với lăng chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội. Bà Thúy nói với tôi: Ngôi mộ màu đen vì đó là màu của sự tang tóc, chết chóc và thương tiếc. Nếu dùng màu khác sẽ không đẹp và không phù hợp.

Để chuẩn bị chụp ảnh, bà Thúy bỏ dép và leo lên trên ngôi mộ, đánh xi cho đến khi bề mặt nền đá hoa sáng lên, tiếp theo, bà dọn sạch cỏ dại mọc xung quanh, sắp xếp lại mọi thứ gọn gàng, ngăn nắp. Sau đó bà búi lại tóc, đứng thẳng người, thắp hương và bảo tôi chụp ảnh khi bà đang cúi đầu khấn.
Ngay sau khi lấy ảnh về, bà Thúy chọn một cái, phóng to, treo trong phòng khách với mục đích cho khách khứa hoặc cho bố mẹ mỗi buổi sáng đến thăm bàn thờ, qua khói hương sẽ nhìn thấy bức ảnh ngôi mộ rộng rãi của mình và để họ biết rằng họ có một đứa con gái vẫn luôn quan tâm đến họ.
“Rất nhiều người tự hào vì “nó” là ngôi mộ đẹp nhất làng”, bà Thúy nói. Và ngôi mộ của bố mẹ bà Thúy còn chứa đựng một vài thông điệp:

Đầu tiên, nó cho thấy sự mẫu mực, trách nhiệm của một người con đối với bố mẹ mình, đó là bản chất tốt đẹp của con người.
Thứ hai, để xây dựng ngôi mộ này bà đã phải bỏ ra một số tiền không ít, chứng tỏ sự thành công về kinh tế và bản chất hiếu thảo quên mình vì người khác của bà.
Thứ ba, cứ cho rằng hiện tại bà chỉ sống với một số tiền trợ cấp hàng tháng của chính phủ và một số công việc lặt vặt thì ngôi mộ lớn kia cũng chứng tỏ với mọi người rằng bà có một mối quan hệ xã hội rất tốt, một gia đình sống có tình nghĩa và hào phóng.

Cuối cùng, ngôi mộ cũng cho thấy bà có một mối quan hệ tốt đẹp với những người đã khuất. Ngôi mộ chính là nơi trao đổi tình yêu giữa bố mẹ và bà.
Gần cả cuộc đời bố mẹ bà Thúy đã phải sống trong nghèo đói và chiến tranh, đặc biệt bố bà chết trẻ và xa rời thế giới mà không một lần được nhìn thấy cuộc sống hòa bình. Bây giờ các anh em bà đều có cuộc sống khá sung túc, bà Thúy có một ngôi nhà mới, khang trang, ăn no, mặc đẹp và hàng năm còn tổ chức đi nghỉ mát cùng bạn bè. Bà cũng như những người sống sót sau cuộc cách mạng nhận thức được rằng, nền hòa bình mà họ đang được hưởng là nền hòa bình được xây dựng trên nước mắt và xương máu của cha mẹ, của những người đi trước. Do vậy, bà tìm mọi cách để bù đắp cho bố mẹ bằng cách cố gắng “nâng cao cuộc sống của họ dưới suối vàng”, bà chắc chắn rằng đời sống vật chất của bố mẹ không lạc hậu hơn so với đời sống trên dương thế của bà.
Sau buổi thăm mộ hai ngày, tôi ngồi với bà Thúy trong phòng khách để hỏi bà về những nghề truyền thống tổ tiên để lại trong làng. Bà Thúy làm thêm cho một công ty sản xuất thuốc lá địa phương để bổ sung vào số tiền trợ cấp ít ỏi của chính phủ. Trên nền nhà lát đá hoa bóng loáng, bà trải một cái chiếu để ngồi, trên chiếu đặt một cái giỏ đầy những mẩu thuốc lá đã dùng còn sót lại. Bà vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi. Tôi hỏi bà, liệu có quy định gì khi xây mộ cho người Việt không? “Cái đó phụ thuộc vào khả năng của mỗi người”, bà bắt đầu:
Nếu nhà bạn giàu, thì làm mộ đẹp và to. Nếu nghèo thì làm nhỏ. Nếu gia đình nhiều con và có điều kiện góp nhiều tiền thì làm mộ to, nếu ít con, và chỉ có thể góp ít thì làm nhỏ. Không có luật nào quy định về cái này.
Nếu một người rất nghèo và chỉ có thể xây dựng một ngôi mộ rất đơn giản thì liệu mọi người có buộc tội người đó bất hiếu? – tôi hỏi.
Không, đó không phải là bất hiếu. Đó là do hoàn cảnh kinh tế. Ngày nay có rất nhiều người có cuộc sống khó khăn, không đủ ăn, thậm chí họ không thể xây cho bố mẹ mình một ngôi mộ bằng xi măng nhưng cũng không ai gọi họ là bất hiếu. Chỉ có những người có của ăn của để, sống một cách thoải mái nhưng mộ của bố mẹ lại quá tồi tàn thì sẽ bị coi là bất hiếu. Ngôi mộ chính là một ngôi nhà cho người chết, và quả thật không tốt nếu một ai đó xây một ngôi nhà mới khang trang để ở trước khi xây một nơi an nghỉ thoải mái cho bố mẹ, ông bà.
Với sự phát triển kinh tế, sự giàu lên của các tầng lớp xã hội và sự phát triển của công nghệ đã giúp cho con cháu có điều kiện “chăm sóc” những người thân đã mất của mình hơn. Những người nông dân nghèo ở các làng quê ngày xưa sau khi chết được con cháu “cúng” cho những bộ quần áo xa xỉ của các quan chức thời phong kiến. Công nghệ xử lý ảnh cho phép làm lại những tấm ảnh chân dung đã trở nên rất phổ biến: Hình ảnh người đàn ông mặc những bộ quần áo lộng lẫy, đầy uy quyền, giống với vua chúa, quan lại ngày xưa. Những người phụ nữ giàu có, mặc những bộ quần áo lụa rộng và ngồi trên những cái ngai gỗ được chạm trổ tinh vi, hoặc người phụ nữ trẻ, yểu điệu trong trang phục áo dài thướt tha … đã không còn xa lạ nữa.
Bàn thờ của nhà bà Thúy có hai bức ảnh chân dung. Bên trái là tấm ảnh màu của mẹ bà, được chụp không lâu trước khi mất. Bên phải, một bức ảnh đen trắng có vết ố là bố bà, ông đứng một mình, dáng đầy tự hào và lịch lãm trong bộ áo dài bằng lụa đen của quan và các chức sắc ngày xưa. Một lần, khi tôi đến, bà Thúy lấy cho tôi xem bức ảnh gốc của bố bà. Và tôi đã rất ngạc nhiên thấy rằng nó hơi khác so với bức ảnh bà treo trên bàn thờ. Bức ảnh gốc là ảnh đen trắng, chụp cả gia đình bà đứng thành một nhóm và được chú thích phía sau là “Bố, mẹ và chị Thúy, 1951”. Bố bà, đứng thoải mái nhưng không phải mặc đồ lụa mà là một bộ đồ nông dân bằng vải thô. Bà Thúy giải thích rằng bà đã thuê một kĩ thuật viên máy tính ở Hà Nội để tạo ra một bức ảnh mới, họ cắt mặt ông từ bức ảnh gốc của gia đình và dùng công nghệ để xử lý và tạo ra bức ảnh người đàn ông mặc áo lụa đang có trên bàn thờ.

Những người họ hàng nam đến từ tỉnh Nghệ An đứng xung quanh mép chiếu, im lặng với vẻ tôn kính, và muốn tìm hiểu những nghi thức hoàn toàn xa lạ với họ. Ngày 20 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ tổ của dòng họ Nguyễn Thạc và hôm nay là có một sự kiện lớn lôi cuốn hơn 200 khách, đó là khôi phục dòng họ…
Sau khi ông Sung hoàn thành các lễ nghi đầu tiên, ba người đàn ông trong bộ áo thêu bước vào giữa chiếu. Họ dường như rất xấu hổ và ngập ngừng với vai trò của mình. Một người cầm một mảnh giấy được xé ra từ quyển vở học sinh, và đọc lầm bầm những gì đã được chuẩn bị trong đó. Những người đàn ông hội ý với nhau và thỉnh thoảng liếc qua ông Sung, bây giờ đang ở ngoài chiếu, để kiếm tìm một sự tán đồng.
Mỗi lần có một hành động sơ suất, thì ông Sung từ đám đông hô to “không được”, một cuộc hội ý nhanh chóng lại diễn ra để giải quyết vấn đề và các nghi thức lại tiếp tục. Ngay sau khi công việc của ba người đàn ông kết thúc thì những nghi lễ cũng kết thúc và tâm trạng ai nấy đều nhẹ đi chút ít. Ngoài sân, một đám đông tụ tập xung quanh một người đàn ông mảnh khảnh nắm trong tay một bản copy là bản gia phả mới nhất của gia phả dòng họ. Bản gia phả đầu tiên của dòng họ Nguyễn Thạc được viết bằng chữ Hán từ năm 1733. Nó được cập nhật định kì và có sự bổ sung trong những năm 1905, 1933 và 1998 thế kỉ 20. Năm 1999, nó được Viện Hán Nôm dịch sang tiếng Việt
Cuối cùng những người tham dự buổi thờ cúng bắt đầu ngồi vào các mâm cỗ. Bữa cỗ thịnh soạn có thịt và rượu trắng. Ông Sung cầm cái micro và nói một vài lời, nói đến tổ tiên trước, rồi đến Thành hoàng làng, sau đó đến những người bà con đang sống. Tiếp theo, ông giới thiệu ba người đàn ông đã thực hiện những thủ tục nghi lễ buổi sáng, bây giờ mặc quần áo bình thường, giải thích rằng họ là những người đến từ Nghệ An, đã đi 5 tiếng đồng hồ bằng ô tô đến đây xin được gia nhập lại vào dòng họ.

Chuyện kể rằng năm 1750, một thành viên của dòng họ Nguyễn Thạc đã được phong một chức quan trong đội quân cẩm vệ và đóng ở làng Sơn Lâm thuộc tỉnh Nghệ An. Vị quan này đã cưới một người con gái địa phương làm vợ và họ ở lại Nghệ An, sinh con đẻ cái, hầu hết đều là những người nông dân nghèo nhưng trung thực. Cuối cùng, họ mất liên lạc với quê gốc là làng Đình Bảng. Cho mãi đến khi thời kì đổi mới bắt đầu những người mang họ Nguyễn Thạc ở Sơn Lâm mới biết rằng họ còn có những người anh em xa ở tỉnh Bắc Ninh. Ông Ngà, một trong những người khách đến từ Nghệ An kể với mọi người:

Qua các thế hệ, dòng họ Nguyễn Thạc ở Sơn Lâm là dòng họ có uy quyền nhất, luôn giữ gìn nề nếp gia đình và phong tục của ông bà. Nhưng nhờ giới truyền thông và các phương tiện hiện đại mà dòng họ Nguyễn Thạc chúng tôi ở Sơn Lâm biết rằng vẫn có một dòng họ Nguyễn Thạc khác ở làng Đình Bảng, đấy là dòng họ gốc, lớn hơn ở Sơn Lâm chúng tôi nhiều. Cũng cần nói thêm, dòng họ Nguyễn Thạc ở làng Đình Bảng có xấp xỉ 1000 thành viên, chiếm 1/10 tổng số dân trong làng.

Năm 1990, một nhóm người từ Sơn Lâm đến Đình Bảng và nhận họ. Đến năm 1997, dòng họ Nguyễn Thạc đã tổ chức một cuộc họp ở Hà Nội với sự tham gia của nhiều chi khác nữa, và năm 1999, một nhóm người dòng họ này từ Đình Bảng đến Sơn Lâm. Cuối cùng, vào ngày 20 tháng 3 âm lịch năm 2001, những người già thuộc 3 trong 4 chi của dòng họ Nguyễn Thạc ở Sơn Lâm gặp nhau ở Đình Bảng để tham gia một buổi lễ tưởng nhớ tổ tiên gốc gác của mình.
Ông Ngà nói với các vị khách: “Cuối cùng hôm nay, chúng ta cũng có cơ hội gặp nhau, trao đổi ý kiến và làm cho mối quan hệ trong dòng họ thêm thân thiết”. Ông cũng nói lên niềm hi vọng vào thế hệ tương lai của con cháu ở cả hai nơi sẽ cùng gìn giữ và phát huy truyền thống của ông cha để lại.

Theo bản gia phả gốc của dòng họ Nguyễn Thạc được viết năm 1733 thì người sáng lập ra dòng họ là một người đàn ông thanh liêm chính trực, giàu tình cảm, Nguyễn Thạc Bác. Ông có hai người con, một con gái tên là Nguyễn Thị Ngọc Long và một con trai tên là Nguyễn Thạc Căn. Người con gái trở thành vợ lẽ của chúa Trịnh Kiểm và người con trai trở thành quận công phục vụ cho chúa Trịnh, và họ là những công thần trong triều Lê cai trị miền Bắc Việt Nam thế kỉ 16. Kể từ sau đó, trong dòng họ có rất nhiều người đỗ đạt cao và được nắm giữ các chức vụ quan trong triều, được thăng tiến và họ được xem là những người ngay thẳng và chính trực.

Nguyễn Thạc Bác là tổ tiên của dòng họ Nguyễn Thạc nhưng ông lại chỉ là một hình ảnh không quan trọng trong việc phát triển dòng họ. Trái lại, con gái ông, vương phi Ngọc Long mới là người đóng vai trò chủ đạo trong sự lớn mạnh của gia đình. Trong câu chuyện đầu tiên mà trưởng họ Nguyễn Thạc Sung kể với tôi về gia đình ông là câu chuyện về vương phi Ngọc Long.

Chuyện kể rằng vào năm 1559, khi Trịnh Kiểm, lúc đó là một vị quan có quyền lực nhất trong triều đình nhà Lê đi qua khu vực đồng bằng sông Hồng với đoàn tùy tùng của mình thì bất chợt gặp một cô gái đang cắt cỏ, vừa làm vừa hát

Trịnh Kiềm nhìn thấy một cảnh tượng rất lạ: Bất kể cô gái đi đến đâu thì những đám mây cũng đi theo trên đầu cô. Thấy những điều kì lạ như vậy, chúa Trịnh Kiểm đã gọi cô gái lại. Lúc này ông mới thấy gương mặt người con gái rất đẹp và cô đối đáp hết sức thông minh, do vậy ông đã đặt cô lên ngựa và mang về kinh đô Thăng Long.

Trong lúc ấy, người em trai của cô đang cày bừa ngoài đồng, nghe dân làng nói rằng có một đoàn quân binh đã đến bắtchị gái mình! Ngay lập tức anh vác cày đuổi theo. Chúa Trịnh Kiểm thấy người thanh niên này thật dũng cảm, và phong cho anh một chức quan trong quân đội. Càng ngày người thanh niên càng bộc lộ mình là một người thông minh, tài giỏi. Ông được thăng chứcquận công và trở thành người có quyền lực lớn thứ hai trong triều.
Một buổi tối hội làng, trước ngày diễn ra cuộc họp của dòng họ Nguyễn Thạc 20 tháng 3 âm lịch một ngày, bà chủ nhà nắm lấy tay tôi và kéo ra cửa: “Chúng ta đến đền vương phi đi!”. Khi tôi hỏi tại sao, bà chỉ trả lời “Đây là dịp để các con gái và con dâu dòng họ Nguyễn Thạc gặp nhau!” rồi bà đưa cho tôi cầm một túi nho đầy. Buổi tối hơi lạnh và ẩm ướt, những người phụ nữ quấn khăn quàng cổ, áo cộc tay sẫm màu đứng đầy sân đền. Bên trong, một vài người đàn ông lớn tuổi ngồi bên cạnh bàn, uống trà và nhận tiền “công đức” từ những người hảo tâm rồi lại ghi chép vào sổ.

Ánh sáng ấm áp của các cây nến tràn ngập cả 3 bàn thờ, trên mỗi bàn có một bức tượng vương phi quét sơn bóng. Hoa quả đủ màu sắc, những nắm cơm được bọc trong giấy đỏ, những gói bánh quy dừa, đồ cúng được sắp xếp đầy xung quanh bàn thờ. Khi tôi quan sát mọi thứ thì bà Hoàng, chủ nhà tôi sắp nho lên bàn thờ và thắp hương. Sau đó, chúng tôi ra ngoài sân gia nhập với nhóm những người phụ nữ khác và một nhóm đàn ông đang ngồi trên chiếu, tham gia vào những chuyện tầm phào cho đến khi hương tàn và đồ cúng của ai người nấy lại nhận về như lộc của tổ tiên.

Các nghi lễ buổi tối là để tưởng nhớ công ơn của những người phụ nữ trong dòng họ. “Tối nay, con gái và con dâu dòng họ Nguyễn Thạc đều phải làm đồ cúng ở đây”, một người đàn ông lớn tuổi nói với tôi như vậy. Khi tôi hỏi tại sao, ông nói “vì con gái và những người vợ của dòng họ Nguyễn Thạc có rất nhiều công lao với dòng họ”. Ông Sung giải thích thêm: “Tổ tiên cho rằng đàn ông và phụ nữ trong dòng họ phải bình đẳng do vậy, con gái và con dâu cũng phải bình đẳng”.

Vương phi Ngọc Long là người góp phần làm nên sự thành công trên đường công danh của em trai bà, và đây cũng chính là mốc son đầu tiên đánh dấu sự phát triển của dòng họ. “Vương phi đã đưa anh vào triều nên anh mới có thể phát triển tài năng và trở thành quận công. Cho dù anh ta có tài và may mắn đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu không có vương phi thì anh ta cũng không thể có cơ hội được phong quận công”, ông Sung lập luận. Và những người phụ nữ trong dòng họ tiếp tục đóng góp công lao làm nên danh tiếng của dòng họ ngày nay. Cho đến bây giờ, ai cũng phải thừa nhận rằng con gái của dòng họ Nguyễn Thạc thật thông minh và khéo léo. Rất nhiều các biệt thự cao tầng ở đây đều thuộc quyền sở hữu của những người phụ nữ mang dòng họ Nguyễn Thạc.

Cũng nhờ những câu chuyện mà mọi người kể tối hôm đó tôi được biết vương phi Ngọc Long đã xây dựng ngôi đền này, dân làng vẫn gọi là đền” vương phi” để tưởng nhớ bố mẹ và ông bà của bà.

Theo ông Sung kể, cô dâu đã tự nguyện rời bỏ quê hương và tài sản hiện có để theo chồng đến bất cứ nơi nào mà ông phải thuyên chuyển đến. Tuy nhiên, bà không để ông Lượng quên gốc gác tổ tiên của mình. “Bà có một điều ước là cùng chồng quay trở lại quê hương ông nên sẽ xây dựng ở quê nhà một ngôi nhà thờ họ. Để thực hiện được mơ ước này, bà đã phải tìm những cây cột bằng gỗ lim, mỗi cây dài sáu mét và đường kính hơn nửa mét ở Thanh Hóa và vận chuyển về Đình Bảng. Khó khăn nhất là khi những con ngựa phải kéo những khúc gỗ ngược dòng sông đến quê hương Đình Bảng”, ông Sung kể.


Đình Bảng

Được bắt đầu xây dựng năm 1700 và hoàn thành năm 1736, ngôi nhà thờ của dòng họ Nguyễn Thạc được công nhận là kiểu kiến trúc cổ của quốc gia, một trong những ngôi nhà cổ kính nhất đất Kinh Bắc. Khi hoàn thành, ngôi nhà trở thành tài sản của dòng họ, được sử dụng để thờ cúng, làm nơi ăn chốn ở. Ngôi nhà đã cuốn hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu thuộc địa; học giả người Pháp Pierre Gourou đã dành một vài trang trong bài nghiên cứu địa lý xã hội đồng bằng Sông Hồng để phác thảo những bản vẽ, tấm ảnh, mô tả ngắn gọn về ngôi nhà và khen ngợi kiểu kiến trúc đơn giản mà tao nhã của nó.
Ông Sung nhớ lại, khi ông còn là một cậu bé, “người Việt cũng như người Trung Quốc cho rằng một ngôi nhà có bốn thế hệ cùng sinh sống (tứ đại đồng đường) thì rất hạnh phúc. Ngôi nhà thờ họ lúc đó là một ngôi nhà như thế. Các cụ của tôi, ông bà tôi, bố mẹ tôi và tôi, tất cả đều sống ở đây, vì vậy trong ngôi nhà này có bốn thế hệ cùng sinh sống”. Ông nhớ lại, gian nhà chính lúc đó là gian nhà đặt bài vị tổ tiên. Đối với cậu bé Sung lúc ấy, gian thờ là một nơi “lạnh lẽo và đáng sợ”, một khoảng không gian thiêng liêng, hạn chế trẻ con và những người không thuộc dòng họ bước chân vào. Xung quanh ngôi nhà còn có một sân rộng, một bể nước và một hồ cá. Bắt đầu từ năm 1932, mẹ ông phát triển nghề nhuộm quần áo tại và công việc ngày càng phát triển, bà phải thuê thêm hơn 20 công nhân và bán quần áo nhuộm ở những nơi xa như Sài Gòn.

Nhưng mọi thứ đã thay đổi khi cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất nổ ra, thực dân Pháp chiếm đóng làng Đình Bảng và chiếm luôn ngôi nhà thờ họ này từ năm 1949 đến 1954. Đầu tiên, gia đình ông Sung tản cư lên vùng kháng chiến ở Thái Bình và sau đó về Hà Nội khi cuộc chiến kết thúc. Ông Sung xem sự tồn tại của ngôi nhà thờ là một điều kì diệu, một phần do sự bảo vệ của tổ tiên, một phần do sự uy nghiêm, linh thiêng của nó.
“Có lẽ công trình xây dựng này có một tính chất đặc biệt, đó là lý do tại sao quân Pháp đã không phá hủy nó, mặc dù họ phá hủy toàn bộ các ngôi nhà quanh đấy. Có lẽ điều này là một sự may mắn quá lớn đối với chúng tôi, và có thể cũng vì người Pháp cảm nhận được vẻ đẹp kiến trúc và sự linh thiêng của ngôi nhà thờ nên họ không dám phá huỷ nó. Khi chúng tôi từ vùng kháng chiến trở về thì tất cả các phòng vẫn nguyên vẹn như trạng thái ban đầu, chỉ một vài viên đá lát nhà bị cạy mất”, ông Sung nói.
Trong suốt thời kì cải cách ruộng đất 1957-1958, gia đình ông Sung và dòng họ Nguyễn Thạc rơi vào hoàn cảnh khó khăn và mất đi một vài người chủ chốt. Bố mẹ của ông Sung do buôn bán thuận lợi nên đã trở nên phát đạt. Họ tiếp tục sống trong ngôi nhà nhưng có một thời gian họ cho một công ty dệt của những người ngoài dòng họ đến ở và sản xuất. Cho đến khi bố ông cảm thấy không chịu nổi những tiếng ồn ào của những chiếc máy dệt, ông Sung đã quyết định không cho công ty này thuê nữa.
Thời chiến, các nghi lễ tại ngôi đình được tiến hành không thường xuyên và nếu có thì chỉ ở làm rất đơn giản, do ông trưởng họ chủ trì. Trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, thỉnh thoảng thực dân Pháp cho phép bố của ông Sung về để quản lý và kiểm soát việc thờ cúng vào những ngày giỗ chính. Ông Sung ngờ rằng, Pháp ban cho bố ông đặc quyền đó là vì mẹ ông đã khéo léo mang cho lính Pháp những mặt hàng mà họ ưa thích. Sau khi Pháp rút, từ năm 1954 đến chiến tranh Đông Dương lần thứ hai xảy ra và cả sau khi hòa bình được lập lại, mọi thứ đều công hữu hóa, dòng họ không có điều kiện làm những cuộc giỗ tết chung như trước đây..


Đình làng Đình Bảng

Cuối những năm 1980, thời kì Đổi Mới bắt đầu, người ta được phép khôi phục lại các lễ hội và các phong tục cũ, đồng thời tôn tạo lại đình chùa và các ngôi nhà thờ họ. Giữa những năm 1990, không lâu sau thời điểm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt – Nhật, Nhật Bản bắt đầu cấp kinh phí cho việc bảo tồn văn hóa của Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản từ trường Đại Học Showa, Tokyo đã điều tra 676 căn nhà truyền thống ở Bắc Ninh và cho rằng căn nhà của dòng họ Nguyễn Thạc là nơi cần được khôi phục nhất. Và họ đã tiến hành khôi phục lại ngôi nhà với số tiền đầu tư lên đến một triệu đôla, do Hội hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ. Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc được chọn không chỉ vì giá trị lịch sử và sự tinh xảo của lối kiến trúc dân tộc mà còn vì những bức vẽ tỉ mỉ của Gourou từ những năm 1930. Những người đứng đầu dòng họ Nguyễn Thạc, Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), nhóm nghiên cứu Nhật Bản và những người thợ thủ công lành nghề đã cùng nhau góp công sức để tôn tạo lại ngôi đền giữa năm 2001 và nó đã được UNESCO công nhận là một trong sáu ngôi nhà cổ của Việt Nam.
Song song với việc tiến hành những cải cách chính trị, kinh tế, luật pháp và ngoại giao có ảnh hưởng sâu rộng trong thời kì đổi mới, thì với nguồn động viên của chính phủ, người Việt Nam đang dần khôi phục lại các yếu tố tôn giáo truyền thống và các lễ hội làng. Và tất nhiên, các giá trị văn hóa và các phong tục này vẫn sẽ tiếp tục phát triển trên nền tảng của những thay đổi của xã hội mới.
Mọi người dân Việt Nam xem việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống dân tộc”, có lịch sử lâu đời và được truyền từ đời này đến đời khác trên khắp đất nước. Tuy nhiên, trong suốt những năm trước cách mạng, việc thờ cúng tổ tiên được xem là công việc của từng cá nhân vì ba lý do chính. Thứ nhất, mọi nguồn lực phải huy động vào việc chiến đấu giành độc lập và xây dựng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không khuyến khích các lễ hội tốn kém và mang nặng tính chất tôn giáo vì đất nước còn quá nghèo ,đồng thời kẻ địch có thể lợi dụng tôn giáo để làm lung lay ý chí của người dân. Thứ hai, như đã đề cập ở trên, Đảng đã tiến hành các chính sách và các cuộc vận động nhằm bại trừ nạn “mê tín dị đoan”, xoá bỏ các hủ tục như lên đồng và hoá vàng. Thứ ba, trong thời chiến, các gia đình ở phân tán và đời sống khó khăn, khó có cơ hội tập trung cả một dòng họ rất đông người để tổ chức chung các buổi lễ tưởng nhớ tổ tiên.Hình thức phổ biến nhất của những người Việt theo tục lệ thờ cúng tổ tiên là tìm những nơi kín đáo, để bày tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ những người đã khuất bằng những buổi cúng lễ đơn giản nhất trong phạm vi gia đình nhỏ của mình.
Sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với cả nước, làng Đình Bảng bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vào những năm 1990, khi chính phủ không còn quá khắt khe đối với các hoạt động tôn giáo thì các dòng họ trong nước bắt đầu tổ chức lại hoạt động chung của cả một đại gia đình. Nguyễn Thạc là một trong những dòng họ như vậy. Điều này chứng tỏ rằng đây là một dòng họ có sức tồn tại vững vàng qua các thập kỉ và sẽ tiếp tục trường tồn. Chính vì vậy mà nó đã lôi cuốn các nhà nghiên cứu Nhật Bản tìm kiếm và đầu tư để khôi phục. Nhờ nguồn vốn của Nhật Bản cùng với kiến thức của các nhà khoa học, những bức vẽ của người Pháp và kiến trúc của Việt Nam, hay nói đúng hơn là của dòng họ, đã được phục hồi.
Làng Đình Bảng đã chỉ ra bốn đặc điểm mà sự phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng đến tôn giáo nói chung và việc thờ cũng tổ tiên nói riêng.

Thứ nhất, quần chúng được tăng thu nhập, mức sống ngày càng cao, các chính sách văn hoá xã hội thoải mái đã tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc phục hồi các phong tục tôn giáo.
Thứ hai, như đã đề cập ở trên trong trường hợp của bà Thuý về sự chênh lệch của đời sống vật chất thời hiện tại với cuộc sống nghèo túng mà cha mẹ bà trước đây đã phải trải qua, nên trong thời kinh tế thị trường con cháu có điều kiện để tỏ lòng biết ơn tổ tiên bằng các nghi lễ truyền thống như các ngày giỗ để tưởng nhớ họ.
Thứ ba, xã hội phát triển không làm cho đời sống của người dân xao lãng chuyện thờ cúng tổ tiên, đại bộ phận có xu hướng “khuếch đại mối quan hệ họ hàng”, nối lại mối quan hệ đã một thời lỏng lẻo, bằng cách tổ chức những buổi làm giỗ, và các buổi thờ cúng tại các nhà thờ họ.
Cuối cùng, với những cách tiếp cận thông tin trong thời hiện đại và sự hòa nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế, mạng lưới tôn giáo xã hội trong thời Đổi Mới đang mở rộng thành các lĩnh vực tôn giáo trên toàn quốc, thậm chí phát triển trên toàn cầu. Một ví dụ điển hình ở đây là sự liên kết giữa hai chi khác nhau của dòng họ Nguyễn Thạc ở Bắc Ninh và Nghệ An và sự phối hợp của dòng họ với những chuyên gia nước ngoài và các tổ chức quốc tế.

Hầu hết mọi người dân làng Đình Bảng ngày nay quan niệm rằng tổ tiên sống ở một thế giới khác gọi là thế giới tâm linh. Những người như bà Thuý tin vào sự linh thiêng của tổ tiên, cho rằng họ có thể thấu hiểu, bảo vệ và phù hộ cho con cháu mình.
Bà Thúy quả quyết, tổ tiên đã phù hộ bà rất nhiều từ việc bảo vệ bà khỏi bị tai nạn giao thông ở trên quốc lộ 1 đến việc làm cho mối quan hệ anh em trong gia đình bà hòa thuận trở lại, từ việc giúp cháu trai bà vượt qua kì thi đến việc làm vết thương trên cổ bà mau lành. Bà Thúy tin đây là kết quả của sự quan tâm và lòng thanh kính của mình đối với tổ tiên. Những gì bà đã làm là một sự kết nối, duy trì mối quan hệ của bà đối với những người đã mất.
Ông bà có thể phù hộ con cháu họ là một trong những lý do khiến mọi người coi trọng việc thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra, vẫn còn có một lý do khác buộc những người còn sống phải quan tâm đối với những người đã mất, đó là các quan niệm thuộc nền tảng đạo đức, đạo lý làm người. Đạo làm con phải “uống nước nhớ nguồn”. Không ai tự nhiên được sinh ra, không ai tự nhiên lớn lên, tất cả đều phải chịu ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và những người đi trước, “có tổ tiên mà mới có mình”. Sự biết ơn và tưởng nhớ công lao của tổ tiên chính là để thể hiện “đạo lý làm người”, một đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam.


Tưng bừng ngày hội tưởng nhớ tổ tiên của người Việt

Cách thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với tổ tiên liên quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh kinh tế xã hội. Ví dụ, ngôi mộ mà gia đình bà Thúy xây dựng cho cha mẹ chứng tỏ bà có hoàn cảnh kinh tế khá giả, và bà rất tự hào vì “mọi người cho rằng nó là ngôi mộ đẹp nhất làng”. Chính điều này nhiều khi cũng gây ra không ít những sự ganh đua trong làng. Vì thế, trong nghĩa trang ngày càng mọc lên nhiều ngôi mộ rất lớn và đẹp. Tuy nhiên, giá trị thực sự của một ngôi mộ chính là ở sự thành tâm của đạo làm con. Vẻ đẹp của ngôi mộ không chỉ chứng tỏ sự thành công về mặt tài chính mà còn thể hiện sự tận tụy và tính nhân văn của một gia đình có nền tảng đạo đức tốt đẹp. Cùng với việc thờ cúng, sự quan tâm đến mồ mả cha ông của bà Thuý càng làm nổi bật lên nhân cách tốt đẹp của cá nhân bà nói riêng và gia đình bà nói chung. Bà muốn thực hiện đúng bổn phận làm con cả khi bố mẹ còn sống và khi họ đã mất.


Việc thờ cúng, sự quan tâm đến mồ mả cha ông là thực hiện đúng bổn phận làm con cả khi bố mẹ còn sống và khi họ đã mất.

Trong các dịp giỗ tổ của dòng họ Nguyễn Thạc, những người con còn sống đã nhấn mạnh công lao của các cha ông, từ công lao của vương phi Ngọc Long, người được xem là có công lớn trong việc tạo dựng nên bảy thế hệ có người làm quan của dòng họ đến những thành viên gần đây, những người có công phục vụ tổ quốc trong các cuộc chiến tranh giành độc lập. Tất cả tên tuổi của họ đều được ghi tại “bảng ghi công”.
Công lao mang lại sự vẻ vang và danh tiếng không chỉ cho những cá nhân có liên quan mà còn cho toàn thể đại gia đình. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Thạc, ông Nguyễn Thạc Lượng đã có công mang lại danh tiếng cho tất cả các thế hệ ông bà đi trước và để lại phúc đức cho tất cả các thế hệ con cháu sau này. Nhà thờ họ hay ngôi đình làng Đình Bảng như chúng ta biết ngày nay được xây dựng và đã làm rạng danh trước hết là vợ chồng ông, sau đó đến dòng họ Nguyễn Thạc và đến những người trong làng. Gia phả còn ghi lời nói của ông, đại ý là những công trình do ông xây dựng bao gồm cả nhà thờ họ là di sản để lại cho cả làng chứ không phải cho một cá nhân nào cả. “Ông không màng danh lợi”, ông Sung nói và nhấn mạnh không ai có thể tìm kiếm được bất kì một dấu vết nào chứng tỏ là ông Lượng đã xây ngôi nhà này. “Không giống như ngày nay, mọi người thường khắc tên mình vào các cây cột để được ghi nhớ đến muôn đời”, ông nói với vẻ mặt nghiêm nghị, ám chỉ đến hành động mà những người “tài trợ” thường làm khi góp công khôi phục một công trình kiến trúc.
Nhìn chung người làng Đình Bảng nói riêng và người Việt Nam nói chung thực sự tự hào về việc thờ cúng tổ tiên, hay nói khác hơn là việc này tạo cho họ cơ hội giao tiếp, phát triển mối quan hệ họ hàng, chia sẻ vui buồn và hợp tác với nhau vì lợi ích của cả cộng đồng. Còn nhớ buổi tối “nhận họ” của những người khách từ Nghệ An ra và những người thuộc dòng họ Nguyễn Thạc ở Bắc Ninh, một bữa ăn chung ấm cúng đã khiến họ có điều kiện nói chuyện, trao đổi ý kiến để củng cố thêm tình thân thiết họ hàng. Có thể nói, tổ tiên ông bà và những người đã mất đóng một vai trò hết sức ý nghĩa trong đời sống người Việt Nam hiện nay.


Tổ tiên ông bà và những người đã mất đóng một vai trò hết sức ý nghĩa trong đời sống người Việt Nam hiện nay.

Trong bài nghiên cứu này tôi đã tìm hiểu việc thờ cúng tổ tiên thời hiện đại ở Việt Nam thông qua hai con người sống cách nhau chưa đến 1km trong làng Đình Bảng, đó là bà Thúy và ông Sung.
Họ đều được sinh ra trong thời loạn lạc, đều lớn lên trong thời Pháp thuộc và chiến tranh, họ đều là những thầy cô giáo. Họ là hai nhân vật điển hình trong phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Tuy nhiên, họ có những cách khác nhau: Bà Thúy thì tập trung củng cố mối quan hệ của mình với những người đã mất còn ông Sung thì bắt tay vào khôi phục lại một dòng họ sao cho gắn bó hơn. Tóm lại, cả hai trường hợp đều làm cho chúng ta thấy được sự ảnh hưởng của tín ngưỡng địa phương, đặc biệt là tục thờ cúng đối với cuộc sống từng gia đình. Việc thờ cúng tổ tiên trong xã hội Việt Nam hiện đại có rất nhiều hình thức khác nhau nhưng bây giờ và mãi mãi về sau nó vẫn sẽ là một truyền thống có ý nghĩa trường tồn và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống con người.

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng, một đạo lý, một truyền thống của đất nước hay chỉ là mê tín? Các cuộc tranh luận có thể đã cho chúng ta hiểu một phần nào về bản chất của nó nhưng để hiểu được thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống con người thì chúng ta cần phải theo những vạt khói hương để quay trở lại các bàn thờ …

Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch
Tác giả: Kate Jellema; Hạ Anh dịch; Nguồn: Viettimes

 

NÉT TRÀO PHÚNG QUA THI CA

Lê Thương

Từ trước đến nay, các nhà khảo cứu, các tâm lý gia Đông Tây đều đồng ý rằng: “Cái cười là liều thuốc bổ” hay “Nếu muốn sống lâu, lúc nào cũng nên tươi cười vui vẻ”. Bình dân chút nữa ta thường nghe “Cười cho đời thêm tươi”. Hoặc trong bài “Gì Cũng Cười” đăng trong Đông Dương Tạp Chí, nhà văn tiền phong Nguyễn Văn Vĩnh đã nhận xét như sau: “Người Việt Nam ta có thói lạ là gì cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười, hay cũng cười, dở cũng cười, phải cũng cười mà quấy cũng cười”.

Thật vậy, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, có lẽ người Việt Nam nở nụ cười nhiều nhất. Đối với dân tộc ta cái cười đã trở thành tiếng nói, một thứ tiếng nói đa hình, đa dạng nên người Việt có hàng trăm kiểu cười (Xin thưa đây là sự thật, người viết đã sưu tầm được khoảng hơn 400 kiểu cười của Việt Nam. Hy vọng trong một dịp khác chúng tôi sẽ cống hiến quý độc giả mấy trăm kiểu cười độc đáo nầy của Việt Nam ta).

Chính vì đa hình, đa dạng mà ta có rất nhiều kiểu cười như: cười âu yếm, cười bẽn lẽn, cười bí hiểm, cười bò lăn, cười bò càng, cười bỡn cợt, cười cay đắng, cười châm biếm, cười chế nhạo, cười cho đời thêm tươi, cười chớt nhả, cười chua chát, cười chúm chím, cười dã man, cười dê, cười dí dỏm, cười duyên, cười đen, cười đểu, cười đĩ thõa, cười đỏ, cười đú đởn, cười e thẹn, cười gằn, cười giòn tan, cười gượng, cười hả hê, cười hạ cấp, cười hảm tài, cười hề hề, cười híp mắt, cười Hoạn Thư, cười hô hố, cười hớn hở, cười hùn, cười hụt, cười ké, cười khả ố, cười khan, cười khanh khách, cười khiêm nhường, cười khinh bỉ, cười khinh khỉnh, cười khúc khích, cười lén, cười lố bịch, cười mất dạy, cười mất cảm tình, cười mỉa mai, cười mím chi, cười ngả ngớn, cười ngạo mạn, cười ngây thơ, cười ngoại giao, cười nham nhở, cười nhạo báng, cười nhớp nhúa, cười nhức nhối, cười phúc hậu, cười ranh mảnh, cười ruồi, cười sau lưng cười sặc sụa, cười sằng sặc, cười sâu sắc, cười sỗ sàng, cười Sở Khanh,, cười té đ.., cười tếu, cười tình, cười tục tĩu, cười thâm thúy, cười thẹn thùng, cười thô bỉ, cười trây trúa, cười trí thức, cười trước mặt, cười vô giáo dục, cười vô liêm sỉ, cười vô ý thức, cười vỡ bụng, cười vu vơ, cười xám, cười xí xọn, cười xỏ lá, cười xòa, cười xóc hông, cười ý nhị, cười yểu điệu…

Cái cười của ta không những bắt gặp qua cuộc sống hằng ngày mà nó còn bàng bạc trong văn chương để trang điểm nét duyên dáng cho nền văn học vốn đã phong phú lại càng phong phú hơn. Khi đề cập về thi ca trào phúng, trước hết ta phải kể đến những vần thơ trò phúng trong ca dao.:

Từ ngàn xưa, người Việt Nam đã hiểu rõ giá trị của tiếng cười. Người con trai chinh phục được cảm tình của người con gái cũng qua nụ cười:

Chẳng tham nhà ngói rung rinh,
Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười.

Còn người con gái đã làm cho người con trai nhớ nhung, mê mệt cũng vì nụ cười:

Nàng về nàng nhớ ta chăng?
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.

Hay trúc tượng trưng cho người quân tử, cho nét đẹp thanh tao cho nên gặp người con gái đẹp, người con trai đã khéo mượn hình ảnh của cây trúc để tỏ lòng ngưỡng mộ pha một chút hài hước:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

Hoặc:

Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.

Và hài hước hơn một chút nũa thì:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em rớt xuống sình cũng xinh.

Mỹ nhân hơn hoa ở chỗ biết nói, biết cười, còn hoa hơn mỹ nhân ở chỗ tỏa hương thơm cho nên khi chàng trai bỗng bắt gặp ánh mắt, nụ cười của giai nhân thấp thoáng ở góc vườn nhà ai, chàng không những thấy mình ngây ngây vì hương hoa mà tâm hồn mình còn xao xuyến, rung động khi nhìn người trồng hoa:

Bông chi thơm lạ hỡi bông?
Thơm cây, thơm rễ, người trồng cũng thơm.

Ở vào lứa tuổi mới bước vào tình yêu, chàng trai nào cũng vậy thường hay nhút nhát vì thế muốn tỏ nỗi lòng thầm kín của mình với người con gái mình yêu là một khó khăn khôn tả. Thì đây, cái trào phúng giúp ta chuyên chở nỗi thầm kín đó đến đối tượng của tình yêu:

Thương em chẳng dám vô nhà,
Thập thò ngoài ngõ hỏi gà bán không?

Trai hay gái cũng vậy, khi mới bắt đầu bước vào tình trường cũng đều rụt rè, e thẹn. Nhất là con gái phải kín đáo đoan trang mặc dù “Tình trong như đã mặt ngoài còn e”, nhưng cố che giấu tình yêu của mình bằng cách giả đò, giả bộ rất ư là dễ thương:

Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.

Trong tình yêu, có chàng rụt rè, có chàng tỏ tình văn hoa, phong nhã, lịch thiệp:

Anh đà có vợ con chưa,
Mà anh ăn nói đẩy đưa ngọt ngào?

Và người con trai hỏi lại:

Ngó lên mây bạc trời hồng,
Thương em hỏi thiệt có chồng hay chưa?

Người con trai hỏi thì người con gái mới mớm ý một cách ỡm ờ, đầy tình tứ:

Mận hỏi thì Đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Đọc qua những vần ca dao dân tộc trên ai mà không thấy tình cảm nhẹ nhàng, lai láng
len lén len lỏi vào tim!

Cũng trong tình trường, có người khéo hài hước ví tình yêu của mình với người con gái một cách ngồ ngộ mà khi đọc lên ai cũng tủm tỉm cười:

Em như cục cứt trôi sông,
Anh như chó đói đứng trông bên bờ.

Khi đã yêu, trai gái thường hay hẹn hò, hò hẹn để thủ thỉ, rù rì nhỏ to tâm sự cho vơi nỗi lòng:

Ngày ngày ra đứng đầu đình,
Chuyện trò to nhỏ có mình có ta.

Đó là ban ngày, còn ban đêm thì:

Đêm đêm ra đứng đầu nhà,
Nhỏ to trò chuyện có ta có mình.

Và cũng vì tình mà ta không ngại khó khăn:

Vì tình anh phải đi đêm,
Té năm bảy cái đất êm như giường.

Con ma của ái tình có mãnh lực vô cùng quyến rũ cho nên khi yêu nhau mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng leo cho dù khổ cực cũng không than, không trách và nếu rủi mà cuộc tình dang dở thì:

Chàng đi cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng chẳng than.
Ví dầu tình có dở dang,
Xin cho thiếp đón đò ngang thiếp dìa.

Cái cười của ca dao cũng không quên chế giễu những anh chàng trồng cây si hay những anh chàng mê gái:

Muốn người ta, người ta không muốn,
Xách cây dù đi xuống đi lên

Hay:

Có công xúc tép nuôi cò,
Nuôi cho cò lớn, co giò cò bay.

Hoặc:

Bắc thang lên hỏi ông Trời,
Có tiền cho gái có đòi được không?

Nét trào lộng cũng không quên châm biếm mấy người đàn ông có tật hay dê:

Dê xồm ăn lá khổ qua,
Ăn nhầm đậu đũa chết cha dê xồm.

Nhưng mấy ông có máu dê thì lại có cái lý của mấy ổng:

Đàn ông mà không dê dê,
Đàn bà không ngựa, phu thê không nồng.

Còn đối với những cặp vợ chồng tuổi tác chênh lệch nhau thì ca dao ta cũng có câu bông đùa:

Chồng già vợ trẻ là tiên,
Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.

Và đôi khi cái trào phúng của ca dao đi quá xa khiến phái đẹp phải nhăn mặt, chau mày:

Gái Tầm Vu một xu ba đứa,
Trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua.

Tuy nhiên phái kẹp tóc cũng phản ứng phe đực rựa bằng những lời lẽ không kém phần dí dỏm:

Ba đồng một mớ đàn ông,
Chị bỏ vào lồng chị xách chị chơi.

Hay một chàng trai tay xách cây dù đen đi ngang qua mấy cô thiếu nữ, bỗng một cô trong nhóm láu lỉnh ngâm lên hai câu ca dao rất “tếu” để trêu chọc khiến chàng trai đỏ mặt bước mau còn các cô thì xúm nhau cười khúc khích:

Tối qua em mất quần thâm,
Sáng nay em thấy người cầm ô đen.

Tình yêu nào mà chẳng có giận hờn, ghen tuông? Nhất là đối với phụ nữ, sự ghen tuông
là bản tánh tự nhiên của họ cho nên dân gian có câu:

Ớt nào là ớt chẳng cay,
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
Vôi nào là vôi chẳng nồng,
Gái nào là gái có chồng chẳng ghen.

Có điều là mỗi người biểu lộ sự ghen tuông một cách khác nhau. Có người khi ghen thì đỏ mặt, tía tai, nổi giận đùng đùng:

Em đang bắc nước nấu xôi,
Nghe anh lấy vợ quăng nồi, đá vung.

Người khác khi nổi cơn ghen thì đầu óc vật vờ, tay chân bủn rủn, rụng rời:

Em đang vút nếp nấu xôi,
Nghe anh lấy vợ thúng trôi, nếp chìm.

Không phải tình yêu nào cũng đưa đến hạnh phúc theo sự ước muốn của mình. Nhiều khi các cô vớ phải những anh chồng không chịu chăm lo làm ăn mà còn chơi bời, cờ bạc nên than vắn, thở dài:

Chồng em nó chẳng ra gì,
Tổ tôm, xóc đĩa nó thì chơi hoang.
Nói ra xấu thiếp, hổ chàng,
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà.

Đề cập đến cảnh vợ chồng thiếu hạnh phúc, ngày xưa xã hội ta có tục ép duyên con cái, nhất là con gái. Rồi các cụ lại còn tự hỗ trợ tục lệ hủ lậu của mình bằng câu “Cha mẹ đặt đâu, con cái ngồi đó”. Để đả phá tục lệ hủ lậu nầy, cao dao ta châm biếm:

Mẹ em tham thúng xôi dền,
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đã bảo mẹ rằng: Đừng!
Mẹ hấm, mẹ hứ mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ chồng thấp, vợ cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho vừa?

Câu “Cha mẹ đặt đâu, con cái ngồi đó” ngày nay đối với người Việt hải ngoại đã được sửa lại thành “Con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đó”.
Bên cạnh những cảnh thiếu hạnh phúc, cũng có những cái hạnh phúc trong thanh bần hay
“Một túp lều tranh, hai quả tim vàng” rất ư hài hước:

Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chang, vợ húp gật đầu khen ngon.

Trong cuộc sống hằng ngày, ta thấy có những anh chồng hay những chị vợ khù khờ, kém thông minh cho nên cái trào phúng của ta không quên bông đùa:

Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng ngốc vỗ về trăm năm.

Hay:

Ba năm ở với người đần,
Không bằng một chốc đứng gần người khôn.

Và:

Thứ nhất vợ dại trong nhà,
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

Ngày xưa, mẹ chồng hà khắc với nàng dâu nên các cô gái ngày xưa rất “ớn” về làm dâu nhà chồng. Còn các nàng dâu ngày nay thì đã có các “Phong Trào Giải Phóng Phụ Nữ” đứng sau lưng hay “Đời Mới, Phụ Nữ Mới” vì thế các nàng thường ngâm nga câu:

Ai ơi chồng dữ thì lo,
Mẹ chồng mà giữ mổ bò ăn khao.

Và khi đã lập gia thất, giới phụ nữ ai mà không mơ ước có được những tấm chồng như sau:

Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng thương chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm…

Sau ca dao, nói về trào phúng, ta phải đề cập đến hai nhà thơ tiêu biểu của làng thơ nầy, đó là Tú Xương và Hồ Xuân Hương. Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, người làng Vị Xuyên, đỗ Tú Tài nên được gọi là Tú Xương. Ông đã tự tả về mình một cách hóm hỉnh như sau:

Vị Xuyên có Tú Xương,
Dở dở lại ương ương.
Cao lâu thường ăn quịt,
Thổ đĩ hay chơi lường.

Hoẵc:

Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.
Chừa được thứ nào hay thứ ấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà.

Hay bài “Nhắn Chị Hằng” của ông không kém dí dỏm:

Tôi có nghe người ta nói rằng,
Nói rằng thằng Cuội ở cung trăng.
Lấy ai không lấy, lấy thằng Cuội,
Cũng gớm gan thay cái ả Hằng!

Còn nữ sĩ Hồ Xuân Hương thường được nhắc đến với những vần thơ “Lời tục, ý thanh”
qua các bài như “Cái Quạt”, “Cái Giếng”, “Trái Mít”, “Cờ Người” …v…v… nhưng sử thực văn tài của nữ sĩ không chỉ cô đọng trong những vần thơ ấy mà còn ở những ý tưởng phóng khoáng, hài hước đầy ý nhị. Đọc thơ của nữ sĩ, trong nhiều bài ta văng vẳng nghe thây cha, cha kiếp, mặc mẹ, chém cha…

Rúc rích thây cha con chuột nhắt,
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.

Hoặc:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.

Và hài hước hơn một chút thì:

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,
Chúng bảo nhau rằng ấy ái uông…

Cái trào phúng của Hồ Xuân Hương còn phóng khoáng hơn nữa, người ta kể rằng nữ sĩ có dựng lên một cái quán nước buôn bán theo kiểu văn nghệ để có cơ hội tiếp xúc với giới văn nhân thi sĩ, đồng thời để… kén chồng. Một trong những người thường lui tới và chiếm được cảm tình của nữ sĩ là ông Phạm Đình Hổ, tục gọi là Chiêu Hổ. Cả hai đều mang bản tính phóng khoáng và ưa đùa, cho nên đùa lâu trai gái như rơm gần lửa thì bén. Một hôm cả hai đang ngồi bên bờ hồ ngắm cảnh, ngâm vịnh. Trước phong cảnh hữu tình, không biết ông Chiêu Hổ nổi hứng, “tay chân táy máy” thế nào khiến nữ sĩ nghiêm mặt trách móc:

Anh đồ tỉnh hay anh đồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.

Ông Chiêu Hổ hơi ngượng vì bị cự tuyệt, lại còn bị bà Hồ Xuân Hương lên lớp với giọng “đàn chị” song cũng gượng đáp bằng bốn câu thơ:

Nào ai tỉnh, nào ai say,
Nào ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày.
Hang hùm ví chẳng không cho mó,
Sao có hùm con bổng chốc tay.

Nhưng rồi không thấy giai thoại nào nói đến ông Chiêu Hổ có “mó” được hay không mà chỉ biết về sau nữ sĩ lấy làm lẽ quan tri phủ Vĩnh Tường. Cuộc đời lẽ mọn có nhiều nỗi bất công cho nên, vốn mang sẵn tính hài hước, bà đã thốt lên những vần thơ dí dỏm:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.
Năm thì mười họa nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần có như không.
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân nầy ví biết dường nầy nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy không.

Bất hạnh thay, cuộc tình lẽ mọn của nữ sĩ kéo dài chẳng được bao lâu thì ông phủ Vĩnh Tường ngàn năm vĩnh viễn ra đi. Về sau, nữ sĩ lại “bước thêm một bước nữa” với một ông cai tổng góa vợ, tục gọi là Tổng Cóc. Nhưng cũng chỉ vài năm sau là Cóc… chết! Từ đó nữ sĩ
“ở vậy” không lấy chồng nữa, chỉ vui với thiên nhiên, làm thơ vịnh cảnh, ngao du sơn thủy.

Thực ra, làng thơ trào phúng còn rất nhiều nhà thơ khác song không ai có tầm vóc hài hước bằng Tú Xương và Hồ Xuân Hương nên về sau thơ trào phúng đã trở nên loãng và nhạt dần. Tuy nhiên, trước năm 1975, người viết cũng thấy xuất hiện rải rảc những bài thơ trào phúng, phần lớn chỉ phát triển trong giới học trò. Trong số nầy có một vài bài khá dễ thương như:

Lần thứ chín em ngồi chép phạt,
Mấy mươi câu chép mãi chẳng xong.
Bà giám thị cầm lên chỉ thấy,
Chủ nhật nầy trẫm nhớ ái khanh không?

Hay:

Em nói rằng em chửa biết yêu,
Ngây thơ như mây trắng ban chiều.
Mây trắng chiều nay sao lại khóc,
Hay là mây trắng khổ vì yêu?

Hoặc:

Người ấy tặng tôi một cánh hồng,
Làm tôi khó nghĩ và bâng khuâng.
Nhận ư? Có lẽ còn hơi sớm,
Từ chối? Eo ơi, sợ mất lòng!

Bên cạnh đó, cũng trong giới học trò, còn xuất hiện khá nhiều bài thơ hoặc những đoạn thơ mang tính chất “Tếu” được nhái lại từ những bài thơ của các thi sĩ nổi tiếng như Thế Lữ,
Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Hồ Dzếnh, Nguyên Sa, T.T. KH…

Về thơ của Thế Lữ, nguyên văn như sau:

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm nghe ngày tháng trôi dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ,
Giương mắt bé, giễu oai linh rừng thẳm.

Thì được ai đó có óc trào lộng nhái lại:

Gặm một miếng thịt bò trong phở nóng,
Ta ngồi đây lần lượt nuốt rồi nhai.
Giương mắt lé, bĩu môi rồi tặc lưỡi,
Miệng chửi thề thịt dai quá đi thôi!

Còn thơ của Nguyễn Bính nguyên văn:

Nếu biết rằng em đã lấy chồng,
Tôi về lấy vợ thế là xong.
Vợ tôi không đẹp bằng em mấy,
Nhưng đẹp hơn em cả tấm lòng.

được mấy anh chàng bị người yêu “phụ bạc” nương lại một cách cay cú:

Nếu biết rằng em đã lấy chồng,
Trời cho rắn hổ cắn em không.
Mèo tha, chó táp người phụ bạc,
Như thế thì anh mới hả lòng.

Khi người con gái lên xe hoa về nhà chồng để lại cho người con trai bao nhiêu oan khổ vì tình. Vì tình mà tâm hồn điên đảo, vì tình mà áo nảo tâm cang cho nên Hàn Mặc Tử đã mài mực viết:

Người đi một nửa hồn tôi chết,
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.

Thì dược nhái lại bằng hai câu thơ rất ư là tếu:

Người đi một nửa hồn tôi khoái,
Một nửa hồn kia hớn hở cười.

Hay nhẹ nhẹ một chút, bị người đẹp cho “leo cây” như nguyên văn thơ của Hồ Dzếnh:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân.
Nhìn trên tay điếu thuốc cháy lụi dần,
Anh khẽ bảo: Gớm, sao mà “nhớ” thế!

được nhái lại:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân.
Nhìn trên tay điếu thuốc cháy lụi dần,
Anh khẽ bảo: Gớm, sao mà “đểu” thế!

Và cũng thơ của Hồ Dzếnh:

Tình chỉ đẹp khi tình còn dang dở,
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề.

thì được nhái lại bằng hai câu thơ rất hài hước:

Tình chỉ đẹp khi tình còn dang dở,
Lấy nhau rồi nham nhở lắm ai ơi!

Việt Nam ta có câu thành ngữ “sư tử Hà Đông” để chỉ những người đàn bà hung dữ, như ta thường nghe: “Bà đó dữ như sư tử Hà Đông”. Cho nên những đoạn thơ lãng mạn của Nguyên Sa nguyên văn:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng,
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng…

được nhái lại bằng những vần thơ khá hài hước:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Lụa Hà Đông đan bằng lông sư tử,
Em mặc vào giống sư tử Hà Đông.

Và nguyên văn thơ của T.T.KH:

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc thấy tôi vui.
Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi…

thì được nhái lại bằng những vần thơ khó….. nín cười:

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc tóc tôi “hôi”.
Bảo rằng tóc em nhờn những “mỡ”,
Anh sợ đầu em sẽ “hói” thôi…

Càng bàn về thi ca trào phúng nói riêng, thi văn Việt Nam nói chung, chúng ta càng thấy sự giàu đẹp và phong phú của tiếng nước ta. Càng hãnh diện về ngôn ngữ của dân tộc ta, chúng ta càng yêu mến quê hương chúng ta. Càng yêu mến quê hương, chúng ta càng cố gắng bảo tồn và phát huy kho tàng văn hóa nước nhà mà ông cha chúng ta đã tốn nhiều công lao bồi đắp.

Lê Thương

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 18, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ: ,

CỒN PHỤNG

Mùa hè tới Cồn Phụng ăn trái cây miễn phí.

Được lang thang trong những khu vườn thơm lừng hương sầu riêng, hái và thưởng thức miễn phí tất cả trái cây trong vườn là lý do khách đến Bến Tre mùa này.

Khu du lịch Cồn Phụng nằm trên một cù lao nổi giữa sông Tiền, thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, cách thị xã Bến Tre 12km đường bộ và 25km đường sông. Ngoài tên Cồn Phụng, nơi này còn được biết đến với tên Đạo Dừa – nơi sinh sống và phát danh của vị tổ Nguyễn Thành Nam của đạo. Vết tích của Đạo Dừa còn được lưu giữ qua mảnh sân có 9 con rồng, tháp Hoà Bình (Cửu Trùng đài). Vốn là nơi ngày trước ông Đạo Dừa ngồi giảng kinh pháp và truyền bá đạo giáo. Cả tòa tháp và sân 9 con rồng đều có kiến trúc lạ mắt và được đắp nổi bằng những mảnh vỡ của bát đĩa, ấm chén…, và một đỉnh lớn.

Chiếc thuyền chở du khách ra Cồn Phụng.

Muốn đến cồn, ngoài 20 phút rong ruổi trên chiếc thuyền lớn với sức chứa khoảng 40 người, du khách sẽ chuyển tiếp qua một chiếc xuồng nhỏ chở từ 3 -5 người, len lỏi qua những lạch nước hẹp, trong vắt, rợp bóng mát của những bụi cây ven bờ. Vào những ngày nắng, hơi nước bốc lên từ lạch mát rượi. Cũng những làn hơi nước ấy, vào mùa mưa hay mùa gió chướng, mang cái lạnh vừa đủ để du khách nhẹ rùng mình.

Là một trong những nơi cung cấp trái cây nhiều nhất Bến Tre, Cồn Phụng đón du khách với hương thơm ngào ngạt của sầu riêng, của cây mít tố nữ sai quả, những chùm dâu chín vàng, chôm chôm đỏ au… Thêm một cái hay nữa tất cả trái cây nơi đây đều được mời ăn miễn phí. Không ai rủ ai, hầu hết du khách đều lang thang trong vườn, nhón tay bẻ những chùm chôm chôm chín mọng, cảm nhận vị chua chua, ngọt ngọt tan trên đầu lưỡi, ghé sát vào từng trái mít tố nữ trên cây, hít mùi nhựa còn vương trên cuống. Vài vị khách may mắn nhặt được quả sầu riêng to khoảng 4kg, hào sảng gọi vài người khác cùng thưởng thức “vị ngon trên từng ngón tay” của những múi sầu riêng vàng ươm, thơm lừng, ngọt lịm.

Sau khi “no đủ” hương, vị trái cây, du khách đi dọc theo cồn, tham quan, mua sắm tại các cơ sở làm kẹo dừa, ngắm những miếng vải lọc bột, khuôn kẹo dẹp nhỏ, nhón tay thử một chiếc kẹo còn nóng hổi. Hay thán phục những bàn tay thoăn thoát của người thợ “thổi hồn” vào những thân, vỏ dừa, tạo thành những chú heo ngộ nghĩnh, chiếc bóp dầm xinh xắn, xe ba gác nhiều màu sắc, đến đồ dùng nhà bếp như chén, bát, muỗng, thìa…

Một loại hình văn hoá của miền Tây không thể không nhắc đến trong chuyến đi là đàn ca tài tử. Phòng đàn ca tài tử trên cồn là một hang đá nhân tạo có nhiều thạch nhũ và ba băng ghế dài dành cho du khách. Trong không gian sông nước, giọng ca ngọt lịm của các nghệ sỹ khi thì thầm, khi cao vút kể cho bạn nghe về những cái hay, đẹp của vùng đất này.

Bên cạnh đó, khu du lịch Cồn Phụng còn nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn khác như motor nước, kéo phao, câu cá sấu (những trò chơi gây cảm giác mạnh lần đầu tiên có mặt tại miền Tây Nam bộ). Khách cũng có thể chụp hình bên những chú đà điểu thân thiện, mến khách tại đây.

Các sản phẩm mỹ nghệ được làm từ thân và vỏ trái dừa khô.


http://img.news.zing.vn/img/593/t593136.jpg

Cầu khỉ đặc trưng miền sông nước.

http://img.news.zing.vn/img/593/t593137.jpg

Sân 9 rồng.

Huỳnh Hằng

http://phorum.vietbao.com

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 18, 2011 in Hình ảnh, Địa danh

 

CÁC ĐỊA DANH MIỀN NAM

Tác giả: Trần Nguơn Phiêu

Miền Nam Việt Nam là miền đất mới với lịch sử vài trăm năm so với đất Bắc “ngàn năm văn vật”. Các địa danh ở miền Bắc thường mang những tên Hán Việt như Thăng Long, Hà Nội, Lạng Sơn, Sơn Tây, Hòa Bình… Miền Trung có Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định… Miền Nam, nơi định cư của những người phải bỏ các xóm làng cũ từ miền ngoài vào khai quang để tìm cơ hội mới lập nghiệp, nên các địa danh do họ đặt tên có nhiều đặc thù, khác với các địa danh Trung Bắc.

Người Việt vào Nam khẩn hoang vẫn mang theo mình nền văn minh lúa nước nhiều đời của dân tộc. Tuy đất ở miền Nam vào thời bấy giờ còn rất hoang vu nhưng họ đã thấy đây là một vùng có tiềm năng trong tương lai về nông nghiệp, một “địa cuộc” tốt (“địa cuộc”, danh từ do Trịnh Hoài Đức viết đầu tiên trong Gia Định thành Thông chí).

Làng mạc lúc đầu thường được bố trí sao cho thích hợp với việc làm ruộng nước. Nghề làm ruộng là một việc chăm lo lúa không kể ngày đêm, giờ giấc. Vì thế nên nhà không thể cất xa thửa ruộng và cần phải có nước uống cho gia đình. Nơi tiện lợi nhất để chọn nơi cất nhà phải là nơi tương đối cao ráo. Giồng là những nơi đất cao được ưa chuộng để lập xóm làng. Nơi đây khi đào giếng lại có được nước ngọt để sinh sống. Nhìn trên bản đồ, giồng ở miền Nam là những lằn song song, hết giồng tới nước, dọc theo sông Tiền và sông Hậu. Địa danh các nơi đây đã được lưu truyền qua nhiều đời như Giồng ông Tố gần Sài Gòn, đất Ba Giồng trù phú miền Mỹ Tho, giồng Càng Long, giồng Cầu Kè, giồng Cầu Ngang, giồng Tiểu Cần, giồng Chùa Chim ở Trà Vinh, giồng Vũng Liêm, giồng Trôm ở Bến Tre, giồng Riềng ở Rạch Giá…

Vùng đất cao, nhỏ hơn giồng được gọi là gò, cũng được ưa chọn làm nơi cư ngụ như Gò Vấp gần Sài Gòn, gò Bắc Chiên trên con đường Sài Gòn lên Nam Vang, gò Đen vùng Tân An quê hương của nhà cách mạng Nguyễn Văn Tạo, gò Dưa gần Thủ Đức, gò Lũy hay gò Lữ vùng Cai Lậy, Gò Dầu Hạ gần Tây Ninh, Gò Quao, Gò Công…

Việc trao đổi hàng hóa, mua bán phẩm vật ở các nơi đông dân cư đưa đến hình thành các chợ. Sài Gòn được biết ngày xưa với danh xưng Chợ Bến Thành. Địa danh Sài Gòn có nhiều giả thuyết. Có thể do phiên âm của tiếng Prei-kor(rừng cây bông gòn) hoặc của tiếng Prei-Nokor(đô lâm hay hoàng lâm) vì đây có tư dinh của Phó vương Cao Miên. Một giả thuyết khác là năm 1778, người Minh hương còn sống sót sau khi quân Nguyễn Huệ tàn sát dân Cù lao Phố ở Biên Hòa họ phải rút về đây sống dọc kinh Tàu Hủ. Để ngăn nước họ đã xây bờ gạch cao dọc kinh. Bờ gạch này được họ gọi là Thày-ngòn (Đê ngạn). Người Pháp phiên âm ra Sài Gòn. Thêm một thuyết nữa là Sài Gòn có thể do phiên âm của Tây cống, nơi nhận cống lễ của các đời vua Cao Miên dâng cho vua Việt Nam. Khít bên Sài Gòn là Chợ Lớn với các tiệm buôn của người Hoa, Chợ Cũ Sài Gòn, Chợ Quán, Chợ Cầu Ông Lãnh, Chợ Rẫy, Chợ Bà Chiểu Gia Định, Chợ Bà Điểm, Chợ Bà Hom, Chợ Bà Quẹo..; Chợ Lách ở Vĩnh Long. Chợ Đệm ở Tân An quê của “hung thần” Nguyễn Văn Trấn người đã theo lịnh Trần Văn Giàu thủ tiêu bao nhà ái quốc miền Nam, Chợ ông Văn, Chợ Gạo ở Mỹ Tho nơi các ghe lúa từ Lục Tỉnh tập trung xay ra gạo để đưa vào Chợ Lớn- Sài Gòn; Chợ Dinh gần Nha Mân…

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi sông rạch chằng chịch nên các bến là nơi quan trọng để ghe thuyền có nơi thuận tiện trao đổi hàng hóa. Bến Nghé có thể là bến lớn đầu tiên trong Nam vì dân cố cựu vẫn gọi Bến Nghé là tên cũ của Sài Gòn. Ngoài ra còn bao nhiêu bến như Bến Tre hoặc Bến Tranh, Bến Lức ở Mỹ Tho. Thủ Dầu Một có Bến Cỏ. Biên Hòa có Bến Cá vùng Tân Triều, nơi sản xuất bưởi ổi danh tiếng, Bến Gỗ thuộc Biên Hòa quê hương của cố Trung tướng Đỗ Cao Trí…

Một danh từ khác đặc biệt ở miền Nam là nơi các cửa sông rạch đổ ra các sông lớn hay sông cái, tên rạch thường mang chữ “cái” đứng đầu. Việc này có thể do chữ “ngã cái”, tức ngã đổ ra sông cái. Vì được gọi tắt nên gọn lại chỉ còn chữ cái?. Các nơi nổi tiếng gồm có: Cái Bè tỉnh Mỹ Tho với loại cam Cái Bè lớn và ngon thơm, Cái Mơn với cây trái nổi tiếng, Cái Nhum với Nhà Dòng Cái Nhum nơi đào tạo các thầy giảng Thiên Chúa Giáo, Cái Nước ở Cà Mau, Cái Môn nơi đồn binh của Quản Trần Văn Thành án ngữ căn cứ chống Pháp ở Láng Linh, Cái Cối, Cái Lớn ở Rạch Giá, Cái Dầu thuộc Châu Đốc. Cái Sắn là vùng dinh điền rộng lớn miệt Rạch Giá. Cái Vồn thuộc Cần Thơ đã nổi tiếng một thời khi Tướng Hòa Hảo Năm Lửa đặt bản doanh nơi đây. Cái Tàu là con sông nối với sông Ông Đốc của Cà Mau. Vùng đất giữa hai con sông Cái Tàu và sông Ông Đốc cùng với bờ biển Vịnh Thái lan tạo một thể hình tam giác tức vùng U Minh Hạ. Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ giữa Mỹ Thuận và Sa Đéc là hai con rạch khác với sông Cái Tàu ở Cà Mau. Riêng Cái Răng ở Cần Thơ là do từ tiếng Miên “kran”, loại lò nấu củi nắn bằng đất sét. Người Việt phát âm từ karan biến ra Cái Răng. Nơi đây người Thổ chuyên làm loại “cà ràng ông Táo” ở Xà Tón Tri Tôn chở ghe theo Sông Cái đến đậu nơi này để bán.

Giao thông đường thủy còn có các rạch nhỏ. Đây là đặc điểm của miền Hậu Giang. Rạch đưa nước từ các sông cái vào các ruộng lúa. Nước rạch chảy theo thủy triều chớ không chảy theo độ nghiêng của đất: nước lớn thì chảy từ sông cái vào ruộng, nước ròng thì từ ngọn rút ra sông. Từ Thốt Nốt lên chợ Long Xuyên trên khoảng đường 19 cây số có thể đếm đến 30 con rạch cắt ngang bờ sông Hậu! Tên các rạch thì nhiều vô số kể. Thường chỉ có người địa phương mới biết chắc các vị trí ngoại trừ các rạch danh tiếng trong lịch sử như Rạch Gầm là nơi Nguyễn Huệ đã tiêu diệt các hải thuyền của quân Xiêm. Tên rạch thường lấy tên các thảo mộc mọc theo rạch như Rạch Chanh, có khi còn được gọi là kinh Bà Bèo (Nơi đây toàn là bàu và bèo, dân chúng nói nhanh nên sau thành “bà bèo”. Thật ra theo các nghiên cứu, không có bà nào tên Bèo ở nơi này). Rạch Chanh còn có tên chữ nho là Đăng Giang với sự tích Nguyễn Ánh trên đường bị quân Nguyễn Huệ đuổi bắt phải cởi lưng trâu vượt rạch vì nơi đây ngày xưa đầy cá sấu. Đời sau lại đặt truyền thuyết “vua nhờ cá sấu đưa qua sông” và đặt lò sứ bên Trung Hoa làm những bộ chén trà “Ngư Gia độ Hoàng Gia, Âm tinh ngộ đế tinh”! Rạch Chiết nối sông Đồng Nai qua sông Sài Gòn. Rạch Choại vùng Biên Hòa(choại là một loại mây dùng bện sáo). Rạch Lá vùng Gò Công, rạch Thốt Nốt vùng Thất Sơn, rạch Xoài Mút vùng Mỹ Tho, Rạch Giá tên dân giả của tỉnh Kiên Giang( giá là một loại cây tràm, bông trắng, ong hút mật làm ra loại sáp rất trắng. Loại sáp này ngày xưa phải nạp ra Huế gọi là “thuế bạch lạp”). Rạch Dừa ở Hà Tiên. Rạch Gỗ Đền vùng An Giang. Ngoài việc đặt tên rạch theo các loại cây, rạch nhiều khi được đặt tên theo các cơ cấu đất đai hay theo tên các nhân vật được biết tiếng. Đó là trường hợp như Rạch Sỏi ở Rạch Giá, Rạch Cát vùng Chợ Đệm nhưng tên rạch cát cũng còn thấy ở nhiều nơi như Rạch Cát ở Biên Hòa. Vùng Kiến Phong có con rạch tên ngộ nghĩnh là rạch Cái Thia. Biên Hòa có Rạch Lá Buông, Rạch Ông Lớn, Rạch Ông Nhỏ (chảy từ rạch Ông Lớn vô Chợ Lớn), Rạch Nước Lộn trổ ra vàm sông lớn Mô Xoài. Mỹ Tho có rạch Ông Hổ nơi chôn tổ tiên của Tả quân Lê Văn Duyệt. Vùng Mộc Hóa còn có con kinh tên Kinh Ông Lớn nối liền kinh Lagrange ra sông Vàm Cỏ Tây. Ông Lớn đây là Thiên hộ Dương anh hùng kháng Pháp. Rạch Thị Nghè ở Sài Gòn thời trước được gọi Rạch Bà Nghè. Bà tên Nguyễn Thị Khánh con của Thống xuất Nguyễn Cữu Vân. Bà đẹp duyên với một ông Nghè ở Thạnh Mỹ tây thuộc mé bên kia rạch. Ông Nghè mỗi ngày phải lấy đò qua rạch nên bà ra công xây cầu cho ông đi làm việc. Cầu được gọi là cầu Bà Nghè, con rạch cũng được dân chúng gọi là rạch Bà Nghè. Người Pháp sau đặt tên là Thị Nghè. Có lẽ vì kị không dám kêu tên nên dân chỉ dùng chức tước. Trong thành phố Sa Đéc có rạch Ông Nhiêu là một chức quan. Vị này là cố của vợ tác giả bài viết này. Vì đất ở đây bị sụp lở từ Sông Tiền vào nên nay rạch Ông Nhiêu đã biến mất. Ở bờ phía Nam của sông Tiền tỉnh lỵ Sa Đéc có sông Sa Đéc với các rạch tên rất “Nam Kỳ” như rạch Nàng Hai, ngã ba Nước Xoáy, chợ Cồn, rạch Đất Sét… Một trong những sông quan trọng miền Cà Mau có tên Sông Ông Đốc, có thể là một chức tước thay vì là tên họ? Hai con rạch khác tỉnh Kiến Phong ở tả ngạn sông Tiền là Đốc Vàng Thượng và Đốc Vàng Hạ. Đốc binh Vàng và chưởng binh Lễ đã toàn thắng liên quân Xiêm-Cao Miên ở Cù Hu năm 1837 nhưng cả hai đều tử trận! Đốc Vàng Hạ là nơi Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh ám hại năm 1946.

Nói về sông rạch phải kể đến vàm. Miền nam có Vàm Cỏ là sông lớn chảy từ cửa Soài Rạp đến chợ Xà bang mới chia thành hai nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Hà Tiên có Vàm Cậu. Long Xuyên có Vàm Cống. Ngọn rạch từ giữa rừng Sác ra sông Soài Rạp mang tên Vàm Sác. Vàm Nao là con sông ăn thông từ sông Tiền qua sông Hậu giữa Long Xuyên và Châu Đốc. Đây là nơi năm 1787, Nguyễn Ánh hội binh các Trấn để đánh Tây Sơn.

Sông Cửu Long là một sông dài trên 4000 cây số bắt nguồn từ Tây Tạng. Đến miền Nam sông Cửu Long chia làm hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, trước khi đổ ra biển qua chín cửa. Bắt đầu là Cửa Tiểu là cửa thứ nhất kể từø Sài Gòn kể xuống. Đây là nhánh thứ nhất chảy ngang thành phố Mỹ Tho rồi đổ ra Nam Hải. Nhánh thứ hai sông Tiền đổ ra Cửa Đại. Các nhánh sông Tiền khác đổ ra biển gồm có cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Ba Lai, cửa Cung Hầu (còn được gọi tên khác là cửa Cồn Ngao). Sông Hậu đổ ra Nam Hải bằng cửa Ba Thắc cạnh cù lao Dung, ở giữa hai bên là cửa Tranh Đề (còn có tên là Trấn Di) và cửa Định An. Ngoài chín cửa của sông Cửu Long còn các cửa khác như cửa Bãi Ngao hướng nam tỉnh Vĩnh Long. Thượng Tân Thị có bài thơ:

Đứng ngó quanh về phía Bãi Ngao,
Một trời, một biển, một cù lao…

Về phía Tây Nam lối 100 dặm có cửa Gành Hào là một nơi có nhiều thổ sản như mật ong, sáp trắng…và thủy sản cá cua rất dồi dào. Rạch Gành Hào là con sông hợp lưu với sông Ông Đốc chảy ngang Cà Mau để trổ ra Nam Hải. Cà Mau còn có Cửa Lớn một con sông bắt nguồn ở Đầm Dơi chảy ngang Năm Căn rồi đổ ra Nam Hải ở vàm Cửa Lớn. Một sông trùng tên Cửa Lớn khác của Cà Mau là con sông nối liền sông Bảy Háp và sông Tràm Chim và đổ ra eo biển Cà Mau. Vùng Cà Mau còn cửa Bồ Đề chảy ra Nam Hải và cửa Ông Đốc chảy ra Vịnh Thái Lan. Sông Ông Đốc trong lòng Cà Mau chia thành hai nhánh: một chảy ngược nối với rạch Cái Tàu đổ ra Vịnh Thái Lan, nhánh kia nối với sông Gành Hào chảy ra Nam Hải. Cửa Bồ Đề và cửa Ông Đốc là nơi các ghe, tàu từ Bắc Việt đổ bộ vũ khí, đạn dược để tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Các tàu này từ hải phận quốc tế chờ lúc thuận tiện, tránh né tàu tuần Hải Quân miền Nam để lén lút đổ bộ quân dụng. Vòng lên phía Bắc vịnh Thái Lan còn có cửa quan trọng khác là cửa biển Rạch Giá.

Ở miền Nam, ngoài các sông rạch phụ thuộc sông Cửu Long còn phải kể thêm các sông khác như sông Đồng Nai ở miền Đông. Đây là một sông lớn bắt nguồn từ Đồng Nai thượng với hai phụ lưu: sông Bé và sông La Ngà. Nước sông Đồng Nai vốn có tiếng là nước trong và ngọt (“Gạo Ba Thắt, nước Đồng Nai”). Vùng Biên Hòa, về hạ lưu sông Phước, hai sông Đông Giang và Tây Giang bị cù lao Cái Tắt chia hai. Đến chỗ hai sông này nhập lại, ông bà ngày xưa đặt cho cái tên ngộ nghĩnh là sông Chàng Hãng, tên chữ là Lan Vu Giang.

Giao thông đường thủy miền Nam do các sông rạch thiên nhiên còn được bổ túc với bao nhiêu kinh đào. Nhiều kinh đã được đào từ thời người Chân Lạp nhưng đã bị lấp cạn phần nào. Thời thuộc địa Pháp, với phương tiện cơ giới nên rất nhiều kinh đã được hoàn thành để nối các sông rạch cho thuận tiện ghe thuyền di chuyển và cũng để tháo nước phèn để thêm đất canh tác. Có một con kinh được Pháp đặt tên Kinh 4 bis (Kinh số 4 phụ), được dân chúng phiên âm thành Kinh Cát Bích hoặc Cát Bít! Tổng thống Ngô Đình Diệm đã có công hoàn thành con kinh quan trọng ở Đồng Tháp là kinh Đồng Tiến. Thời nhà Nguyễn phải kể đến việc đào thành công con kinh chiến lược nối liền đường nước từ Châu Đốc ra cửa biển Hà Tiên. Phải mất 5 năm, từ 1819 đến 1824 mới đào xong. Ngoài việc giúp tiện lợi giao thông, con kinh còn để phân định biên giới giữa Việt Nam và Cam Bốt. Vua Minh mạng đã ban cho tên kinh là kinh Vĩnh Tế, tên của vợ công thần Thoại Ngọc Hầu.

Vì có nhiều sông ngòi nên một đặc điểm khác của miền Nam là có vô số cù lao và cồn trên sông. Các cù lao loại lớn bắt đầu từ miền Đông có Cù Lao Phố ở Biên Hòa. Đây là một cù lao trù phú danh tiếng chẳng những ở Việt Nam mà cả ở Đông Nam Á thời đàng cựu. Ghe tàu ngoại quốc tấp nập đến đây trao đổi hàng hóa. Trần Thượng Xuyên, Tổng binh tỉnh Quảng Đông thời nhà Minh vì không thuần phục nhà Thanh nên đã dùng 50 chiến thuyền cùng bộ hạ và gia đình đến xin được tá túc với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền Vương) cho họ vào đây lập nghiệp. Trần Thượng Xuyên lá người đã có tài và công xây dựng được trung tâm thương mại quan trọng này. Trong thời tranh chấp Nguyễn Ánh- Nguyễn Huệ, quân Nguyễn Huệ đã tàn sát cư dân ở đây, khiến những người sống sót phải di dân về thành lập khu Chợ Lớn phồn thịnh ngày nay. Trên các sông Tiền và sông Hậu, cù lao hay được nhắc tên là cù lao Giêng ở Long Xuyên. Nơi đây có cô nhi viện lâu đời do các dì phước phụ trách. Cù lao Đại Châu gồm có 5 làng là cù lao giữa cửa Tiểu và cửa Đại, còn có tên gọi là Trấn Hải Châu. Một cù lao lớn thuộc Sóc Trăng dài trên 35 dặm trên sông Hậu là cù lao Dung. Cù lao Minh giữa Cổ Chiên và Hàm Luông (Bến Tre), cù lao Năm Thôn là một trong vài cù lao lớn miền Lục Tỉnh. Các cù lao lớn nhỏ khác kể ra không siết. Tưởng chỉ nên kể thêm một cù lao đặc biệt trấn giữ mặt trước cho châu thành Mỹ Tho: đó là cù lao Rồng. Nơi đây trước kia là chỗ an trí các người mắc phải bịnh cùi. Miền Hậu Giang, nói đến cù lao phải kể đến cù lao Ông Chưởng, nơi Chưởng binh Nguyễn Hữu Cảnh bị bịnh nặng phải bỏ mình sau khi chiến thắng quân Chân Lạp của Nặc Thu năm 1699. Câu hát đưa em ở miền Nam đã đi vào văn hóa bình dân:

Bao phen quạ nói với diều:
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Trên mặt biển các cù lao thường được gọi là hòn. Lớn nhất và có tiềm năng kinh tế rất quan trọng là hòn Phú Quốc, rộng 200 dặm từ Đông đến Tây. Ngoài việc sản xuất các thổ sản như tiêu, dừa… Phú Quốc còn được biết trên toàn quốc với loại nước mắm hòn thơm diệu. Vùng Hà Tiên còn có các hòn Dầu Rái, hòn Chông nơi có động gọi chùa Hang. Trong Chùa Hang có hai tượng Phật tạc từ thế kỷ thứ XIV. Từ hòn Chông trông ra biển còn có hòn Phụ Tử. Ngay cửa biển Rạch Giá có Hòn Tre châu vi 20 dặm. Ngang vàm sông Ông Đốc ngoài vịnh Thái Lan có hòn Đá Bạc, rộng độ một cây số vuông. Nơi hòn này Việt Minh đã xử tử nhà ái quốc Hồ Văn Ngà. Trước khi chết ông Ngà đã nói với phía Cộng Sản:

Giết thì cứ giết nhưng đừng kêu qua là Việt gian

Phía tây cách Mũi Cà Mau độ 10 cây số có Hòn Khoai (Poulo Obi). Nơi đây có một ngọn hải đăng và đặc biệt lại có nguồn nước ngọt. Các ghe từ Cà Mau thường ra đây để lấy nước chở về tiếp tế cho dân chúng. Ngoài khơi tỉnh Rạch Giá có hòn Sơn Rái (Tamassou) và quần đảo Cổ Tròn (Poulo Dama) là hai nơi các tàu tuần duyên Hải Quân thường ghé khi thủy thủ đoàn cần tạm nghỉ. Kể về các hòn, ngoài quần đảo Côn Sơn danh tiếng mọi người đều biết, không thể quên một hòn nằm xa nhất về phía Nam vịnh Thái Lan. Đó là hòn Thổ Châu (Poulo Panjang), diện tích trên 100 dặm. Các ghe của dân chài lưới thường đến đây và tùy theo hướng gió mùa, cập bến hoặc bên bờ Đông hay bờ Tây của đảo. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Hải Quân thiết lập một căn cứ thường trực nơi đây. Trên núi còn có một ngôi cổ tự được các vị sư ẩn tu chăm sóc.

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Ngày xưa các đường trong thị trấn không mang tên các nhân vật như ngày nay. Tỉnh lỵ Gia Định có các đường được dân chúng gọi theo các loại cây trồng: đường Hàng Bàng từ Cầu Bông đến Lăng Ông, đường Hàng Thị nơi có Kho Bạc và căn phố của ông Nguyễn An Ninh với tủ sách quý, đường Hàng Xanh từ Gia Định qua Thị Nghè với chùa Sư Muôn, đường Hàng Keo với cái bót mật thám Pháp giam các nhà ái quốc, đường Thốt Nốt gần Lăng Ông nơi có căn phố của Tạ Thu Thâu từng ở nhiều năm. Nhiều con đường khác sau này được đặt tên các nhân vật nhưng dân chúng vẫn dùng các tên xưa: đường Lò Heo Mới, đường Lò Heo Cũ, đường Nhà Thờ, bến Tắm Ngựa.

Miền Nam là vùng đồng bằng với rất nhiều sông rạch. Trái lại, núi non ở đây rất hiếm hoi. Ở mạn Đông Bắc mới có các núi nhỏ như Biên Hòa có núi Châu Thới cao độ 60 thước với chùa Hội Sơn trên đỉnh, núi Bữu Long, núi Đá Lửa, núi Đá Trắng…; núi Thị Vãi, núi Dinh vùng Bà Rịa; núi Lớn ở Vũng Tàu. Núi cao miền Đông chỉ có núi Chứa Chan (803 thước). Tây Ninh có núi Bà Đen, người khơ me gọi làyéay khmau (lảo bà đen) một nữ thần gốc Thổ, được vua Gia Long phong “Linh Sơn Thánh Mẫu”. Về phía Tây, vùng Hà Tiên có vài núi nhỏ như núi Phù Dung, núi Địa Tạng, núi Đá Dựng, núi Mây(Vân Sơn). Chỉ có vùng Châu Đốc mới có dải núi quan trọng là Thất Sơn hay Bảy Núi. Được biết nhiều nhất là Núi Sam, nơi có mộ phu nhân Thoại Ngọc Hầu, mộ Phật Thầy Tây An và miếu bà Chúa Xứ; núi Sập với đền thờ Thoại Ngọc Hầu. Núi Sập còn có tên Thoại Sơn, do triều đình Huế đặt để tưởng thưởng Thoại Ngọc Hầu, người có công đào cảng Đông Xuyên tức sông Ông Thoại và kinh Vĩnh Tế.

Tóm lại, trong khi ở miền Bắc hay Trung, các địa danh thường có những tên văn hoa thì ở miền Nam các địa danh lại có đặc tánh bình dân, mộc mạc. Chỉ trừ các nơi khi bắt đầu khai phá được các quan chức thời xưa đặt cho các tên văn chương Hán Việt như Biên Trấn, Gia Định, Tân An, Long Hồ…tên các nơi khác thường được dân chúng kêu trại ra từ các tên của hoặc Chàm, hoặc Khơ Me. Bắt đầu như Bà Rịa do tiếng Yéay Ria của Thổ tức lão bà hay mụ Ria. Châu Đốc theo người Khơ Me tên Mắt cruk và họ gọi đây là sóc Miệng heo. Sốc Trăng tên Khơ me là Păm prêk srok khlẳn (Péam: vàm; prêk: sông; srok: sốc; klẳn: kho bạc. Thời Khơ Me nơi đây có đặt một kho bạc). Đời Minh Mạng, tên chữ là Nguyệt Giang Tinh, dân gian gọi nôm na lại thành Sốc Trăng, bỏ chữ Nguyệt! Cà Mau do tiếng Khơ Me Tuk-khmau (nước đen). Vĩnh Bình do tiếng Khơ Me Preatrapeang (Hồ thánh). Bạc Liêu do tên Khơ Me Po-Loeuh (Cây da cao). Từ Long Xuyên đi Châu Đốc có Chắc Cà Đao nơi được biết tiếng do việc tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh tức Ba Cụt đã bị bắt nơi đây. Ba Cụt đã được Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ dụ ra hàng nên đã bị bắt và đã bị Tổng thống Ngô Đình Diệm xử tử bằng máy chém ở Cần Thơ. Chắc Cà Đao có lẽ là nói trại từ tiếng Khơ Me Cháp Cà Đam (cháp: bắt; Kdam: cua). Khi cuộc Nam Tiến kết thúc ở Hà Tiên, có lẽ nhờ ảnh hưởng phát huy văn hóa của các danh nhân khai phá vùng đất này như Mặc Cữu và con là Mặc Thiên Tứ (tác giả mười bài: Hà Tiên thập cảnh) nên nơi đây lại có những địa danh Hán Việt: Hà Tiên, Đông Hồ, Tô Châu, Hà Giang, Vân Sơn, Phù Dung…

Người bình dân thích chọn những danh từ họ dễ nhớ, phù hợp với sự suy diễn của họ. Trong việc giao dịch hằng ngày, dân chúng vẫn dùng những ngôn ngữ quen thuộc được truyền lại từ nhiều đời. Tổng thống Ngô Đình Diệm, người từ miền Trung vào nắm vận mạng miền Nam, đã có một thời đặt lại tên có tánh cách Hán Việt cho các địa danh ở miền đất này nhưng dân chúng vẫn thích gọi Cà Mau thay vì An Xuyên, Rạch Giá thay vì Kiên Giang, Long Xuyên thay gì An Giang, Cần Thơ thay vì Phong Dinh, Sốc Trăng thay vì Ba Xuyên, Mộc Hóa thay vì Kiến Tường, Blao thay gì Bảo Lộc…!

Để kết thúc bài viết này, tác giả không thể không kể đến một chuyện vui. Khi có cuộc hành quân Sóng Tình Thương vào vùng Cà Mau, một an toàn khu nhiều đời của Cộng Sản, trong buổi ăn sáng ở phòng ăn sĩ quan trên Hải Vận Hạm Cam Ranh HQ 500, Chỉ huy trưởng cuộc hành quân, cố Trung tướng Thủy quân Lục chiến Lê Nguyên Khang – lúc ấy còn mang cấp bực Trung tá – đã nói: “Trước giờ xuất phát, tôi xin nói với các đơn vị trưởng: Tối hôm qua, tôi xem trên bản đồ thấy gần Ngã ba Hóc Năng có rạch Ông Phiêu. Tôi không thể viết trong lịnh Hành quân nhưng tôi yêu cầu quý vị đơn vị trưởng đừng có đem bác sĩ Phiêu léng phéng đến cái rạch đó!”” 

Trần Nguơn Phiêu 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 18, 2011 in Địa danh

 

Tình yêu, hạnh phúc trong ca dao – dân ca Quảng Nam

thaonguyenbt2010

Là một bộ phận cấu thành của văn học dân gian, ca dao – dân ca xứ Quảng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền,đồng thời, cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời hạnh phúc, tri thức mới. Ca dao – dân ca xứ Quảng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của ca dao dân ca Việt Nam.

Ca dao – dân ca xứ Quảng thường được sáng tác dựa theo cái khung có sẵn. Dù vậy,câu ca dao -dân ca mới sáng tác vẫn hay. Những tình cảm mới được lồng vào trong những khung chung có tình chất tiêu chuẩn mà mọi người đã thừa nhận làm cho câu ca dao dân ca dễ trở thành “của chung”. (Đặng Văn Lung, trong Văn học Dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo Dục, TP.HCM, 1999, tr. 298)

Ca dao – dân ca xứ Quảng có tính dị bản. Đây là một hiện tượng lạ lùng, độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ địa phương nào khác.

Ca dao – dân ca xứ Quảng mang đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Truyền tải tâm tư, tình cảm, tình yêu – hạnh phúc… của những con người nơi đây.

2. Quan niệm về tình yêu hạnh phúc của người dân xứ Quảng:

Những con người xứ Quảng – khúc ruột miền Trung, xứ sở của nắng mưa và gió bão. Những con người tưởng chừng như chỉ ngoi ngóp mãi trong cái bể khổ của cuộc đời. Vậy mà không, thật bất ngờ khi những câu ca dao – dân ca của họ ngân lên thì kiếp người đau khổ đã tan biến đi chỉ còn lại những gì thiêng liêng và cao quý. Họ bỏ qua những trắc trở, khó khăn, tìm đến niềm vui, tình yêu, hạnh phúc…

Người xứ Quảng quan niệm tình yêu – hạnh phúc của mình phải do chính mình lựa chọn hạnh phúc, họ chủ động đi tìm tình yêu – hạnh phúc của mình chứ không phải do ai sắp đặt cả. Tình yêu hạnh phúc được tìm thấy từ chỗ sợ cái lạ đến chỗ chủ động đi tìm cái lạ, khát khao, nhạy cảm với cái mới…

Tình yêu – hạnh phúc của những con người xứ Quảng ở trong chính những điều bình dị của cuộc sống hằng ngày của họ như một đặc sản, miếng ăn đậm chất Quảng cũng làm lòng người xứ Quảng xích lại gần nhau hơn, hay như chính những câu ca dao – dân ca nói về địa danh của quê hương cũng làm những người con đất Quảng tìm thấy tình yêu – hạnh phúc của mình trong đó khi xa quê,hoặc có thể là lời nhắn gửi nhớ thương, chờ đợi người đi được thổ lộ cũng làm người xứ Quảng có niềm tin hơn trong tình yêu – hạnh phúc của mình.

3. Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao dân ca xứ Quảng:

a. Tình yêu – hạnh phúc ở ngay trên chính hành trình đi tìm:

Dù phải lên non cao ,dù phải vượt qua tam tứ núi người xứ Quảng vẫn đi tìm. Vất vả là thế mà họ chỉ đi tìm cái bình thường giản dị nhất:

‘Lên non tìm hòn đá trắng
Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?
Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu
Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời.”

“Lên non tìm hòn đá trắng” – Ô hay! Không phải tìm vàng hay tìm trầm mà chỉ tìm hòn đá trắng! Thật là kỳ diệu cái màu trắng thanh bạch,trong ngần vô giá. Nhưng nếu hiểu ở câu chữ không thì chưa đủ. Đọc xong ngẫm lại ta thấy giai điệu không nhẹ nhàng êm ái chút nào bởi hai thanh trắc (đá trắng) ở cuối câu lục thì thật là lạ. Phải chăng đó là nghịch lý của cuộc đời dù chỉ đi tìm điều đơn giản nhất. Nhưng rồi khi đọc câu tiếp theo:

“Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?”

Ta như vỡ lẽ: À, thì ra con người xứ Quảng mượn hình ảnh bình thường nhất là hòn đá. Nhưng điều họ muốn gửi gắm lòng mình ở đây không phải là vật chất. Vì họ lại đi trách con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu. Phải chăng con người đất Quảng luôn nuôi dưỡng tình người. Họ nói đến chim phượng hoàng là nói đến hình bóng của tình nhân quân tử, của nhơn tình nhơn ngãi trong tâm hồn họ. Dù phải vượt qua mọi gian lao vất vả để đến với con chim phượng hoàng nhưng tiếc cái âm thanh mong đợi mà họ cần tìm lại lịm tắt. Nếu thả hồn tận hưởng khúc nhạc ca dao thì ta như bắt gặp nỗi lòng người thương, bắt gặp tình cảm dặn dò tha thiết luôn ngân nga:

“Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng
Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em”

Hay:

“Yêu nhau chẳng lọ bạc vàng
Tình thân nghĩa thiết xin đừng chớ quên”

Thế mới hiểu rằng đời người biết bao cảnh ngộ éo le trắc trở để khi yêu nhau họ phải dặn dò, than thở. Nhưng rồi cái thâm thuý của bài ca dao không dừng ở đó. Nó khẳng định một điều trở thành chân lý:

“Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu”

Vậy là dù hòn đá trắng – màu trắng trinh nguyên nhưng rồi nó cũng phải bị rêu xanh bao phủ bởi tháng năm, bởi mưa nắng. Thì ra bài ca dao đã nhắc nhở, cảnh báo rằng nếu ai không giữ được lòng mình thì thời gian sẽ làm cho ta không còn là ta nữa. Thần tình quá! Sự thay đổi sắc màu hay sự thay lòng đổi dạ của con người? Bài ca dao khép lại mà trong ta phải luôn suy nghĩ:

“Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời”

Thật là một sự bao dung và nhân hậu. Con người xứ ‘mía ngọt đường thơm’ không nguyền rủa đứa nào ăn ở bạc sẽ bị thế này hay thế khác… mà chỉ có tiếng dế não nùng thấu tận trời xanh. Nhưng thâm thuý lắm đấy! Tiếng dế réo rắt suốt đêm trường, liệu lương tâm con người bội bạc không day dứt, không dày vò, không nhức nhối trong hối hận trong đau khổ? Mà chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ở tâm hồn!

Vậy là bài ca dao hồn nhiên nhưng đặc quánh cốt cách của con người xứ Quảng mà cũng rất Việt Nam: Con người trọng nhân nghĩa, chung tình và ghét thói bội bạc vong ơn . Dù năm tháng có trôi xa, nhưng những lời ca cứ mãi ngân vang trong ta. Nói như Nguyễn Đình Thi thì theo dòng ca dao càng làm cho ta thêm yêu. Yêu là để sống. Là để thêm mạnh mẽ trong lao động, trong đấu tranh. Một tình yêu chất phác mà cao thượng, bình dị mà sâu sắc biết bao!

Là thế đó, dù rằng giai điệu bài ca dao cất lên có vẻ buồn, nhưng không thế,ẩn sâu bên trong đó vẫn có những cái mà người Quảng luôn tự khẳng định, họ nói ra để quên đi cái khổ, quên đi nỗi lòng và cảm thấy hạnh phúc vì những gì giấu kín đã được bộc bạch, họ nói ra để biết mình cần phải vượt qua những thử thách ,trở ngại đó. Và vì thế, người Quảng vẫn cứ thấy được tình yêu – hạnh phúc mà người đọc cứ ngỡ như rằng họ đang than thở.

b. Tình yêu – hạnh phúc ở sự chủ động, lựa chọn:

Chủ thể trữ tình trong ca dao – dân ca xứ Quảng nói về tình yêu đôi lứa đa phần là phụ nữ. Có lẽ tình trường họ hứng chịu khổ đau nhiều hơn nam giới, do vậy mà nhu cầu bộc lộ giãi bày bằng tiếng hát lời ca ở họ cũng lớn hơn chăng. Quả là khi yêu, người phụ nữ phải đối mặt với bao nhiêu bất trắc:

‘Thương chàng thiếp phải đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm không đau
Không đau ơi hỡi không đau
Té xuống năm trước năm sau chưa lành’

hoặc:

“Ba với ba là sáu
Sáu với bảy mười ba
Bạn nói với ta không thiệt không thà
Như cây đủng đỉnh trên già dưới non
Khi xưa bạn nói với ta chưa vợ chưa con
Bây giờ ai đứng đầu non đó bạn tề
Bạn nói với ta bạn chưa có hiền thê
Bây chừ hiền thê mô đứng đó bạn trả lại lời thề cho ta’

hoặc:

‘Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ
Bạn phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán sấm dật dờ quán sen’…

Cả khi hai người cùng chung cảnh ngộ, thì phụ nữ thường cũng thiệt thòi hơn:

‘Thiếp thương chàng đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng lộ tiếng ai hay
Miệng thế gian nhiều kẻ thày lay
Cực chàng chín rưỡi khổ thiếp đây mười phần’

hay:

‘Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya’

… Thế nhưng vượt lên tất cả, người phụ nữ đất Quảng vẫn thể hiện rõ bản lĩnh của mình trong tình yêu:

‘Thiếp không thương chàng thì ra chỗ dở
Cho nên thiếp phải thương đỡ vài ngày
Thiếp có chồng rồi thiên hạ đều hay
Sợ nước lui về đông hải càng ngày càng xa’
*
‘Liệu bề thương được thì thương
Đừng trao gánh nặng giữa đường cho em’,
‘Xa xôi chi đó mà lầm
Phải hương hương bén phải trầm trầm thơm’…

Cũng không ai khác ngoài họ đã chủ động dung hoà kiểu hôn nhân theo sắp đặt với kiểu hôn nhân có tình yêu – một mô hình hôn nhân đến nay và trong nhiều thập niên tới xem ra vẫn còn phù hợp. Người phụ nữ đất Quảng không đồng tình với kiểu hôn nhân sắp đặt:

‘Đôi ta tuổi lứa đang vừa
Trách cho cha mẹ kén lừa nơi mô’,
cũng không muốn bị làng xóm cười chê rằng:
*
‘Gái đâu gái hỗn gái hào
Trai chưa vô làm rể gái đã vào làm dâu’.

Họ tự đến với nhau, yêu nhau và cùng nhau thề non hẹn biển, sau đó tranh thủ sự đồng thuận của hai bên gia đình:

‘Trai mười bảy gặp gái mười ba
Trai anh hăm sáu gái em đà hăm hai
Lời nguyền với bạn không sai
Bữa mô có rảnh cậy ông mai đến nhà’

*
‘Con gà trống tía cái lông cũng tía
Ngọn khoai lang giâm ngọn mía cũng giâm
Thương nhau không dễ thương thầm
Thương thời rượu cỗ trầu mâm đến nhà
Em còn thừa lệnh mẹ cha
Còn có cô chú bác chứ không phải mình ta với chàng’…

Hay như:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Em thương anh cha mẹ không hay
Như ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Kể từ ngày đó đã xa đây
Sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn’

Khi cô gái Quảng dám tự chọn lựa hạnh phúc ‘thương anh cha mẹ không hay’ thì dẫu có ‘nghi binh’ sánh mình với ‘ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào’, thực chất cô cũng đã khẳng định cái hướng mà đời cô nhằm đến. Tính khẳng định của sự lựa chọn càng hai năm rõ mười hơn ở những cách nói: ‘kể từ ngày đó đã xa đây – sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn’, hay ‘lòng ta như chén rượu đầy – lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi’, hay ‘thương nhau chưa đặng mấy ngày – đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi’, rồi ‘hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày – chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương’. Có lẽ tính khẳng định của sự lựa chọn đạt đến đỉnh điểm khi chủ thể trữ tình – dường như vẫn chính là cô gái Quảng – tự đặt bản thân trong quan hệ với người thứ ba: ‘ai’, ‘nơi mô’, từ đó mở ra cho người mình yêu khả năng lựa chọn:’coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em’, ‘nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo’.

c.Tình yêu-hạnh phúc ở sự thay đổi cách nghĩ, cách nhìn:

Cuộc sống khắc nghiệt luôn đặt ra cho người dân xứ Quảng nhiều câu hỏi lớn,chẳng hạn cam chịu nhớ thương mà chấp nhận ở lại với cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, hay tìm sự bằng an để giũ bỏ quay về với cái-quen-xưa-bao-đời-vẫn-vậy. Và câu trả lời của người Quảng là:

‘Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thời về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thời đừng’

Không phải đừng về mà đừng quay về, đừng hồi hương, bởi giờ đây đã có thêm một quê hương!

Chính nhờ sống trong thế giới những cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, người Quảng xưa có nhu cầu và điều kiện đổi mới cách nhìn, cách nghĩ. Câu ca dân gian:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say’

Cực tả sự khát khao cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng.

‘Ra đi mẹ có dặn dò
Sông sâu chớ lội đò đầy đừng qua’

Kinh nghiệm sống khôn ngoan ấy giờ đây cơ hồ không còn thích hợp nữa. Cuộc sống giờ đây đòi hỏi con người phải biết tư duy kiểu khác:

‘Sông sâu không lội thì trưa
Đò đầy không xuống ai đưa một mình’…

Và nhờ biết tư duy kiểu khác mà thái độ ứng xử với cái lạ ở người Quảng lúc này không giống khi vừa mới đến:

‘Tay ta cầm cần câu trúc ống câu trắc lưỡi câu thau
Muốn câu con cá biển chứ cá bàu thiếu chi’

Hay:

‘Lên non tìm con chim lạ
Ở dưới phố phường chim chạ thiếu chi’.

Từ chỗ sợ cái lạ – ‘con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng’ – tới chỗ chủ động đi tìm cái lạ, đó là cả một bước tiến dài trong tư duy người xứ Quảng xưa. Họ cảm thấy hạnh phúc trong kiểu tư duy mới. Tình yêu – hạnh phúc của người xứ Quảng được truyền tài vào ca dao một cách thông minh là thế đó.

d.Tình yêu – hạnh phúc thể hiện qua những đặc sản, món ăn đậm chất Quảng:

Ngoài những lúc làm việc mệt nhọc,người Quảng ngồi lại cùng nhau,chia sẻ cho nhau tình yêu-hạnh phúc qua những món ăn đạm bạc quê mình,vừa ăn,vừa ngâm lên những câu:

“Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”

Hay:

“Ai về đất Quảng làm dâu
Ăn cơm ghế mít hát câu ân tình”

Rồi tiếp đó lại là:

“Tay cầm bánh tráng mỏng nương nương
Miệng kêu tay ngoắt,bớ người thương uống nước nhiều”

Ở xứ Quảng, ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng. Đúng thế, đem bánh tráng xúc với mít trộn là một cách ăn điệu nghệ. Tuyệt lắm! Hạnh phúc lắm thay!

Không chỉ thế, vào xứ Quảng còn được tận hưởng cái khoảnh khắc hạnh phúc hòa cùng với hạnh phúc của người Quảng qua các món ăn được ý nhị nhắc nhở qua những câu như:

“Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ”.

*
“Ai đi cách trở sơn khê,
Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng ”

Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu, mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. Hoặc:

‘Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…”

*
“Lụt nguồn trôi trái bòn bon ,
Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi .
Mồ côi ba thứ mồ côi.
Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường”

Bòn bon là môt loại trái cây, ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại Lộc – Quảng Nam, mùa mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái bòn bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha, nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

“Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường…
Xứ Quảng còn là đất mía đường:
Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền”

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

“Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh…

*
“Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương…”

Hoặc:

“Có duyên lấy đặng chồng nguồn
Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui
Nhón chân kêu bớ họ nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”

Bài ca dao quen thuộc trên trong kho tàng ca dao xứ Quảng không chỉ bày tỏ niềm hãnh diện, sung sướng của những cô gái miền xuôi được lấy chồng và ở trên miền ngược mà còn nhắn gởi trông đợi của họ đến với người miền xuôi về sự đối lưu, trao đổi sản phẩm, mít non, cá chuồn giữa hai vùng miền cách trở.

Rõ ràng, người xứ Quảng tự hào lắm chứ, hạnh phúc lắm chứ khi đưa những món đặc sản quê mình vào những câu ca dao – dân ca để khi ngân lên thì ôi hạnh phúc xiết bao cái chất Quảng ngọt ngào đã hòa chung vào cái tinh tế của ca dao – dân ca Việt Nam để giới thiệu đến bạn bè cả nước.

e. Tình yêu – hạnh phúc của người xứ Quảng ẩn chứa trong những câu ca dao – dân ca nói về địa danh quê hương mình:

Mỗi người dân xứ Quảng đều mang trong mình chút lưng vốn ca dao – dân ca. Có lẽ vì thế mà mỗi khi ai đó hỏi đến xứ Quảng thì dường như họ tuôn trào mọi cảm xúc yêu-nhớ-tự hào với cái tình quê vốn luôn được họ nuôi dưỡng hằng ngày, hằng giờ và cứ thế họ sẽ cất lên những câu ca dao – dân ca có những địa danh xứ Quảng bằng cái chất gọng đặc sệt Quảng, thì không thể trộn lẫn vào đâu được:

“Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,
Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say
Ðối với ai ơn trọng, nghĩa dày ,
Một hột cơm cũng nhớ ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên …”

Câu này đồng thời còn diễn tả rõ tánh tình người dân đất Quảng,bộc trực, bén nhạy, nhớ ơn, trọng nghĩa đối vơí các ân nhân của mình. Hay:

“Hội An đất hẹp, người đông,
Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu”

Phố Hội An nhỏ hẹp, nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi, khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

“Hội An bán gấm, bán điêù
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành’

Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp, còn Kim Bồng, Trà Nhiêu là vùng ngoại ô, chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

“Ai đi phố Hội, Chùa Cầu,
Ðể thương, để nhớ, để sầu cho ai,
Ðể sầu cho khách vãng lai,
Ðể thương, để nhớ cho ai chịu sầu”

Những người dân Hội An, vì sinh kế phải đi làm ăn xa, tuy nhiên vẫn thương và nhớ phố Hội.

“ Ðưa tay hốt nhắm dăm bào,
Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công,
Không mai thì mốt, hồi công,
Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân”

Kim Bồng là một xã bên kia sông, đối diện với Hội An, sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc, hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp, bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

“Năm hòn nằm đó không sai,
Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui,
Ngó về Cửa Ðại, than ôi,
Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình”.

Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình, không chen vơí các hòn đảo khác. Hoặc có thể là những câu:

“Trà My sông núi đượm tình,
Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà”

*
“Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt ,
Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,
Phân du, bạch chỉ rành rành ,
Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân”.

Trà My là huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam, có cả Thượng Kinh chung sống, chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

“Gập ghềnh Giảm thọ, Ðèo Le .
Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai”

Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt lè lưỡi.

“ Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông.
Thấy nước xanh như tàu lá,
Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn,
Thấy phố xá nghinh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,
Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu,
Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,
Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh”

Hàn tức là tên cũ của Ðà Nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðà Nẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ, chờ chàng về.

“Kể từ đồn Nhứt kể vô,
Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô, xuống Hàn,
Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang .
Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra.
Ngó lên chợ Tổng bao xa,
Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu
Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu.
Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm.
Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm ,
Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ”

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

“Kể cầu Ông Bộ kể ra,
Cây Trâm ,Trà Lý, bước qua Bàu Bàu,
Tam kỳ, Chợ Vạn bao lâu,
Ngó qua đường cái, thấy lầu Ông Tây,
Chiên Ðàn , Chợ Mới là đây,
Kế Xuyên mua bán, đông, tây rộn ràng
Hà Lam gần sát Phủ Ðàng,
Phiá ngoài bãi cát , Hương An nằm dài ,
Cầu cho gái sắc, trai tài .
Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng”

Các địa danh trên đây, kể từ trong kể ra, Lầu ông Tây tức là nhà lầu của Viên Ðại lý Hành Chánh Pháp đóng ở Tam Kỳ, còn Chợ Mới, Chợ Vạn, Kế Xuyên, Chiên Ðàn là những tụ điểm thương mãi quanh Tam Kỳ.

Vậy đó, dù rằng không nói trực tiếp cái tình yêu quê hương, cái hạnh phúc trong lòng mình nhưng mỗi người đọc ca dao – dân ca xứ Quảng tinh ý, nhạy bén sẽ cảm nhận được tình yêu – hạnh phúc được truyền tải qua những lời ca ấy.

g. Niềm tin tình yêu – hạnh phúc:

Những con người xứ Quảng có một niềm tin vững chắc, vô điều kiện:

“Thương nhau chớ quá e dè,
Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be
Thiếp nói thì chàng phải nghe,
Thức khuya, dậy sớm, làm che 1 ngày 12 xu,
Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo ,
Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,
Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,
Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau,
Lạy trời, mưa xuống cho mau.
Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng”

Hoặc có thể là câu ca dao – dân ca của lòng thủy chung, chờ đợi:

‘Ngó lại quê mình
Bởi em chèo thuyền
Trên sông cái
Em ngó lại quê mình
Chim trên cành còn đủ cặp huống chi mình lẻ đôi
Vì đâu đây với đó đã hai nơi
Chiếc đò ngang bằng chiếc đũa không lời nhắn đưa
Cây đa bến cũ đò xưa Người thương có nghĩa nắng mưa ta vẫn chờ’

Hay câu:

‘Sớm mai chàng hoá con chim trống đứng dựa bìa núi
Chiều lại thiếp hoá con chim mái đứng dựa bìa rừng
Nỉ non ba tiếng cho có chừng
Dầu xa muôn dặm biểu bạn đừng có xa’…

Câu ca dao thấm nhuần tình tự dân tộc, xuất phát từ tình yêu giữa đôi trai gái, có tính chất mộc mạc,chân tình, nói lên bản chất của người dân đất Quảng vẫn luôn tồn tại, không đổi thay, qua thời gian và không gian, giữa những dòng đổi thay của đất nước.

4. Nghệ thuật của người xứ Quảng trong ca dao – dân ca:

Nhìn chung ngôn ngữ ca dao – dân ca xứ Quảng nói chung thô mộc song không phải không có những nét đặc sắc.

a. Nghệ thuật chơi chữ:

‘Thương nhau trường đoạn đoạn trường
Lụy lưu lưu lụy dạ dường kim châm’.

Một câu lục bát mười bốn chữ mà đa phần là từ Hán – Việt, trong đó đáng chú ý là cách đảo từ ‘trường đoạn’ thành ‘đoạn trường’, ‘lụy lưu’ thành ‘lưu lụy’ nhằm khai thác sức mạnh biểu cảm của những từ đồng âm dị nghĩa. Khi cần ‘chữ nghĩa’, người Quảng cũng rất chi là ‘chữ nghĩa’, đấy chứ. Ở đây, nghệ thuật chơi chữ đã được vận dụng một cách triệt để, hay ví dụ như câu

‘Anh từ trong Quảng ra thi
Leo lên đèo ải chữ chi mập mờ’

hoặc câu:

‘Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Áo vắt vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chi chàng mà lấn lướt vô thi
Tiền năm quan ngủ quán mất đi
Trai nam nhơn mô đối đặng
Gái nữ nhi xin kết nguyền’…

Hay câu:

‘Con gái La Qua
Qua đường qua chọc

Qua biểu em rằng
Đừng có la qua’

Cái tên ‘La Qua’ vốn chỉ là một địa danh trong câu:

‘Dù xa cửa ngõ cũng xa
Dù gần Bến Điện, La Qua cũng gần’

đến đây bỗng trở thành ngữ động từ ‘la qua’ – tức ‘mắng anh’ (vì anh đã trêu chọc em). Ngay chữ ‘qua’ cũng rất đa nghĩa: vừa là thành tố của địa danh La Qua, vừa là anh (qua chọc, qua bảo, la qua), lại vừa là bước sang (qua đường). Rõ ràng nghệ thuật chơi chữ của người Quảng trong câu ca dân gian này khá là độc đáo.

b. Tính truyền thống và cách tân :

- Người Quảng thường sáng tác dựa theo kết cấu có sẵn: Có những câu ca dao sau:

Nước Thổ Hà vừa trong vừa mát
Đường Vạn Vân lắm cát dễ đi
(Hà Bắc)

*
Nước Trịnh Thôn vừa trong vừa mát
Đường Trịnh Thôn lắm cát dễ đi
(Thanh Hóa)

*
Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mát
Đường Nam Giang lắm cát dễ đi
(Nghệ An)

Nhưng với cái khung có sẵn ấy, bài ca ở vùng đất Quảng cũng vẫn có phần sáng tạo riêng:

Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát dễ đi
Em ơi má thắm làm chi
Để anh thương nhớ mấy con trăng ni không về..

Đấy là cách sáng tác truyền miệng phổ biến khắp nước ta…Người xứ Quảng đã cảm thụ truyền thống chung trong nghệ thuật ca dao – dân ca dân tộc.

- Tính dị bản trong ca dao – dân ca xứ Quảng:

Có lẽ câu ca dao truyền thống và tiêu biểu nhất của người xứ Quảng có nhiều dị bản nhất là:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Theo cuốn Văn học dân gian Quảng Nam(miền biển), tập III, năm 2001 thì đã có 14 dị bản. 10 dị bản thuộc loại trữ tình và 4 dị bản thuộc loại tự sự lịch sử. Có thể kể đến một vài dị bản như sau:

‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày
Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em’

*
‘Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo’…

Tính chất trữ tình của bài ca này đã được chuyển hóa thành tính chất tự sự lịch sử, nhưng vẫn không đi ra ngoài mô típ của một câu cao dao cổ. Đây chính là hình thức vừa ổn định của yếu tố truyền thống vững bền, vừa biến đổi nhờ yếu tố cách tân, để bài ca đi sát với thực tế xã hội và tình trạng lịch sử…

c. Hiện tượng chính trị hóa ca dao – dân ca trữ tình:

Người Quảng nhạy cảm với chính trị, cho nên bên cạnh những câu ca dao – dân ca có nội dung chính trị hẳn hoi, chẳng hạn câu ca dao:

“Ai lên chín ngã sông Con
Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không’

hay câu hát:

‘Đứng bên ni Hàn
Ngó bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê Hà Thân
Ngó về Hàn phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí bòn vàng Bông Miêu
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau’

Rõ ràng hai chữ ‘nghênh ngang’ đã công khai bày tỏ thái độ chính trị của nhân dân Đà Nẵng đang phải chung sống với kẻ thù), còn khá phổ biến trong thơ ca dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng hiện tượng chính trị hoá ca dao – dân ca trữ tình.

Câu ca dao trữ tình quen thuộc :

“Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em’

được người Quảng chính trị hoá trở thành những câu trữ tình – chính trị:

Ra đời vào thời gian đất nước bị chia cắt sau Hiệp định Genève 1954.Ta thấy rằng trongnhững cảnh ngộ không thể nói thẳng được điều cần nói, người Quảng vẫn có thể kín đáo vận động chính trị đồng thời gián tiếp tự bộc lộ sự lựa chọn chính trị của mình. Điều đó đã được dễ dàng đưa vào ca dao – dân ca một cách khéo léo,tài tình.

d. Hiện tượng tách từ,nói lái:

Hiện tượng tách từ được người Quảng dùng khá thuần thục trong ca dao – dân ca :

‘Nhìn xem nam bắc tây đông
Thấy thiên thấy hạ mà không thấy chàng
Về nhà đứng thở ngồi than
Cơm ta ăn không đặng nhớ đến nghĩa chàng đó chàng ơi’

Hay:

‘Xa làm chi mà xa quanh xa quất
Xa làm chi mà xa tức xa tối xa vội xa vàng
Không cho thiếp thở chàng than đôi lời’.

Đến chữ nghĩa cũng chia rời, xa cách, huống chi đôi lứa đang yêu! Sở trường nói lái thường được tận dụng:

‘Một chữ anh cũng thi
Hai chữ anh cũng thi
May thời đậu trạng dẫu rớt đi cũng ông nghè hồi’.

Ông ‘nghè hồi’ ở đây không phải là ông tiến sĩ vinh quy (nghè: tiến sĩ; hồi: trở về), mà là ông ‘ngồi hè’ – vì đã thi hỏng tức vẫn còn là anh học trò nghèo kiết xác, không ngồi ngoài hè thì ngồi vào đâu được!

Với những câu ca dao – dân ca không chỉ ở mảng đề tài tình yêu – hạnh phúc, chúng ta đã có thể thấy được nghệ thuật của ca dao – dân ca xứ Quảng. Từ đó hiểu được những điều người xưa Quảng xưa muốn nói .

5. Kết luận:

Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao – dân ca xứ Quảng với lối nói mộc mạc đơn giản, đậm chất Quảng được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu, ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng đã nói lên được cái tình yêu – hạnh phúc rất riêng của người xứ Quảng.

Tình yêu – hạnh phúc trong ca dao – dân ca xứ Quảng xuất phát từ những cái bình dị hằng ngày .Bằng những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ, ca dao – dân ca xứ Quảng đã thể hiện tâm tư, tình cảm mộc mạc, trong sáng, đậm đà tình nghĩa của những con người xứ Quảng chịu thương chịu khó. Họ bất chấp mọi trắc trở để tìm thấy niềm vui, lạc quan trong cuộc sống, tình yêu hạnh phúc.

Ca dao – dân ca xứ Quảng là một phần hồn về đề tài tình yêu – hạnh phúc trong nội dung ca dao – dân ca Việt Nam. Cho dù đi bất cứ nơi đâu,chúng tôi – những con người xứ Quảng vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao – dân ca xứ Quảng quê mình.

Có dịp nhìn lại ca dao – dân ca xứ Quảng để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng ca dao – dân ca vốn có rất nhiều những nội dung sắc sảo cần được giữ gìn, phát huy. Mà một trong những nội dung có thể kể đến là đề tài tình yêu – hạnh phúc. (Hết)

@ thaonguyenbt2010

Tài liệu tham khảo:

1. Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, tập I, Nguyễn Văn Bổn, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng chủ trì biên soạn, xuất bản năm 1983 và tái bản đầu năm 1986.
2. Huỳnh Ngọc Trảng và Vu Gia với phần biên khảo về văn học dân gian huyện Đại Lộc trong Địa chí Đại Lộc (NXB. Đà Nẵng – 1992).
3.Thạch Phương trong tiểu luận Ca dao của một vùng đất (Ca dao Nam Trung Bộ – NXB. Khoa học xã hội – 1994) bàn về ca dao và những thể loại có liên quan đến thơ ca dân gian của Quảng Nam – Đà Nẵng)
4 . Báo Quảng Nam
5. Báo Quảng Ngãi
6. Báo Đà Nẵng
7. Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiếng….

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 18, 2011 in Ca Dao, Dân ca, Địa danh

 

Thẻ: , , , ,

NGÔI CHÙA THIÊN MỤ QUÊ TÔI

Bài và ảnh Võ Quang Yến

Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò,
Em đi : cảnh vắng hẹn hò cùng ai ?

Tôi còn nhớ hôm nhà tôi bảo vệ luận văn trên đề tài ngôi chùa Thiên Mụ, nghe các giáo sư trong ban giám khảo và thí sinh vui vẻ tranh luận về mấy chữ “anh đi”, “em đi”, ai đi, ai đợi, ai hẹn, ai buồn trong câu ca dao quen thuộc, có lẽ là người đi lại nhiều nhất ngôi chùa nầy trong số các thính giả ở giảng đường hôm ấy, tôi thầm lặng thú vị thấy ngôi chùa thân thương tuổi trẻ của mình nay được trình bày trong viện đại học giữa kinh thành ánh sáng Paris. Nói cho đúng, chùa Thiên Mụ không đồ sộ như đài Borobudur bên Java, bí ẩn như kim tự tháp Ai Cập, mỹ miều như đền Taj Mahal xứ Ấn Độ, lâu đời như nhà thờ Đức Bà Paris, … nhưng thiền tự duyên dáng nầy âm thầm quyến rũ khách lại xem, luôn gây ra một ấn tượng nhớ nhung dạt dào trong lòng người đến viếng. Đừng nói đến những trai thanh gái lịch đã từng dắt nhau lại vãn cảnh sân chùa, đạp lá vàng khô, hay ngắm nhìn sông núi, tình tự thề ước, chùa Thiên Mụ luôn vẫn là nơi chứa đầy kỷ niệm êm đềm, suốt đời khó quên.

Về mặt lịch sử, ngôi chùa nầy là một cơ sở quan trọng của thành Huế và từ năm 1993, cùng với thành phố, chùa đã được Cơ quan Văn hóa Liên hiệp quốc công nhận làm Di sản Nhân loại. Thật vậy, được xây dựng trên đồi Hà Khê năm 1601, từ thuở Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, năm 34 tuổi, vài năm sau từ ngoài Bắc vào đây trấn thủ, chùa trở thành nhà thờ chính thức của triều Nguyễn. Liên tục chứng kiến những bước thăng trầm, những thời thịnh suy của vương triều cuối cùng nước ta, góp phần vào cuộc phát triển Phật giáo ở Việt Nam, chùa Thiên Mụ đã để lại nhiều tài liệu trong sách sử, tuy ngày nay lắm nhà học giả đang còn suy luận, bỏ công tìm hiểu nhiều chi tiết ngay tại chỗ. Ngay tên ngôi chùa đã là một huyền thoại có ý nghĩa. Từ lâu, năm 1719, Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1736) đã có viết trong cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí : ” ….Đêm hôm ấy bỗng có một người đàn bà trông thể sắc thì còn trẻ, nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh ngồi dưới chân đồi than vãn, rồi cất tiếng to : đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không có gì phải lo…Người đàn bà ấy nói xong liền biến mất….” Non 200 năm sau, năm 1910, ..trong bộ Đại Nam nhất thống chí, cũng có kể lại sự tích nầy. Tuy lời của người đàn bà có phần khác ” …Sau sẽ có vị chân chúa đến sửa sang dựng lại chùa nầy, tụ linh khí để giữ vững long mạch cho được bền vững. Nói xong thì biến mất, nhân đó mà núi nầy được gọi là Thiên Mụ sơn . Chúa thượng cho rằng đất nầy có linh khí, bèn dựng chùa gọi là Thiên Mụ tự….” nhưng không ngoài mục đích của các vua chúa Nguyễn dựa vào thiên nhiên, thần thánh để hợp pháp hóa bá quyền của mình, tin tưởng ở lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) : Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.

Đồi Hà Khê nằm về phía tây thành phố Huế, khoảng 6km, trên bờ tả ngạn sông Kim Trà hay Linh Giang tức là sông Hương bây giờ, hướng về dãy Trường Sơn hùng vĩ, còn mang những tên Hương Oản, Uyển Sơn huyền bí, được xem như điểm sơn triều thủy tụ giữa sông và núi, nơi phát xuất một nền văn hóa Phú Xuân phong phú lưu truyền mấy trăm năm. Tục truyền Cao Biền (821-887), thuở làm tiết độ sứ Giao Châu, đi ngang qua đây thấy cánh đồi giống như một đầu rồng trong thế long hồi cố tổ khoa địa lý phong thuỷ, bèn cho đào núi cắt đứt long mạch, cố ý yểm phá một sự nghiệp lớn có thể bột khởi trong tương lai. Dân địa phương trước kia đã có dựng trên nền một tháp Chăm cũ một thảo am thờ tự mang tên chùa Thiên Mỗ, nóc ở đỉnh núi chân gối dòng sông. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) nắm cơ hội tự xưng mình là chân chúa, liền cho lấp núi, dựng lên nền cũ thảo am ấy một ngôi chùa đặt tên chùa Thiên Mụ, trên bản viết Thiên Mụ Tự, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi nầy để bảo toàn long mạch, phúc dân giúp nước. Hành động khôn ngoan của Nguyễn Hoàng không những đem lại an cư lạc nghiệp cho dân quanh vùng Hóa Châu mà còn làm thành điểm phát xuất một vương triều Nguyễn trước 13 đời chúa, sau 9 đời vua, thống nhất đất nước thu về một mối. Chỉ một đời sau, trong thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1614-1635), dân cư đã đến đông đúc quanh vùng. Nhưng phải đợi đến đời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) mới lại nghe nói đến chùa với kỳ trùng tu năm 1665, vào lúc thiền sư Tạ Nguyên Thiều dòng Lâm Tế từ Quảng Đông đến hoằng dương Phật pháp ở Đàng Trong và qua trù trì chùa Hà Trung ở huyện Phú Lộc dưới đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1650-1691).

Phật giáo chỉ phát triển mạnh mẽ từ đời Quốc Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là người có tiếng mộ đạo. Năm 1695 chúa mời Thạch Liêm Hòa Thượng tức Đại Sán Hán Ông lại ở chùa tám tháng. Theo miêu tả của hòa thượng, chùa Thiên Mụ hồi ấy là đã là điện đài tuy lợp tranh, tường vách ván đố, nhưng kèo, cột, rui, mè bằng gỗ quý, chạm trổ hoa văn theo phong cách mỹ thuật truyền thống, quanh vườn trồng cây cổ thụ. Năm 1710, chúa cho đúc chuông lớn cung phụng Tam Bảo, nhân tứ nguyệt Đản nhật, tức lễ Phật đản tháng tư năm Canh Dần. Năm 1714, chúa cho san bằng đỉnh đồi Hà Khê, huy động quan chức, tuyển chọn quân lính, tìm gỗ đá ở các tỉnh về chạm trổ, sửa chữa chùa rộng đẹp trong hơn một năm. Chính ngay chúa đã thống kê những điện lầu xây dựng sau thời kỳ trùng tu trong một tấm bia đá cẩm thạch đặt trên lưng tượng một con rùa : ” Từ cửa núi đi vào có đìện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, bảo điện Đại Hùng, nhà thuyết pháp, lầu Tàng Kinh. Hai bên là lầu Chuông và lầu Trống, rồi điện Thập Vương, nhà Vân Thủy, nhà ăn, nhà tọa thiền, rồi điện Đại Bi, điện Dược sư, nhà ở của chư tăng, nhà trọ cho khách, không dưới vài mươi sở. Bên sau là vườn Tì Da, trong vườn có nhà Phương trượng, và các chỗ cũng không dưới vài chục sở. Tất cả đều sáng chói rực rỡ, khiến cho người xem phải kinh ngạc sợ hãi. Thật là một tòa Quang Minh trong thế giới toàn sắc vàng rực vậy.” Chúa đổi tên chùa thành Thiên Mụ Thiền Tự. Tuy là quốc tự và là nơi thừa tự dòng họ các chúa Nguyễn, sau chúa, chùa bị bỏ hoang, gỗ hư mọt, ngói lỡ sụt, và qua năm 1775, lúc Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) chạy trốn vào nam, kinh thành Phú Xuân bị quân Trịnh tàn phá thì chùa hoàn toàn đổ nát, kinh luận hủy hoại tiêu tán. Thời Tây Sơn (1786-1801), Phan Huy Ích (1750-1822) đã từng đau lòng trước cảnh hoang tàn lạnh lẽo (1788) : Am xưa nay biển tế đàn, Chùa xưa thờ Phật nay toàn để xe.

Khi Gia Long (1762-1820) lên ngôi (1802), nhà vua đợi đến năm 1815 mới cho sửa chữa chùa. Bửu điện Đại Hùng được xây lại nhưng vẫn giữ chổ cũ từ thời Nguyễn Hoàng, vua cho xây thêm các điện Di Lặc, Quán Âm, Thập Vương, Tàng Kinh Lâu, Lôi Gia, lầu Chuông, lầu Trống hai bên Nghi Môn. Năm 1825, vua Minh Mệnh (1791-1841) lại cho sửa chữa tiếp rồi nhiều lần cho thiết trai đàn. Việc làm đáng kể của vua Thiệu Trị (1807-1847) là cho xây tháp Phước Duyên năm 1844-1845 “Ta vốn chẳng phải kẻ sùng đạo, chỉ vì sủng nguyện của dân nên cho lập chùa mà thôi”. Ngày nay, tháp thờ Phật nhưng nghe theo di chiếu của vua Minh Mệnh thì phải là một công trình hỗn hợp hài hòa tam giáo và tín ngưỡng dân gian. Ngoài ngôi tháp, nhà vua đã cho sửa chữa nhiều, xây điện đài mới vào thay thế những sở nhà hư sập. Trước ngôi tháp được dựng đình Hương Nguyện trên nóc có pháp luân luôn quay theo chiều gió, hai bên có hai bi đinh hình tứ giác, từ bến sông đi lên có bốn trụ hoa biểu rất cao. Nói chung kiến trúc chùa đã thật hoàn hảo và gần giống như ngày nay trừ vài thay đổi. Đồng thời vua cũng cho tổ chức nhiều lễ lớn, Lạc thành, Đảo vũ, Vu lan. Trong bảng kê 20 thắng cảnh đất Thần Kinh kèm theo 20 bài thơ ca tụng, chùa Thiên Mụ qua bài Thiên Mụ chung thanh được sắp số muời bốn. Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Mỗi lần lên chùa với con, em, gia đình, vua hay làm nhiều bài thơ, cho khắc vào bia đá. Năm 1862, vua Tự Đức (1829-1883) sợ chữ Thiên phạm đến Trời nên cho đổi tên Thiên Mụ Tự ra Linh Mụ Tự, hy vọng có con nối dõi, từ đấy dân gian có hai danh từ để gọi chùa. Năm 1899, vua Thành Thái (1879-1947) lại cho sửa chữa, năm 1920 cho dựng bia ghi bài thơ ca tụng vẻ đẹp của chùa. Nói chung, người nhiều kẻ ít, phần lớn các vua chúa nhà Nguyễn đều có lo chăm sóc ngôi quốc tự nầy.

Ngày nay, đi bộ từ thành phố lên chùa, khách hết còn phải len lóc cây cối hoang rậm như thuở trước, gần đây cũng hết được dạo xem những quán hàng dọc lòng sông được giải tỏa, chỉ còn ngắm nhìn phong cảnh sông nước bao la, xa xa những dãy núi Xước Dũ, Kim Phụng yên lặng soi bóng sông Hương. Tuy nhiên, nếu tò mò tìm thì còn thấy đuợc cổng vào ngôi nhà-vườn truyền thống An Hiên của bà Lan Hữu nay được ghi làm Di tích quốc gia, viếng thăm trong khu Đại Chủng viện Kim Long ngôi mộ của cha Léopold Cadière (1869-1955), người đã khảo cứu sâu rộng văn hóa Phú Xuân và đóng góp nhiều trong hội Đô thành Hiếu cổ Association des Amis du vieux Hué. Lại gần thì từ xa đã thấy bóng tháp chùa thấp thoáng sau mấy hàng cây. Rõ ràng hơn là đến chùa bằng đò, nhìn từ sông tháp không bị che. Chỉ khi cập bến, nếu khách lại mùa hè thì mục kích được những cánh hoa phượng đỏ chói làm tăng vẽ cổ truyền của ngôi tháp rêu phong. Leo lên mấy tầng cấp, sau hai trụ đá, khách bước vào khuôn viên chùa qua bốn trụ biểu cao gần 8m, có gắn gạch hoa tráng men, với bốn vế đối của vua Thiệu Trị đánh dấu “ngự chế” phát huy tinh thần Phật giáo “dạy dỗ cho muôn loài biết đạo”. Sau những trụ biểu một sân cỏ có viền mép đá thanh là nền cũ đình Hương Nguyện được dựng vào những năm 1844-1845 nghĩa là đồng thời với bửu tháp Phuớc Duyên nhưng bị trận bảo năm Thìn (1904) đánh đổ, sau nầy được cất lại phía sau điện Đại Hùng. Gọi là đình vì không phải nhà thờ, cũng không phải đình làng mà là nơi nghỉ chơi của nhà vua. Hai bên nền là hai bi đình, nhà vuông xây gạch, nền ghép đá thanh : bia phía đông kể chuyện dựng tháp Phước Duyên, bia phía tây khắc thơ của vua Thiệu Trị vịnh chùa Thiên Mụ. Toàn khuôn viên nầy là một nơi dạo chơi thoải mái, trước mặt có sông Hương êm đềm, những con đò nhỏ lướt nhẹ trên sóng, vào chiều in bóng trong nước, trước dãy núi hùng vĩ bao la, không khỏi gợi trong lòng khách một trạng thái thảnh thơi, nhẹ nhàng nơi chốn Tiên Phật.

Đứng ngay sau nền Hương Nguyện là bửu tháp Phước Duyên, lúc đầu mang tên Từ Nhân, (người Pháp gọi “tháp Khổng Tử” ?) bảy tầng bên ngoài hình bát giác (tám góc), bên grong hình tròn, cao hơn 20m, kể từ mặt nước sông Hương thì cao gấp đôi. Ngó lên ngọn tháp bảy tầng, Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông… Tháp có tường bằng gạch nung già để trần không tô, dùng mạch vôi hồ kết dính, xây trên nền đá thanh cứng với một lớp móng chôn vùi dưới đất không biết dày bao nhiêu, trông tương tự tháp Chăm. Cả tám mặt đều có lan can, hai cửa trước và sau, trang trí bằng gạch hoa tráng men Long Thọ hay pháp lam. Mỗi tầng tháp có cửa tò vò cho ánh sáng lọt vào, cửa tròn thông gió không hoàn toàn cân đối, lại có hoa văn khác nhau : chữ thọ (tầng dưới cùng), chữ vạn (tầng tư và tầng trên cùng), hoa thị 4 cánh (các tầng năm và sáu) hay 6 cánh (tầng ba). Muốn lên tầng trên, khách phải trèo một cầu thang xoắn ốc hướng tay mặt chứ không phải hướng tay trái như thường lệ. Lên càng cao, tháp càng nhỏ lại nhưng kiến thiết các tầng đều giống nhau. Cầu thang xoắn ốc không đưa lên đến tầng chót, muốn lên phải dùng một cái thang gỗ bắc trong một ô cửa và di động được. Nghe nói lúc trước tầng nầy được bảo vệ chặt chẽ, có ổ khóa do bộ Lễ quản lý ! Vậy mà tượng Phật bằng vàng (nếu có) đặt ở đây vẫn bị mất ! Trên cửa tò vò có bức hoàng phi đề Tự Tại Thiên xác định đây là cõi Trời. Qua cửa tò vò khách được chiêm ngưỡng vừa một quang cảnh sông núi hùng vĩ chốn đế đô, vừa một bức tranh hữu tình của đất nước Hương Bình, nơi gặp gỡ sông nước và non cao.

Đứng ngay sau nền Hương Nguyện là bửu tháp Phước Duyên, lúc đầu mang tên Từ Nhân, (người Pháp gọi “tháp Khổng Tử” ?) bảy tầng bên ngoài hình bát giác (tám góc), bên grong hình tròn, cao hơn 20m, kể từ mặt nước sông Hương thì cao gấp đôi. Ngó lên ngọn tháp bảy tầng, Một đêm em dậy mấy lần nghe chuông… Tháp có tường bằng gạch nung già để trần không tô, dùng mạch vôi hồ kết dính, xây trên nền đá thanh cứng với một lớp móng chôn vùi dưới đất không biết dày bao nhiêu, trông tương tự tháp Chăm. Cả tám mặt đều có lan can, hai cửa trước và sau, trang trí bằng gạch hoa tráng men Long Thọ hay pháp lam. Mỗi tầng tháp có cửa tò vò cho ánh sáng lọt vào, cửa tròn thông gió không hoàn toàn cân đối, lại có hoa văn khác nhau : chữ thọ (tầng dưới cùng), chữ vạn (tầng tư và tầng trên cùng), hoa thị 4 cánh (các tầng năm và sáu) hay 6 cánh (tầng ba). Muốn lên tầng trên, khách phải trèo một cầu thang xoắn ốc hướng tay mặt chứ không phải hướng tay trái như thường lệ. Lên càng cao, tháp càng nhỏ lại nhưng kiến thiết các tầng đều giống nhau. Cầu thang xoắn ốc không đưa lên đến tầng chót, muốn lên phải dùng một cái thang gỗ bắc trong một ô cửa và di động được. Nghe nói lúc trước tầng nầy được bảo vệ chặt chẽ, có ổ khóa do bộ Lễ quản lý ! Vậy mà tượng Phật bằng vàng (nếu có) đặt ở đây vẫn bị mất ! Trên cửa tò vò có bức hoàng phi đề Tự Tại Thiên xác định đây là cõi Trời. Qua cửa tò vò khách được chiêm ngưỡng vừa một quang cảnh sông núi hùng vĩ chốn đế đô, vừa một bức tranh hữu tình của đất nước Hương Bình, nơi gặp gỡ sông nước và non cao.

Ở mỗi tầng, một bức hoành phi đặt giữa hai vế đối. Hoành phi tầng dưới cùng đề tên của tháp : Phước Duyên Bảo Tháp. Lần lượt sáu bức hoành phi khác cũng có ba hay bốn chữ : Phúc bị quần sinh, Hóa thông vạn loại, Thiện căn hữu khế, Phước quả thường viên, Cực lạc cảnh, Tự Tại Thiên. Mỗi tầng thờ một Kim thân Thế tôn, theo bia đá Ngự chế Thiên Mụ Tự, từ trên xuống dưới : đệ nhất QuáKhứ Tỳ Bà Thi Phật (Vispasin) ; đệ nhị Thi Khí Phật (Sikhin) ; đệ tam Ty Xá PhúPhật (Vessabhu); đệ tứ Câu Lưu Tôn Phật (Krakuchanda) ; đệ ngũ Câư Na Xá Mâu NiPhật (Kanakamuni) ; đệ lục Ca Diếp Phật (Kashyapa) ; đệ thất Trung Thiên Điền Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật (Sakyamuni), Tây Phương Cực Lạc Pháp Vương (Amitabha), bồi chi hữu A Nan (Ananda), Ca Diếp (Kashyapa) tôn giả. Vậy thì có tất cả 9 hay 10 pho tượng. Dù sao, những tượng nầy bằng vàng (theo tiếng đồn ít nhất cũng có một pho và bị mất) hay bằng đồng sợ bị trộm cắp nên một dạo được thỉnh vào thờ ở điện Đại Hùng và thế vào tháp những tượng bằng thạch cao sơn màu đồng. Hình dạng và y phục các vị Phật quá khứ nầy không mấy khác nhau, tất cả tóc đen trừ một vị tóc vàng, chỉ phân biệt ở ấn quyết nơi hai tay. Năm 1999 tôi chỉ chụp được ảnh 8 pho tượng nầy. Từ năm 2007, những tượng bằng đồng đã được thỉnh về lại tháp.

Ngang hàng với tháp, hai bên có hai nhà lục giác xây sớm hơn và cũng lớn hơn bia đình tứ giác Thiệu Trị. Vách tường bằng gạch, kết dính với mạch vôi hồ như ngôi tháp, sáu măt nhà có sáu cửa tò vò. Nhà phía đông chứa đựng tấm bia chúa Nguyễn Phúc Chu kể chuyện xây cất chùa, chạm trổ điêu khắc có mỹ thuật, được dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch trắng đẽo gọt sinh động. Viền bia có chạm ngọn lữa vươn lên và bốn con rồng năm móng chạm trổ tỉ mỉ, toàn thân uyển chuyển. Đầu bia cũng có chạm mây rồng có đuôi uốn lượn trên làn sóng. Nhà phía tây là gác treo chiếc chuông lớn gọi Đại Hồng Chung, một kiệt tác về trình bày mỹ thuật cũng như kỹ thuật đúc đồng thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Cao 2,50m, chu vi trung bình 4m, chuông có quai mang hình mãng xà, chim phụng hoàng, rồng năm móng. Thân chuông có vành rồng, những ô mang chữ thọ, khắc những chữ Hoàng đồ cũng cố, Đế dạo hà xương, Phật nhật tăng huy, tên người dựng chuông, mục đích dựng chuông. Phía dưới có hình mặt trời tròn là nơi vồ gỗ đánh vào khi thỉnh chuông, hai bên có ngọn lửa tóe ra, xa lưỡi gần vầng. Dưới cùng trang trí tám quẻ bát quái trước miệng chuông chạm trổ hoa văn thủy ba sóng nước trình bày tinh hoa nên rất linh động. So về cả hai mặt mỹ nghệ và kỹ thuật, Đại Hồng Chung hơn xa chuông Gia Long trong lầu Chuông cạnh Nghi Môn. Tiếng chuông lại ngân nga, thanh thoát dễ gợi buồn nơi người nghe. Nghe chuông Thiên Mụ lại buồn, Ngó về Thành Nội khói tuôn lại sầu…

Sau lưng bảo tháp Phưóc Duyên, vua Khải Định (1885-1925) có cho dựng năm 1919 một tấm bia nhỏ lộ thiên kể sơ lược sự tích chùa. Ngay sau bia là một tam quan gọi là Nghi Môn, phía đông có lầu Chuông, phía tây có lầu Trống. Rộng gần 5m, dài gần 15m, cao gần 4m, trần bằng gỗ, cửa chính vào chùa nầy gồm có ba gian, có vách phân cách, trong mỗi gian có tượng hai vị Hộ pháp Dharmapala rất sinh động, dáng điệu, bộ mặt , xiêm áo, giáp trụ khác nhau. Phía trên bên kia cửa là ba tò vò, ở chính giữa có biển gỗ đề Linh Mụ Tự, chạm hoa văn rồng, nét sơn son thấp vàng nay đã phai màu, hai biển phía đông đề Đại Từ Bi, biển phía tây đề Đại Trí Tuệ, đều đắp vôi nổi. Một cái thang dẫn lên lầu, mặt trước đóng đố gỗ, phiá sau xây vào chùa để trống, nhìn từ dưới chẳng thấy rõ, lên trên lầu khách ngạc nhiên phát hiện được một tượng Ngọc Hoàng, mặc dầu nghe nói chùa chỉ giữ lai những hình tượng Phật giáo, bảo vệ đằng sau là một vị Hộ Pháp to lớn, chống kiếm, uy nghi nghiêm nghị.

Qua khỏi Nghi Môn, khách đạt đến một khoảng trống với ba lối đi và hai bên hai nhà Lôi Gia, loại miếu thờ đối diện xây năm 1815 dưới đời Gia Long. Mỗi Lôi Gia chứa ba pho tượng Kim Cương có nhiệm vụ bảo vệ Đạo pháp, đuổi dẹp ác quỷ. Được đắp bằng đất sét trộn với trấu và rơm, mỗi tượng lớn bằng người thật, có một thế ngồi, một cách để chân, một ấn quyết hay dụng cụ ở hai tay khác nhau. Tuy là những vị thần lúc trước mang chùy kim cương Vajrapanis, áo, mão, hia, giáp trụ, vũ khí, vòng quanh thiên thần, màu sắc tô vẽ sặc sỡ biệu lộ một sắc thái Trung Quốc. Như để khuyến khích khách gạt bỏ mọi ưu phiền, ác tính trước khi vào chùa, mỗi vị được trình bày đạp chân lên một con thú nhỏ : cóc, rắn, khỉ, hổ, rùa, lân tượng trưng cho thú tính. Như vậy, trước lúc bước vào điện Đại Hùng tất là cõi Phật, đi ngang trước nhà Lôi Gia, khách mang một đầu óc thư thái, thanh thảng rũ sạch mọi bụi trần.

Lối giữa từ Nghi Môn dẫn thẳng vào Bảo điện Đại Hùng (người hùng là đức Phật, có quyền lực chế ngự mọi quỷ sứ), một tòa nhà lớn gồm có hai phần : tiền đường năm gian hai chái và chính đường, ba gian hai chái họp lại thành bốn mái, hai mái chồng nhau, nóc chính điện cao hơn nóc tiền đường. Trên nóc tiền đường có hai con rồng chầu một Pháp Luân trong có chữ Phật. Trên nóc chính điện cũng có hai con rồng chầu một mặt trời giữa bảy ngọn lửa sắp dọn thành búp hoa sen trong có chữ Vạn. Hai đầu chái chính điện và tiền đường có hình con dơi gắn sành mảnh sứ. Trong thiền đường trang trí giản dị, có hai vế đối 12 chữ của vua Thiệu Trị và hai vế đối 21 chữ của triều đình vua Bảo Đại (1913-1997). Ở chính giữa, một tượng đồng rất lớn đức Phật Di Lặc Maitreya, tai lớn dài, cao 0m80, đặt trên một bệ lớn bằng gạch cao hơn 1m. Ngài ngồi vui thích, chân mặt co lên, chân trái xếp bằng, áo trạc ra cho lòi cặp vú và cái bụng phệ, miệng cười thoải mái. Treo trên pho tượng là bức hoành phi sơn son chữ lớn Linh Thứu Cao Phong (đỉnh núi nơi đức Phật chuyển pháp lần thứ hai, giảng bộ Kinh Diệu pháp liên hoa), thủ bút của chính chúa Nguyễn Phúc Chu, lúc trước treo trong chính điện. Một bảo vật còn xưa hơn trong tiền đường là cái khánh đồng dài 1m60, rộng 0m55, treo trên một cái giá gỗ, đúc ở Phường Đúc, trang trí hai mặt : một mặt đề tên Bình Trung Quán Khánh và niên hiệu Vĩnh Trị nhị niên tuế Đinh Tỵ (tức là 1677) trọng thu tạo ; mặt kia đề tên người phụng cúng Hội chủ Trần Đình Ân đạo hiệu Minh Hồng, pháp danh Tịnh Tín, Thập phương công đức và hình sao Bắc Đẩu nằm giữa nhị thập bát tú, trên một mặt trời với bốn ngọn lửa. Đông Triều Hầu Trần Đình Ân (1626-1707) là nhạc gia của Nguyễn Khoa Chiêm, cả hai đều làm quan to trong triệu Minh Vương. Có thể tin là khánh đã được đúc cho chùa Bình Trung và sau đưa qua chùa Thiên Mụ.

Chính đường hay thượng điện chiếm toàn chiều dài ba gian của điện, dài 30m, rộng 12m, lúc trước cột, kèo, xuyên, trếnh đều làm bằng gỗ lim, gỗ sao, nền lát gạch Bát Tràng, từ ngày trùng tu năm 1958, được thay bằng xi măng cốt sắt. Ở tiền đường khách thấy ngay một bức hoành phi mang ba chữ Đại Hùng Điện. Trên bàn thờ Phật đặt trong cùng có ba tượng Tam Thế thể hiện Tam Thân, bằng đồng, giữa là đức Thích Ca Mâu Ni Sakyamuni, bên trái có đức A Di Đà Amitabha, bên mặt có đức Di Lặc Maitreya, tất cả đều ngồi thiền trên hộp sơn đỏ, hai chân chéo nhau, mỗi vị một ấn quyết khác nhau. Cơ thể dỏng cao, dáng đầu thanh trên một cổ dài, những nếp áo che lấp vai chỉ để lộ những nút giây giữ vạt áo dưới,… nhiều chi tiết kê sắp các tượng nầy trong số hình tượng Phật giáo đẹp nhất ở Việt Nam. Năm 1999, trước bàn thờ nầy có bảy vị Phật nhỏ cũng bằng đồng, khó thấy, lúc trước đặt trong tháp Phước Duyên, nay đã được thỉnh về lại tháp. Trước các vị nầy năm 1999 còn có một tượng đồng Di Lặc tương đối nhỏ hơn và trong tủ kính tượng đức Thế Tôn Sakyamuni. Hai bên bàn thờ, hai vị bồ tát nắm hoa sen Phổ Hiền Samantabhadra cỡi con thanh sư bên mặt, vị Đại Thế Chí Manjushri cỡi con sư tử bên trái, đều được đặt trong tủ kính. Hậu điện chỉ có một bàn thờ Thạch hòa thượng. Theo các sách xưa, thượng điện còn chứa nhiều hình tượng khác, không thuộc về Phật giáo như các thần Nam Tào, Bắc Đẩu đã được loại ra. Tượng Ngọc Hoàng ở Nghi Môn là một tàn tích còn sót.

Sau bảo điện Đại Hùng là điện Địa Tạng Kshitigarbha dài hơn 28m, rộng gần 20m, xây năm 1815 trên nền điện Di Lặc, với bộ sườn đình Hương Nguyện dời vào. Dấu tích xưa, gồm có mười sáu cột, bốn cột mệ ỡ giữa, bốn mái, bốn kèo mái, trần hình bát quái, điện là một lầu vuông, chạm trổ hoa lá hay hình bát bửu (cây đàn, bầu rượu,…). Khoảng đố giữa các cột được chia thành hộc hình chữ nhật và ô vuông khắc dưới 96, trên 32 câu thơ bằng chữ Hán của vua Thiệu Trị, chạm hoa lá mai, lan, cúc, trúc, bút lông, ống sáo, gươm, khánh, đàn,… Điện nầy lúc trước được thiết kế để thờ đức Quan Công tức Quan Võ, Quan Vân Trường hay Quan Thánh (thường kèm theo Trương Phi và Quan Bình), không hẳn phải thần Phật giáo, vì vậy vào khoảng thập niên 50 đức Quan Công được dọn đi và điện được đổi thờ Địa Tạng là vị bồ tát tự nguyện xuống Âm phủ để cứu khổ cứu nạn những âm hồn đang bị quỷ sứ đày đọa. Năm 1999, khi chúng tôi viếng chùa, điện để trống không, chỉ thấy hai chú tiểu ngồi học trên hai cái bàn nhỏ.

Nhà thờ sau cuối khu Thiên Mụ là điện Quán Âm Avalokitesvara, xây trong lùm cây, từ đời Gia Long. Sân, tầng cấp lọt gạch Bát Tràng, điện dài gần 20m, rộng 13m rưởi, ba gian, hai chái với ba cửa ra vào, hai cửa nách, trang trí giản dị không có hoa văn. Tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát lớn, bằng đồng, ngồi trên tòa sen, nét mặt dịu dàng, đặt trước bức hoành phi Quán Âm Điện. Còn có một tượng Quan Âm bằng đá, thế đứng, đặt trước tượng kia, trong tủ kính, cũng không kém phần nghệ thuật nữ phái, ngón tay thon dài, tay mặt để thỏng xuống, tay trái đưa lên ngang ngực, đều có ấn quyết. Hai bên có hai bàn thờ Thập Điện Vương, mỗi bên 10 vị, 5 vị ngồi trước bằng đất nung sơn vàng, nhỏ, cũ hơn, 5 vị ngồi sau bằng đất sét nhiều màu, có râu cằm và trêu mép. Áo, mũ giống nhau, mỗi vị có một bộ măt khác nhau nhưng đều nghiêm nghị như những ông quan ra tòa. Những tượng nầy có thể thỉnh từ hai dãy Thập Vương ở cạnh và bị phá đổ cùng lúc với điện Di Lặc. Phía sau điện thờ Địa Tạng, một tượng lớn bằng đồng vàng chói, ngồi trên ghế, tay trái đặt trên thành ghế, tay mặt một ấn quyết. Rất có thể tượng nầy lúc trước được đặt thờ trong điện Địa Tạng xây lại trên nền điện Di Lặc .

Vị trù trì sau cùng của chùa lãnh đạo Phật giáo Huế có tiếng tăm là Hòa thượng Thích Đôn Hậu có phần mộ và ngôi tháp sau cuối khu chùa, núp bóng dưới nhiều cây yên tĩnh. Một vị tu hành có tiếng khác là Hòa thượng Thích Quảng Đức, tự thiêu ở Sài Gòn ngày 11 tháng sáu năm 1963, hiện có mặt qua bảng giải thích bằng hai thứ tiếng Việt và Anh đặt trước một chiếc xe hơi đã chở Ngài. Trong khuôn viên chùa còn có nhà bếp, vườn rau. Con Rùa Mốc thường được nhắc đến, ngày nay chỉ còn những đám gạch sụp đổ ngoài tường chùa. Sau cuối chùa còn có hai ngôi nhà xưa thấp thoáng trong lùm cây gợi lên ý nghĩ quang cảnh của ngọn đồi khi chùa mới được xây dựng thành. Với một kiến trúc tuyệt diệu, những báu vật mỹ thuật, chùa Thiên Mụ thật là một kiệt tác nghệ thuật tinh vi vùng Phú Xuân hài hòa giữa môi trường êm dịu đất Thần Kinh. Tôi rất mừng khi nhà tôi chọn ngôi chùa quê tôi làm đề tài luận văn vì là một dịp để cô ta tìm hiểu sâu xa hơn tâm hồn Phật giáo nói chung, phong cách xứ Huế nói riêng, từ đấy tôi cũng hưởng lây được kiến thức mà cô ta đã gom góp. Khi luận văn được in thành sách (*) bà Hội trưởng Hội Những Người Bạn Viễn Đông AFAO không ngần ngại cho in dấu của Hội lên bìa sách với lời giới thiệu cho khách chỉ biết tiếng Pháp cần có cuốn sách nầy trong tay khi đến viếng Huế !

 Võ Quang Yến
Mừng Phật Đản 2555
Xô thành tiềt Thanh minh 2011

Tham khảo

- (*) Vo Quang Liliane, Le temple de la Dame Céleste (Chùa Thiên Mụ) à Hué � sanctuaire bouddhique et miroir de l’ancienne capitale du Vietnam, Université de Paris VII 1998, Cahiers de Péninsule 6 2004
– Nguyễn Đắc Xuân, Bốn trăm năm chùa Thiên Mụ, nxb Thuận Hóa Huế 1998
– Hà Xuân Liêm, Chùa Thiên Mụ, nxb Thuận Hóa Huế 1998
– Hà Xuân Dương, Kiến trúc chùa Thiên Mụ, nxbĐà Nẵng 1998
– Phanxipăng, Leo tháp Phước Duyên, Tc Nghiên cứu và Phát triển 3(80) 2010 ; Chim Việt Cành Nam 42 2011

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 18, 2011 in Hình ảnh, Địa danh

 

Thẻ: , ,

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.