RSS

Author Archives: cadaotucnguvietnam

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”K”

1. Kẻ bằm chả, người gói nem
Kẻ dệt trướng, người thêu rèm, ngang nhau

2. Kết cỏ, ngậm vành

3. Khác nào quạ mượn lông công
Ngoài hình xinh đẹp, trong lòng xấu xa

4. Khách đến nhà, chẳng gà cũng vịt
5. Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

6. Khi vui miếng thuốc, miếng trầu
Khi buồn đi mất, biết đâu mà tìm

7. Khi vui, non nước cũng vui
Khi buồn, sáo thổi, kèn đôi cũng buồn

8. Khi xưa ai cấm duyên bà
Bây giờ bà già, bà cấm duyên con

9. Khôn ba năm, dại một giờ

10. Khôn cho người ta vái
Dại cho người ta thương
Dở dở ương ương, chỉ tổ cho người ta ghét

11. Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống

12. Khôn dại tại tâm
Hay giận âm thầm là người ích kỷ

13. Khôn ngoan chẳng lọ là nhiều
Người khôn mới nói nửa điều đã khôn

14. Khôn ngoan cũng thể đàn bà
Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông

15. Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

16. Khôn ngoan hiện ra mặt
Què quặt hiện ra chưn tay

17. Khôn nhờ, dại chịu

18. Khôn thì trong trí lượng ra
Dạy thì học lóm người ta bề ngoài

19. Khôn từ trong trứng khôn ra
Dại dẫu đến già cũng dại

20. Không ai giàu ba họ
Không ai khó ba đời

21. Không chồng ăn bữa nồi năm
Ăn đói ăn khát mà cầm lấy hơi
Có chồng ăn bữa nồi mười
Ăn đói ăn khát mà nuôi lấy chồng

22. Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa, thế gian sự thường

23. Không chùi để vậy lu li
Chùi ra tỏ rạng khác gì trăng thu

24. Không thầy, đố mầy làm nên

25. Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu cạn thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu

26. Khuyên em chớ giận anh chi
Thoa son, giồi phấn rồi đi chụp hình

27. Kiến tha lâu cũng đầy tổ

28. Kiềng ba chân vững như bàn thạch
Bỏ chuyện người tọc mạch ngoài tai
Sông sâu thì có sào dài
Ai cầm bị gậy ăn mày nên thân

29. Kiểng vật còn đây, em đành đi mất
Bạn ngọc xa rồi, gia thất ai coi?

30. Kiểng vật còn đây, người đà đâu mất
Con bạn xa rồi, trời đất quạnh hiu

31. Kim đâm vô thịt thì đau
Thịt đâm vô thịt nhớ nhau suốt đời

32. Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

33. Kỳ nhông là ông kỳ đà,
Kỳ đà là cha cắc ké
Cắc ké là mẹ kỳ nhông.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 21, 2011 in ”K”, Ca Dao

 

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”I”

1. Ích kỷ hại nhơn
2. Im hơi, lặng tiếng
3. Im lặng là vàng
4. Im như thóc
5. Im thin thít miệng mình
6. Im thin thít như thịt nấu đông

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 21, 2011 in 'I', Ca Dao

 

Hàng Hải và rễ bản-địa của Dân-tộc

Tác giả: Vũ Hữu San

Ý-Kiến Ông Nhượng Tống

Ông Nhượng-Tống, dịch-giả sách “Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư Ngoại-kỷ” của Ngô-Sĩ-Liên và các Sử-thần đời Lê, năm 1944, đã nhận-định rằng người Việt-Nam là giống dân Bách-Việt về miền Biển:

… Dân Bách-Việt chia ở hai miền; miền núi và miền biển. Trong đám dân miền biển có nước Việt đã từng diệt nước Ngô ở thời Xuân-Thu. Quốc-gia thứ hai được tổ-chức do dân miền núi là nước Nam-Chiếu. Mạnh-Hoạch, người đánh nhau với Khổng-Minh, chính là vị anh-hùng nước này. Một quốc-gia thứ ba nữa thành-lập, đó là nước Việt-Nam chúng ta. Trong ba nước ấy thì chỉ có nước ta còn đến ngày nay. Nước Việt, nước Nam-Chiếu đã lần lượt bị người Tàu chiếm-lĩnh và đồng-hoá.

Nói tóm lại, giống người Việt-Nam chúng ta ngày nay là giống thuộc dòng Bách-Việt về miền Biển và vẫn ở đất này. (Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư Ngoại-kỷ, Ngô-Sĩ-Liên và các Sử-thần đời Lê, Bản dịch của Mạc Bảo Thần Nhượng-Tống, 1944, Đại-Nam, California in lại, thập-niên 1990.)

Những giả-thuyết về nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam

Theo nhận-xét của Giáo-sư Nguyễn-khắc-Ngữ vào thập-niên 1980, vấn-đề nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam tuy đã được khá nhiều học-giả Việt-Nam cũng như ngoại-quốc bàn đến nhưng đến nay vẫn chưa có giả-thuyết nào được coi là vững-chắc. Ông chia các giả-thuyết này thành 4 loại tiêu-biểu:

- Giả-thuyết Con Rồng Cháu Tiên

- Giả-thuyết Bách-Việt

- Các giả-thuyết của các tác-giả Miền Nam

- Các giả-thuyết của các tác-giả Miền Bắc.

Sau đó, ông Ngữ đưa ra một giả-thuyết của chính ông. Trong cuốn sách “Nguồn Gốc Dân-tộc Việt-Nam” (viết tắt NGDTVN) xuất-bản ở Montréal năm 1985, ông cho rằng nguồn-gốc chính-yếu của nhân-chủng Việt là từ hải-đảo phương Nam:

-Sắc-dân đầu-tiên sống trên giải đất của chúng ta là giống Melanesian đã theo gió mùa đi vào.

-Sắc-dân thứ hai đến xứ ta là giống Indonesian từ Nam-Dương di-cư lên trong thời-kỳ băng-giá cuối cùng (cách đây từ 10.000 đến 50.000 năm.)

Những tài-liệu do ông đưa ra chứng-minh rằng người Việt và người Melanesian có cùng cơ-cấu tổ-chức gia-đình cũng như phong-tục tập-quán giống nhau, cùng với đặc-điểm nhân-hình gần gũi. Dù sau hàng ngàn năm đô-hộ của người Tàu, người Việt vẫn giữ được bản-sắc Melanesian của mình.

Học-giả Trần-Trọng-Kim viết về gốc-tích người Việt-Nam như sau:

“Theo những nhà kê-cứu của nước Pháp thì người Việt-Nam và người Thái đều ở miền núi Tây-Tạng xuống. Có người Tàu và Việt-Nam lại nói rằng nguyên khi xưa ở đất Tàu có giống Tam-Miêu ở, sau bị giống Hán-tộc đánh đuổi đi để chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng-Hà lập ra nước Tàu. Người Tam-Miêu phải ẩn núp vào rừng hay là xuống ở miền Việt-Nam ta bây giờ. Những ý-kiến ấy chưa có gì làm chứng cho đích-xác. Người Việt-Nam ta trước có hai ngón chân cái giao nhau, nên gọi là Giao-Chỉ, mà xem các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải loài Tam-Miêu.” (Việt-Nam Sử-Lược, quyển 1, Sài-Gòn, 1971 trang 5.)

Một giả-thuyết nữa là của ông Bình-Nguyên-Lộc trình-bày trong cuốn sách khảo-cứu khá lớn của ông, mang tựa-đề là “Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam”, Bách Bộc Sài-gòn, xuất-bản 1971. Tài-liệu này đã được bàn cãi nhiều trong mấy thập-niên vừa qua, có người chống, có người bênh.

Bài sơ-khảo này trình-bày lại một số ý-kiến của Ông Bình-Nguyên-Lộc và thêm một số giả-thuyết nữa về nhân-chủng Việt-Nam liên-hệ đến hàng-hải chưa biết đúng sai ra sao, nhưng tương-đối mới lạ.

Các cuộc xa lầy trên đường đi tìm nguồn gốc dân-tộc Việt-Nam

Theo Ông Bình-Nguyên-Lộc, trên đường đi tìm nguồn gốc dân-tộc Việt-Nam, thiên-hạ đã trải qua hai cuộc sa lầy rưỡi từ 1918 đến 1964, năm mà chúng tôi (lời Ông Bình) khởi thảo soạn sách NGDTVN:

1/ Sa lầy thứ nhứt của hai ông L. Aurousseau và H. Maspéro là chỉ dựa vào sử Tàu.

2/ Sa lầy thứ nhì của tất cả mọi người vì ngỡ rằng nguồn gốc dân ta ở tại giai-đoạn Đông-Sơn.

3/ Phân nửa một cuộc sa lầy thứ ba là không biết thuật-ngữ Indonesien có nghĩa là gì.

Cho đến năm 1964 thì đáng lý ra ta đã thoát khỏi được cuộc sa lầy thứ ba đó, nhưng ta vẫn không thoát…”

Và … cho đến khi chúng tôi hoàn-tất sách này, có nhiều học-giả cho rằng thuyết của Ông Bình-Nguyên-Lộc cũng … sa lầy.

Một ánh-sáng mới: công-trình của Bác-sỹ Trần-Đại-Sỹ

Bác-sỹ Trần-Đại-Sỹ là Giám-Đốc nghiên-cứu kiêm Giáo-Sư Cơ-quan Nghiên-Cứu Tổng-Hợp Y-học Âu-Á, Giáo-sư diễn-giảng khoa Lịch-sử và Triết-học Á-châu tại viện Pháp-Á. Ông đã trước-tác 20 tác-phẩm tổng-hợp y-học bằng Pháp-văn và rất nhiều sách bằng Hoa-văn, Việt-Văn, Trong những tác-phẩm của Ông, độc-đáo nhất là các bộ trường-thiên lịch-sử tiểu-thuyết: Anh-hùng Lĩnh-Nam, Động-đình hồ Ngoại-sử, Cậm-Khê Di-hận, Anh-hùng Tiêu-sơn, Thuận-thiên Di-sử, Anh-hùng Bắc-cương. Anh-linh Thần-võ, Nam-quốc Sơn-hà…

Trong thập-niên 1990, Bác-sỹ Trần-Đại-Sỹ cho biết trong khi khảo-cứu nguồn gốc tộc Việt, Ông đã dùng phương-pháp y-khoa nhiều nhất, và khoa-học mới đây.

Với lý-luận y-khoa, với anatomie, với lý-thuyết y-học mới về tế-bào, với những khai-quật của người Pháp tại Đông-Dương, của Việt-Nam, của Trung-Quốc cùng hệ-thống máy móc tối-tân đã giúp tôi (lời Ông Sỹ) phân-loại xương sọ, xương ống quyến, cùng biện biệt y-phục của tộc Hoa, tộc Việt, rồi đi đến kết-luận về lãnh-thổ nước Văn-Lang tới hồ Động-Đình.

Vị Bác-sỹ này nhắc lại lời tuyên-bố của các giáo-sư đồng-nghiệp khi hay biết công-trình của Ông như sau: “Từ nay không còn những giả-thuyết về nguồn-gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc tìm kiếm của Ông.” Theo lời chú-thích của bài “Biên-Cương nước Cổ Việt”do Ông viết thì “chính công-trình nghiên-cứu của tác-giả đã kết-thúc cuộc tranh-luận 90 năm qua về Nguồn-gốc Dân-tộc Việt-Nam.

Tóm tắt kết-quả công cuộc tim kiếm của Bác-sĩ Trần-Đại-Sĩ như sau:

- Nguốn gốc tộc Việt , lĩnh-thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ-học.

- Các nhá cổ-học coi lĩnh-thổ Việt bao gồm phần phía Nam sông Trường-Giang, lấy mốc là hồ Động-Đình. Tộc Việt sống rải rác tờ phía Nam sông Trường-Giang xuống mãi vịnh Thái-Lan

-Sau này tộc Việt, tộc Mã đã giao-tiếp với nhau ở vùng Kampuchea, Nam Việt-Nam. Tộc Việt hỗn-hợp với tộc „n ở phía Tây Thái-Lan

-Giống Thái, một trong Bách-Việt chính là tộc Thái từ Tượng-quận, Bắc-Việt di-chuyến xuống lập ra nước Lào, nước Thái.

-Người Việt từ sông Trường-Giang, từ Phúc-Kiến đi xuống Bắc-Việt, không có nghĩa ở Bắc-Việt không có giống Việt, phải đợi họ di-cư xuống mới có. Mà có nghĩa là người Việt di-chuyển trong đất Việt. (Việt-Nam Đệ Ngũ Thiên kỷ, USA, 1994, trang 215-241.)

Các nguồn gốc khác-biệt giữa Văn-hoá, Quốc-gia và Dân-tộc

Đôi khi chúng ta nghĩ rằng các công việc đi tìm (1) nguồn gốc của Văn-hoá, (2) sự hình-thành Quốc-gia và (3) gốc rễ của Dân-tộc chỉ là một vấn-đề. Sự thực không phải như thể.

Trong một nước, ta thấy dân-chúng có vẻ như thuộc cùng một dân-tộc và chung nhau một nền văn-hoá. Tuy vậy; ba thứ Văn-hoá, Quốc-gia và Dân-tộc đã đến từ ba khởi-điểm khác nhau cả thời-gian lẫn thời-gian. Loài người vón là một động-vật ưa di-chuyển, luôn luôn đi tìm kiếm môi-trường để dễ dàng sinh-hoạt. Thể nên, dân-chúng một nước có thể từ xa di-cư đến, trong khi văn-hoá, ngôn-ngữ thường chịu ảnh-hưởng địa-phương và thay đổi theo sinh-hoạt tại chỗ.

Trường-hợp chủng Bách-Việt (hồi xưa sinh sống dọc duyên-hải nước Trung-Hoa ngày nay) đáng kể là một thí-dụ điển-hình về sự phức-tạp giữa các yếu-tố quốc-gia, chủng-tộc, văn-hoá. Những học-giả Trung-Hoa-học tăm-tiếng nhất đều đồng-ý là một chủng lớn cư-ngụ trên một địa-bàn rộng như vậy không thể bị hoàn-toàn tiêu-diệt hay hơn nữa, tự-động biến mất. Con cháu những nhóm Việt này vẫn ở đó, nhưng khi cái “gốc” hay “căn-cước” đã mất, sự hiện-diện của họ trong xã-hội không còn đáng nói nữa. Harold J. Wiens viết rằng :

“Khi dân Bách-Việt đã bị Hán-hoá, sinh-hoạt như dân Tàu, người Trung-Hoa không còn bận tâm đến sự hiện-diện của những giống dân dị-chủng này nữa một khi đám người này đã mất đi cái tổ-chức “quốc-gia”. (China’s March Towards the Tropics, Yale University, 1954, pp. 114-115.)

Ngày nay nhiều người sống tại vùng Đông-Á thường tự nhận họ là người Tàu Trung-Nguyên hay con cháu Hoàng-Đế. Sự thật họ thuộc các chủng-tộc khác hẳn với người Tàu gốc rễ vùng Hoàng-Hà, sông Vị. Những “người Tàu tưởng-tượng” này quên rằng lãnh-thổ cũ của họ đã bị xâm lăng, tiền-nhân của họ đã bị kẻ thù truy-diệt. Nước Trung-Hoa thống-nhất ngày nay to lớn đã bao trùm lên nhiều quốc-gia mất gốc cùng những người dân vong-quốc bị đồng-hoá không còn nhớ được tổ-tiên.

Cùng với các học-giả Á-Đông-Học khác đi trước Ông như Needham, Fitzgerald…; Stan Steiner đã nghiên-cứu tinh-thần tự-chủ, ý-chí quyết-tâm bảo-vệ nòi giống và lãnh-thổ, tính quật-cướng chống xâm-lăng được tìm thấy nơi những người dân hàng-hải sống trên tàu thuyền. Cả những người đánh cá hay nông dân làm ruộng nước đều sẵn có tinh-thần độc-lập, không chịu Hán-hoá (Fusang, Chinese Who Build America, New York, 1979: 71.)

Đối với Việt-Nam, nguồn gốc dân-tộc cũng lâu đời không kém nguồn gốc văn-hoá và đi trước cả thời lập-quốc khá lâu. Việc nghiên-cứu ca-dao, tục-ngữ có thể dẫn dắt ta một phần con đường tìm nguồn-gốc, nhưng không đi được xa vào quá-khứ. Ông Bình-Nguyên-Lộc quả-quyết rằng: “Muôn ngàn nỗ-lực để phanh phui các yếu-tố văn-hoá như ca-dao, ngôn-ngữ, cổ-tích cũng không bao giờ cho ta biểt nguồn gốc của dân-tộc Việt-nam thật đúng (NGDTVN, trang 893.)

Chìa khoá có thể ở ngay trong túi

Nhiều cuộc khai-quật cổ-vật mới đây tại Việt-Nam đã cho phép các nhà nghiên-cứu có một cái nhìn mới và đúng đắn hơn về tình-trạng đất Việt cổ-thời với những nền văn-hoá bản-chất dân-tộc, phát-sinh tại chỗ, liên-tục tiến-triển và không bị ảnh-hưởng ngoại-lai. Giáo-sư Sử-học Trần-Quốc-Vượng cho rằng: “Thành tựu quý giá nhất của giới khảo cổ học Việt Nam trong mấy chục năm qua là làm sáng tỏ sự phát sinh và phát triển tại chỗ của nền văn minh châu thổ sông Hồng, với bề dầy thời gian diễn tiến của nó (vài thiên niên kỷ trước công nguyên tới một vài thế-kỷ sau công-nguyên)”. (Trong Cõi, trang 54-55.)

Từ sau năm 1985, tức thời-gian ông Nguyễn-Khắc-Ngữ phát-hành sách NGDTVN đến nay, những giả-thuyết khác về nguồn gốc dân-tộc vẫn tiếp-tục được đề ra. Tuy vậy, hầu hết các giả-thuyết này đều bị ám-ảnh quá đáng vì ý-niệm về những cuộc di-dân từ Nam-Đảo tiến vào nước ta. Cũng như trước đây có một số người đã từng yên-tâm nghĩ rằng người Việt-Nam là con cháu các giống người di-cư đến từ Trung-Hoa, từ Tây-Tạng, từ Đông-Âu, từ nước Việt thời chiến-quốc…

Một quan-điểm mà chúng tôi trình-bày qua cuốn sách này là sự liên-tục trong tiến-trình hàng-hải của dân ta. Đặc-điểm này không thể vì ngẫu-nhiên lại phù-hợp với sự liên-tục về tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của người Việt-Nam. Các chứng-cớ này hiển-nhiên tự nó đã mạnh mẽ nói đến một yếu-tố quan-trọng về nhân-chủng mà từ lâu hầu như vô-tình bị quên lãng. Đó là yếu-tố bản-địa của nguồn gốc dân-tộc.

Lý-do tại sao các nhà nghiên-cứu nhân-chủng lại cứ hùa nhau đi tìm nguồn gốc ở những “giả-thuyết xa sôi đâu đó” thật là khó hiểu. Xưa nay có ít người chịu lưu-tâm tìm hiểu đến nguồn-gốc chúng ta ngay trên vùng đất quê-hương hiện-thời. Chúng tôi kêu gọi sự nỗ-lực đóng góp của mọi người theo chiều-hướng này, trước khi đi tìm kiếm ở những nơi xa xôi khác. Trường-hợp quan-niệm “bản-địa” này có sai lầm, nó cũng giúp chúng ta dò tìm ra được những con đường khác đúng hướng hơn để tiếp-tục đi tới.

Chuyện “tìm chìa khoá xe” hẳn ai cũng gặp. Có những nhà nghiên-cứu hăng-hái, nhưng lại chỉ nghĩ đến những nơi xa. Thật chẳng khác chi việc chúng ta quýnh quáng sợ đi làm trễ, thúc-dục cả nhà chạy toán loạn đi kiếm chìa khoá ở ngoài đường ngoài ngõ, trong khi chúng ta không ngờ chìa khoá ấy vẫn nằm trong túi áo tự ngày hôm qua!

Dân Việt trong môi trường Đông-NAm-Á

Trên bản-đồ ngày nay, Việt-Nam có vẻ như chiếm vị-trí ở phía Bắc vùng Đông-Nam-Á. Tuy vậy, vào thời tiền-sử, nước ta nằm đúng trong khu trung-ương của toàn-thể vùng này. Trước khi Trung-Hoa nam-xâm, khu-vực từ châu-thổ sông Hoài xuống phía Nam sông Dương-Tử qua đến biên-giới Việt-Nam thực-sự đã thuộc vào Đông-Nam-Á trên các phương-diện về địa-lý và sinh-hoạt văn-hoá.

Học-giả Anthony Reid nhận thấy rằng “nguồn-gốc chung của tổ-tiên những người Đông-Nam-Á” là một một sự kiện có thể giải-thích được một phần nào do sự tương-đồng ngôn-ngữ của các sắc dân trong vùng. (Southeast Asia in the Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Yale University Press, 1988, trang 3.)

Vào thời tiền-sử, nhiều bộ-tộc Việt đã sinh sống tại duyên-hải Trung-Hoa. Địa-bàn của họ nằm trên các vùng châu-thổ những con Sông Hoài, Dương-Tử, Tây-Giang, sông Hồng, sông Mã. Một số nhà ngữ-học đã tìm ra nhiều chứng-cớ hiển-nhiên rằng những bộ-tộc gọi chung là Bách-Việt này lúc xưa cùng nói một loại ngôn-ngữ Nam-Á giống như thứ ngôn-ngữ người Việt-Nam đang sử-dụng ngày nay. Hai tài-liệu như sau:

(1) J. Norman and T. L. Mei, ‘The Austroasiatics in ancient South China, some lexical evidence” Monumenta Serica, 32 [1976].

(2) E. G. Pulleyblank, Chinese and their Neighbors in Prehistoric and Early Historic Times, in “The Origins of the Chinese Civilization” edited by David N. Keightley, University of California Press, 1983, trang 437-438.)

Nước Việt-Nam và Biển Đông của chúng ta nằm đúng vào khu trung-ương của ĐNÁ. Chính nơi đây vào cuối thời Băng Đá, khi nước biển dâng lên, làm ngập vùng đất thấp Sundaland, một cuộc di-dân từ biển vào bờ đã xảy ra. Những người dân “nước” đầu tiên theo các dòng sông như sông Hồng, sông Mã, sông Mê-Kông… chạy vào đất liền.

Hai nền văn-hoá sông biển và núi non lần đầu đã kết-hợp trên quê-hương ta, sau này tạo nên cái nền móng sinh-hoạt văn-hoá chung của toàn vùng Đông-Nam-Á.

Hai chục ngàn năm trước, nền văn-hoá Hoà-Bình phát khởi. Tiến-trình đó liên-tục từ thời Đồ Đá qua thời Đồ Đồng, rồi rực sáng với nền văn-hoá Đông-Sơn vào thiên-kỷ thứ nhất trước tây-lịch (TTL.)

Những người “dân nước” từ vùng Biển Đông tiến vào đất liền Việt-Nam đã mang theo cả những đặc-tính của ngôn-ngữ và triết-lý cuộc đời:

- Việt-ngữ là loại ngôn-ngữ nhuốm màu hàng-hải. Tuy được đề-nghị sắp xếp vào họ Nam-Á trong lục-địa, nhưng Việt-ngữ lại có nhiều điểm tương-đồng với ngôn-ngữ Nam-Đảo ngoài Thái-Bình-Dương. (Southeast Asia in the Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Anthony Reid, Yale University Press, 1988, trang 3.)

- Về triết-lý, Bernard Philippe Groslier nhận-xét rằng quan-niệm và niềm tin của dân Việt về biển cả thật sâu đậm. Ông viết như sau: Biển cả trải dài, vượt cả ra ngoài chân trời và tầm hiểu biết của con người, gợi ra cái ấn-tượng về nguồn gốc của muôn loài, cả đến một thế-giới trước khi khai-thiên lập-địa và cũng là nơi quê-hương cho người chết trở về. (The Art of Indochina, Bernard Philippe Groslier, bản dịch của George Lawrence, Crown Publishers, inc., New York, 1962, trang 21.)

Hầu hết các phát-minh thuyền bè, buồm, chèo, lái … của nhân-loại ngày nay đều có gốc rễ từ bán-đảo Đông-Dương. Chừng 60,000 năm trước, khi những nhóm cư-dân Đông-Nam-Á đầu tiên dùng bè vượt biển tới Úc-Châu, tiền-nhân Việt-tộc chắc chắn cũng đã dùng phương-cách di-chuyển như vậy. Nhiều tiến-bộ về kiến-trúc thuyền bè đã đạt được và thành-quả đáng kể nhất có lẽ là cách sử-dụng phối-hợp tài-tình hai hệ-thống buồm và xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái. (Connaissance du Việt-Nam, Pierre Huard và Maurice Durand, Hanoi 1954, trang 232.)

Hoà-Bình và Đông-Sơn là những nền văn-hoá đầu-tiên của nhân-loại tỏa rộng ra khắp nơi bằng đường hàng-hải. Oswald Menghin đã nhận-xét rằng: “dù một nền văn-minh nào đó có phát-khởi ở đâu chăng nữa, có rực rỡ đến thế nào đi nữa, sự truyền-bá cũng cần một nền văn-minh hàng-hải làm phương-tiện chuyên-chở ngang qua biển cả ra hải-đảo xa xăm, vượt đại-dương tới đất mới như Mỹ-Châu.” (Relaciones transpacificas de America precolumbina, Báo Runa 10(1-2), 1967: 83-97.)

Chưa có một nền văn-hoá nào trên địa-cầu này mà địa-bàn lại rộng rãi, vượt cả các đại-dương bao la đến như vậy. Nước Văn-Lang là quốc-gia được thành-lập sớm nhất ở Đông-Nam-Á. Hình ảnh chiến-sĩ và chiến-thuyền ghi khắc trên trống đồng gần 3,000 năm trước đây cho thấy rõ sự hiện-hữu của một lực-lượng thủy-quân có tổ-chức chặt chẽ và lâu đời nhất thế-giới trên đất nước Việt-Nam.

ĐNÁ, vùng Đất thuận-hảo cho sự sinh-tồn của con người

Đi theo thuyết Darwin, nhiều khoa-học-gia hiện nay đồng-ý với nhau về tiến-trình loài linh-trưởng (primate) tiến-hoá thành loài người đã diễn ra tại Phi-Châu. Từ chỗ đó, loài người mới di-chuyển qua các nơi khác trên địa-cầu. (Origins. Richard E. Leakey and Roger Lewin, MacDonald and Jane’s, London, 1977, trang 88, 117.)

Tuy vậy vẫn còn nghi-vấn về “Đông-Nam-Á có thể đã là nơi phát-tích một nhánh chủng-tộc riêng của loài người” vì mấy khám-phá mới đây như sau:

- Tại Mandalay, Miến-Điện năm 1979, người ta tìm ra nhiều xương hoá-thạch của loài Primate lâu tới 40 triệu năm. Vì chứng-tích này cổ hơn bất cứ nơi đâu trên trái đất nên đã có kết-luận rằng: loài Primate thoạt tiên sinh sống trong vùng Đông-Nam-Á trước, sau mới di-chuyển ngang qua khu-vực Tây Á-Châu rồi sang Phi-Châu (Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific, viết tắt Naga, Sumet Jumsai, xuất-bản tại Singapore, Oxford University Press, 1988, trang 2.)

- Trong giai-đoạn tiến hoá của loài người, giống Homo-Erectus (người đứng thẳng) có lẽ tồn-tại lâu nhất tại vùng đất liền Đông-Nam-Á, lâu hơn tại tất cả các nơi khác trên địa-cầu, kể cả Phi-Châu và Âu-Châu (People of the Earth, An introduction World Prehistory, Brian M. Fagan, Harper Collin Publishers, New York, 1992, trang 155-156.)

- Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai tìm ra rằng chỉ có 3 vùng trên trái đất thuộc vòng đai nhiệt-đới là thuận-hảo cho sự sinh-tồn của loài người trong thời Băng Đá. Đó là vùng bình-nguyên sông Amazone Nam-Mỹ, vùng Trung Phi-Châu và vùng Đông-Nam-Á. Ông so sánh tình-trạng như sau: Mỹ-Châu thời đó chưa có người, Phi-Châu có nhiều giống thú dữ và khu duyên hà, duyên-hải không có dấu tích sinh-hoạt loài người. Chỉ còn vùng Đông-Nam-Á mới thực-sự là nơi hội-tụ những điều-kiện tiện-lợi để cho loài người sống sót. (Naga, trang 3.)

- Constance Mary Turnbill viết trong sách Lịch-sử Mã-Lai-Á, Tân-Gia-Ba và Brunei như sau : “Những khu rừng già (nhiều mưa) Đông-Nam-Á, với những nguồn thực-phẩm dồi dào; nhiều loại cây trái, súc-vật và tôm cá; có lẽ là một trong những môi-trường sinh-hoạt sớm sủa và thuận-tiện nhất để nhân-loại tiến-hoá. (A History of Malaysia, Singapore and Brunei; in tại Hong Kong, 1989, trang 7).

Ronald Provencher còn phỏng-đoán loài người đã xuất-hiện sinh sống tại Đông-Nam-Á từ 2 triệu năm trước đây. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, viết tắt: Mainland Southeast Asia, Nhà xuất-bản Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17.)

Người Vượn, Người Cổ và Người Khôn-ngoan trên đất nước ta

Mười mấy ngàn năm trước, môi-trường Đông-Nam-Á, đặc-biệt ở Việt-Nam, đã được chứng-minh là nơi thuận-tiện cho việc gây giống và trồng cấy những cọng rau, cây trái đầu tiên.

Với những thành-tựu của người dân thuộc các nền văn-hoá Hoà-Bình – Bắc-Sơn, lịch-sử dân-tộc ta cũng như cả vùng Đông-Nam-Á bước vào một bước ngoặc lớn: một trung-tâm nông-nghiệp vào loại sớm nhất của nhân-loại đã ra đời vào khoảng vạn năm trước. Con người từng bước giã-từ hái lượm, săn bắn bước vào cuộc sống sản-xuất. (Lịch Văn-hoá Việt-Nam – Viết tắt LVHVN – Sài-Gòn, 1988: trang 36.)

Sự kiện quan-trọng không kém trong ngành Tiền-sử-học là những khám-phá mới đây về nhân-chủng. Kể từ năm 1960 đến nay, khoa khảo-cổ đã phát-hiện nhiều di-tích quan-trọng chứng-minh sự có mặt của Người Vượn, Người Cổ và Người Khôn-ngoan trên đất nước ta. Một số tài-liệu được LVHVN gọi là “vô cùng quan-trọng” để tìm-hiểu quá-trình chuyển-biến từ Homo-Erectus sang Homo-Sapien (người khôn ngoan.) Đây là vấn đề đã và đang được các nhà nhân-chủng-học trên thế-giới hết sức quan-tâm.

Sau khi duyệt qua những khám-phá trong thập-niên 1960 về người vượn Thẩm Khuyên, người vượn Thẩm ồm, người cổ Hang Hùm, người khôn ngoan Kéo Lèng; các giáo-sư Phan-Huy-Lê, Hà-Văn-Tấn và Hoàng-Xuân-Chinh mạnh dạn kết-luận rằng: Trên đất nước ta hàng mấy chục ngàn năm trước đã từng diễn ra quá-trình tiến-hoá từ người vượn thành người hiện-đại. (LVHVN, trang 35.)

Ngày nay, Việt-Nam là nơi lôi-cuốn nhiều nhà khoa-học đến nghíên-cứu về tiến-trình nhân-chủng. Nhà Nhân-chủng-học Russell Ciochon (tác-giả bài “The Ape That Was”, Natural History, November 1991) và nhà Khảo-cổ-học John Olsen đã khám-phá ra nhiều chứng-tích ở Việt-Nam cho thấy giống người vượn khổng-lồ Gigantopithecus cao 10 bộ Anh đã từng sinh sống đồng-thời với giống người Homo-Erectus trong khoảng thời-gian dài tới 500,000 năm. (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 16-17.)

Brian M. Fagan cho biết tại những hang của Làng Trang, Việt-Nam, người ta tìm thấy di-cốt của người Homo-Erectus cổ tới 500,000 năm. Chứng-tích này thuộc loại cổ nhất Đông-Nam-Á (People of the Earth, An introduction to World Prehistory; 1992, trang 129.)

Hình 1 Một số địa-danh mới và cũ của vùng Đông-Nam-Á

Nơi khai-sinh nền Văn-minh Nước và Văn-minh Thực-Vật

Đất nước chúng ta nằm trong vùng nhiệt-đới gió mùa. Có nhiều ý-kiến khác nhau về ảnh-hưởng vị-trí đối với trình-độ sinh-hoạt của dân ta.

Một số nhà địa-lý và nhân-chủng-học đã cho rằng nền Văn-minh Việt-Nam đặt trên vị-trí “bình-nguyên nhiệt-đới” (Những đặc-điểm của nền văn-minh Việt-Nam, Thái-Văn-Kiểm trong Tuyển Tập Ngôn ngữ Văn tự Việt-Nam, Dòng Việt, San José, 1993, trang 141-151.) Tuy vậy, văn-minh của chúng ta không hoàn-toàn mang tính-cách của một bình-nguyên nhiệt-đới vì các lý-do như sau:

-Về vị-trí, lãnh-thổ Việt-Nam không nằm sâu trong nội-địa mà lại nằm cạnh Biển Đông. Việt-Nam có lẽ là quốc-gia độc-nhất trong đất liền nhiệt-đới mà một phần duyên-hải lại mang tính-chất riêng-biệt của hải-đảo. Linda Norene Shaffer cho rằng trải dài suốt mấy trăm hải-lý, bờ biển lồi lõm Trung-Việt có đặc-tính rõ rệt của hải-đảo nhiều hơn các đặc-tính thuộc về lục-địa. (Maritime Southeast Asia to 1500, USA, 1996, trang 3.)

-Về văn-hoá, người Việt-Nam hướng đến các hoạt-động về nông-nghiệp và hàng-hải. Dân ta không nhận ảnh-hưởng từ một nền văn-minh thạch đá nào như các dân-tộc khác trên những bình-nguyên nhiệt-đới như Ai-cập, Mễ-Tây-Cơ v.v… Mặc dù tiến-bộ sớm nhất Đông-Nam-Á, người Việt-Nam không bao giờ theo đuổi chiều hướng xây cất đá khối nặng nề như các dân-tộc láng giềng như Nam-Dương, Khmer, Lào…

Học-giả Sumet Jumsai đã dùng ý-kiến của học-giả Buckminster Fuller để viết phần kết-luận cho quyển sách khá nổi tiếng của ông, cuốn “Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific”, (Singapore, Oxford University Press, xuất-bản 1988, p. 174.) Buckminster Fuller đã bị thuyết-phục và mong rằng vì sự sống còn của nhân-loại trong tương-lai, con người nên noi theo chân-lý “nước” đó mà tiết-kiệm vật-liệu, năng-lượng v.v… (Nguyên-văn: He (Fuller) was convinced that future worlds will survive only if humans create more by using less-less material, less weight, less enegy, etc.)

Vì những lý-do hiển-nhiên như vậy, các nhà khảo-cổ như Carl Sauer, Solheim đã tin-tưởng Đông-Nam-Á là nơi thuận-tiện nhất để con người có thể dễ-dàng chuyển-biến cây rừng cỏ dại thành rau trái trồng trọt được trong vườn. Chỉ nhờ những sự thuần-hoá đó, nhân-loại mới sản-xuất thêm nhiều thực-phẩm. Vì không còn phải nay đây mai đó, tốn kém quá nhiều thời-giờ để gom nhặt thực-phẩm một cách khó khăn, tiền-nhân bắt đầu định-cư lại. Cùng với nền văn-minh hàng-hải, một nền văn-minh thực-vật đã xuất-hiện rất sớm sủa.

Lawrence J. Ma thuộc University of Akron nghĩ rằng giống người Homo-Sapien xuất-hiện rất sớm tại Đông-Nam-Á, sau này là tiền-nhân của chủng-loại Austroloid. Ma ước-lượng thổ-dân vùng này khởi sự gia-súc-hoá loài vật và trồng trọt từ 15,000 trước đây, tức là sớm sủa hơn vùng Tây-Nam Á-Châu (hay Bán-nguyệt Phì-nhiêu) tới 5,000 năm. (Cultural Diversity, Laurence J. Ma; sách “Southeast Asia, Ream of Contrasts”; edited by Ashok K. Dutt, Westview Press, Colorado, 1985, p. 54.)

Nước Việt-Nam nằm trên một bán-đảo có nhiều vùng châu-thổ rất thấp ở về phía cực Đông Nam của lục-địa Á-Châu. Quanh năm khí trời ấm áp, nhiệt-độ tuy cao nhưng đều đều ít thay đổi. Ánh nắng mặt trời chan-hoà, vũ-độ thường-niên rất cao và bầu trời ít khi u-ám. Hai mùa gió Đông-Bắc, Tây-Nam đối-nghịch đem theo hai mùa mưa nắng rõ rệt. Trên có rừng ngăn chặn lối đi, dưới có biển mở rộng đường qua nhiều xứ sở. Địa-thế và môi-trường như vậy được kể là độc nhất, không có vùng đất nào trên thế-giới tương-tự như vậy.

Dân-cư Đất liền và Hải-đảo

Đất liền luôn luôn chiếm ưu-thế hơn hải-đảo về môi-trường sinh sống cho con người. Đặc-biệt trong thời tiền-sử, khi kiến-thức và phương-tiện còn yếu kém, những hòn đảo nhỏ bé thường hoang vắng không có người ở.

Điều chắc chắn là nếu có khả-năng để tự-do chọn lựa, “Người Khôn-ngoan” đương-nhiên đã chọn lựa được sinh sống trên bán-đảo Đông-Dương còn hơn là phải cư-trú trên các hải-đảo xa xôi ngoài khơi (như các đảo Nam-Dương và Đại-Dương-Châu), hay vùng đất giá lạnh (đất Hoa-Bắc ngày nay.) Khi đó cả hai nơi này rất ít người cư-ngụ.

Lịch-sử nhân-loại chứng-minh rằng các nền văn-minh lớn đều phát-sinh từ ven bìa lục-địa, nơi những vùng duyên-hà duyên-hải. Lẽ thường cũng thấy rằng loài người sinh sôi nẩy nở đông-đúc hơn ở trên lục-địa, sau đó mới di-cư qua các hải-đảo. Khoa khảo-cổ nhờ dựa vào cách định tuổi Carbon 14 đã cho biết sự chiếm-ngự các đảo ngoài biển chỉ mới xảy ra gần đây mà thôi.

.Hình 2.-Loài người từ đất-liền Cổ Việt đến cư-trú trên các đảo rất trễ. (Wangka, Edwin Doran, Jr.; Texas University Press, 1981, trang 54.)
Từ thời cổ cho đến ngày nay, trừ ra trên những hòn đảo to lớn như Anh-Quốc, như Nhật-Bản; mức sống của dân-cư các hải-đảo rõ rệt là thua kém dân trên đất liền rất xa. Trong cổ-thời, hải-đảo dù có vĩ-đại cỡ Úc-Châu cũng rất vắng vẻ, ít có dấu chân người!

Trong trường-hợp liên-hệ Việt-Nam và Nam-Dương, người ta không hiểu giả-thuyết dân Nam-Dương di-cư lên xứ ta vững-chắc bao nhiêu không biết, nhưng các học-giả ngày nay chứng-minh rõ ràng sự hiện-diện của những con đường biển đi theo chiều ngược lại suốt nhiều ngàn năm. Trước thì văn-minh Hoà-Bình từ Việt-Nam đi Nam-Dương đi Úc. Sau này văn-minh Đông-Sơn cũng từ Việt-Nam tràn qua các hải-đảo khắp xứ Nam-Dương, cùng những đảo khác miền Đông-Nam Á. Khi đọc tài-liệu khảo-cổ Nam-Dương, ta thấy ngay những trang sách nói về ảnh-hưởng của văn-hoá Hoà-Bình / Đông-Sơn qua mọi sinh-hoạt xứ này như hàng-hải, mỹ-thuật, cổ-tục v.v.

Hiện nay, sinh-hoạt của loài người trên các hải-đảo Thái-Bình-Dương đã được nghiên-cứu tường-tận. Tuy vậy, chưa có tài-liệu vững-chắc nào nói về sự di-dân hay ảnh-hưởng văn-hoá từ phía các đảo Đại-Dương-Châu trở vào đất liền Việt-Nam. Trái lại, sách vở bàn về sự bành-trướng dân-cư từ vùng đất liền Đông-Dương và Đông-Nam Trung-Hoa tràn ra ngoài biển đến Đại-Dương-Châu hay các đảo khác trên Thái-Bình-Dương lại rất phong-phú trong thư-viện.

Ronald Provencher viết rằng : Do sự tương-tự về ngôn-ngữ hải-đảo Malayo-Polynesian tìm thấy tại nhiều nơi tại khu-vực, người ta có thể cho rằng di-dân từ đảo đã đi vào đất liền được không? Dù sao thì lý-lẽ con người di-chuyển từ lục-địa đi ra các đảo không thể phủ-nhận được. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, Ronald Provencher, Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, p. 16.)

Dân Hải-đảo Đông-Nam-Á từ đất liền đi ra

Dunn cho rằng dân Đông-Nam-Á, vì sự cần-thiết phải “lập đầu cầu” nối-tiếp những vùng biển càng ngày càng rộng ra khi nước dâng lên vào cuối thời Hồng-tích-kỳ (Pleistocene) mà phát-triển nghệ-thuật hàng-hải. Golson nghĩ rằng khoảng 3,000 tới 1,000 năm TTL., Biển Đông Việt-Nam là trung-tâm phát-sinh hàng-hải. Ling đưa ra bằng-chứng của bè mảng 3.000 năm TTL. là chỉ dấu cho rằng khu-vực Hoa-Nam (gồm cả Bắc Việt) đã khởi-xuất những chuyến đưa người di-dân ra ngoài khơi Thái-Bình-Dương.

Thời-gian này đúng vào giai-đoạn phát-triển (thịnh-đạt) của thuyền buồm. David Lewis trình-bày sinh-hoạt hàng-hải phát-nguyên từ vùng ven biển Á-Châu trước, sau đó ảnh-hưởng của nó mới theo di-dân mà lan tràn ra các hải-đảo ngoài Thái-Bình-Dương. (The Pacific navigators’ debt to the ancient seafarers of Asia, , trong The Changing Pacific, edited by Neil Gunson, Oxford University Press, 1979, trang 46.)

Riêng quan-niệm “sắc-dân đầu-tiên sống trên giải đất của chúng ta là giống Melanesian đã theo gió mùa đi vào” có nhiều phần không hợp-lý theo quan-điểm hàng-hải. Khả-năng hải-hành của dân Melanesian cách nay 50,000 năm không cho phép họ làm như vậy. Vả lại không có lý-do gì thúc-đẩy họ phải rời bỏ các đảo vùng Melanesia. Nếu từ đó, họ di-cư về phía Tây Tây Bắc, họ đã gặp các đảo Phi-luật-Tân và Đông Nam-Dương. Lý-do tại sao dân Melanesian không ngừng lại đó mà tiến vào xứ ta, cũng là một câu hỏi không có câu trả lời thích-đáng.

Giáo-sư Nguyễn-khắc-Ngữ lại ước-đoán rằng “Dân Melanesian đến xứ ta trước giống Indonesian, mà sắc dân từ Nam-Dương sau này đã di-cư lên trong thời-kỳ băng-giá cuối cùng, tức cách đây từ 10.000 đến 50.000 năm.” Thực ra, trong thời-gian 10,000 – 50,000 năm trước, loài người chưa sinh sống ngoài các hải-đảo nhỏ bé và xa vắng như Melanesia. Trường-hợp có dân-cư, số lượng còn quá ít để phải di-cư.

Thời-gian trước đó (tức trước đây 50,000 năm), quần-đảo mà ngày nay chúng ta gọi là Melanesia chắc chắn chưa có bóng người cư-ngụ.

Việt-ngữ: gạch nối nhiều Ngôn-ngữ

Theo nhiều nhà ngôn-ngữ-học, Việt-ngữ thuộc về loại Mon-Khmer. Người chủ-trương danh-tiếng nhất của thuyết này là Wilhelm Schmidt. Trong cuốn sách “Grundzuge einer Lautlehre der Mon-Khmer Sprachen”, Wien: Alfred Holder xuất-bản, 1905, nơi trang 3; vị Tu-sĩ kiêm nhà Ngữ-học này cho biết mặc dầu ông có tìm ra vài yếu-tố dấu, giọng của Việt-ngữ xa lạ đối với nhóm Mon-Khmer, song ông vẫn cho rằng tiếng Việt, “không nghi ngờ gì nữa, phải được sắp xếp trong nhóm Mon-Khmer.”

Loại ngôn-ngữ này là ngôn-ngữ cổ xưa trong vùng Đông-Nam-Á. Người dân địa-phương sử-dụng Mon-Khmer từ thời tiền-sử, địa-bàn của nó đã lan tràn khắp vùng đất rộng lớn nằm giữa „n-Độ-Dương và Biển Đông.

Ngày nay tiếng Mon ở Diến-Điện, tiếng Khmer ở Cambodia, tiếng Jakun ở bán-đảo Mã-Lai, tiếng Việt, Mường và tiếng nói của một số dân thiểu-số trên bán-đảo Đông-Dương cùng thuộc gia-đình ngôn-ngữ này. Sau khi cuốn “Mon-Khmer Sprachen” đã kể ở trên được xuất-bản, Wilhelm Schmidt lại đưa ra thêm cuốn Die Mon-Khmer-Volker, ein Bindeglied zwischen Volkern Zentralasiens und Austronesiens, cho rằng “Các dân-tộc Mon-Khmer là gạch nối giữa các dân-tộc Trung-Á và Nam-Đảo,” (Braunschweig,1906.) Những công-trình khảo-cứu này được hầu hết các nhà ngữ-học công-nhận sau thế-chiến II.

Học-giả Anthony Reid đồng-ý với Schmidt đã phát-biểu rằng giọng nói (tones) của người Việt có vẻ như xuất-xứ từ tiếng Hoa, tiếng Tạng, nhưng số ít giọng biệt-lệ này chỉ mới xuất-hiện trong thời-gian gần đây mà thôi. Reid nói: “Việt-ngữ thuộc họ Nam-Á, liên-hệ với nhóm Mon-Khmer. Thời tiền-sử, nhóm ngôn-ngữ này đã có một địa-bàn còn rộng rãi hơn ngày nay nữa.” (Southeast Asia in the Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Yale University Press, 1988, trang 3.)

Sự lan-truyền của Mon-Khmer ngữ thật bao-la. Terry G. Jordan, Mona Domosh, Lester Rowntree xác-định rằng trước đây 5,000 năm, ngôn-ngữ vùng đất liền nằm giữa Bắc-Việt-Nam và Miến Điện đã được những cánh buồm và hàng-hải chuyên chở qua tận New Zealand, Easter island, Hawaii. and Madagascar. (The Human Mosaic, A Thematic introduction to Cultural Geography, 7th Edition, Terry G. Jordan, Mona Domosh, Lester Rowntree; Longman, New York, 1997, p. 178-179.)

Nhà ngôn-ngữ-học Paul Rivet cho rằng rằng tính chất hàng-hải của ngôn-ngữ Đông-Nam-Á, đã theo đường biển lan-truyền qua Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-Hải, Phi-Châu, Mỹ-Châu. (Sumérien et Océanien, trong Collection linguistique, publiée par la Société de linguistique de Paris 24, Paris, 1929.) Theo Bernard Philippe Groslier, Mon-Khmer liên-hệ với cả hai họ ngôn-ngữ Nam-Á Austroasiatic lẫn Nam-Đảo Austronesian (The Art of Indochina, trang 27.)

Những tranh-luận về gốc gác ngôn-ngữ Việt trong Mon-Khmer tuy có thể còn tiếp-tục, nhưng xem ra sự chống-đối đang suy-giảm rõ rệt. Cho dù giả-thuyết ngôn-ngữ có nhiều, nhưng chưa có giả-thuyết nào cho rằng gốc gác tiếng nói dân ta đến từ các hải-đảo Melanesian nhỏ bé ngoài khơi.

Trong khi đó, các Biên-tập-viên của tổ-hợp Time-Life Books xác-nhận rằng: “Cho đến nay, quan-niệm đươc mọi người chấp-nhận một cách rộng rãi là sự di-dân đường biển đã do người Việt-Nam, Mã-Lai, Nam-Dương thưc-hiện. Những thủy-thủ “nước sâu” này đã vượt biển thật xa, tới tận bờ biển Phi-Châu một thế-kỷ TTL., thường-xuyên hải-thương với „n-Độ, Hồng-Hải, và ra các đảo Thái-Bình-Dương, mà ở đó họ lần lượt chiếm-cứ và định-cư lại.” (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 66.)

Tóm lại sở dĩ Việt-ngữ cũng như Môn-Mên-ngữ được kể là cái gạch nối nhiều loại ngôn-ngữ khác như vậy chính nhờ vào đường chuyển-vận hàng-hải cổ-thời của dân ta.

Nguồn Gốc Dân-tộc qua chứng-tích ngôn-ngữ và Sự liên-tục của tiến-trình văn-hoá

Theo sự tin-tưởng của nhiều học-giả Việt-Nam, danh-tự “Việt” có nghiã là tiến lên, vượt trội lên… Tính kiên-quyết của dân ta vượt mọi khó khăn trở ngại biểu-lộ ngay từ trong những ngày đầu sinh-hoạt. Nhà địa-lý-học Carl Sauer đề-cao tinh-thần tiến-bộ của dân-cư giống Việt (Yủeh) vào giai-đoạn khởi-nguyên nền văn-hoá Hoà-Bình như sau: Một thế-giới mới đã thành hình, sự thay đổi môi-trường vật-lý địa-dư đã trở thành cơ-hội thuận-tiện tối-đa cho những dân thích phiêu-lưu và mong tiến-bộ… Người dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí óc tò mò để tìm thử-nghiệm, một cộng-đồng như vậy chỉ cần một thơì-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng nông-nghiệp”. (Environnement and Culture During the Last Deglaciation, trong Proceedings of the American Philosophical Society Vol. 92, 1948: trang 65-77.)

Tiến-trình văn-hoá liên-tục của Đông-Nam-Á đã được các khoa-học-gia nghiên-cứu khá đầy đủ với những lập-luận vững chắc. Sự liên-tục này cũng chứng-minh rằng những dân gốc địa-phương vẫn liên-tục cư-ngụ và nắm giữ vai trò chính- yếu.

William Meacham mô-tả sự liên-tục trong tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của người Việt-Nam như sau: “… nền văn-minh Đồ Đá Hoà-Bình đã tiến-triển trong khoảng thời-gian 9,000- 5,600 năm TTL., sang Bắc-Sơn 8,300-5,900 năm TTL., liên-tục qua nhiều nền văn-minh; sau này tới thời Đồ Đồng của Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng nhuốm mầu sắc hàng-hải.” (Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia, viết tắt Origins and Development of the Yủeh, sưu-tập The Origins of Chinese Civilization, edited by David N. Keightley, London 1983: 147-175.)

Cũng theo các Biên-tập-viên của tổ-chức Time-Life Books: “Cuộc khảo-sát tại Non Nok Tha (năm 1965-1966) cho thấy việc luyện-kim rất cổ xưa và là kỹ-thuật bản-địa tại Đông-Nam-Á. Sau Non Nak Tha, nhiều cuộc khảo-cổ đã thực-hiện tại 30 địa-điểm khác nữa cho thấy có những nền văn-hoá đi trước Đông-Sơn. Chẳng hạn như tại Bắc Việt-Nam; nền văn-hoá Phùng-Nguyên với niên-đại 2,000 năm TTL. Văn-hoá Đông-Sơn như vậy, hiển-nhiên có gốc rễ tại chỗ đã ăn sâu vào đất nước quê-hương (Việt-Nam) với những làng xóm cổ xưa nhất trong vùng.” (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 50-51.)

Văn-hoá Đông-Sơn đã được các giới khoa-học Việt-Nam xếp vào sinh-hoạt của thời-đại Hùng-Vương. Những nền văn-minh trước đó như Phùng-Nguyên, Hoà-Bình cũng thuộc dòng văn-hoá chung của dân-tộc. Dân-cư Phùng-Nguyên năm ngàn năm trước và dân-cư Hoà-Bình mười ngàn năm trước, hẳn nhiên xứng-đáng được coi như “trực-thuộc vào rễ cái” của dân-tộc chúng ta.

Nhân-chủng và sinh-ngữ của một dân-tộc là hai yếu-tố có thể đến từ hai nguồn-gốc khác nhau. Tuy vậy ở xứ ta, hai yếu-tố này đã hiện-hữu song-hành từ rất lâu đời. Nếu các kết-quả khảo-cứu về hàng-hải được kể ra trong tập tài-liệu này là đúng, dân ta đã khởi nguyên, đã phát-triển và đã sinh-hoạt liên-tục quanh khu-vực Biển Đông từ thời Băng Đá. Nhờ may mắn không có tai-nạn diệt-chủng, những căn-bản ngôn-ngữ của tiền-nhân từ năm mười ngàn năm xưa vẫn còn hiện-hữu một cách trực-tiếp hay gián-tiếp cho đến bây giờ.

Thật rõ ràng, ngôn-ngữ Việt không có gốc rễ từ hải-đảo, cũng không khởi-nguyên từ Hoa-ngữ. Nhà Dân-tộc Ngôn-ngữ-học Nguyễn-bạt-Tuỵ đã từng kêu gọi: Ngữ ta thuộc hệ-thống ầu (tức Mon-Khơme) với một hệ-thống phụ-âm đầu đặc-biệt mà người Trung-Hoa (kể cả người “Việt” Hoa-Nam) không có, vậy ta phải tôn-trọng tinh-thần xuôi ý của ta mà không ăn nói như người Hán.

Suy rộng ra, nguồn-gốc dân-tộc và ngôn-ngữ của ta có tính-chất bản-địa Đông-Nam-Á. Những hoạt-động hàng-hải đã mang những “mảnh vụn” sinh-hoạt văn-hoá, trong đó có ảnh-hưởng của ngôn-ngữ từ lục-địa đi ra những vùng rất xa, rất rộng ngang qua mặt đại-dương.

Xuôi ý đúng là cách sinh-hoạt của người đi thuyền, không phải dân cưỡi ngựa hay dùng xe.

Biển Đông không chia cắt mà còn nối các dân-tộc quanh vùng với nhau

Các chủng tộc sống trong vùng Đông-Nam-Á lúc xưa rất gần gũi nhau. Biển Đông không ngăn-cách họ xa nhau như người ta vẫn tưởng-tượng xưa nay. Biển Đông đã nối kết họ lại với nhau qua đường hàng-hải. Lý-luận “biển cả – hành-lang giao-tiếp” tương-tự như vậy đã được Thor Hayerdahl trình-bày rất cặn kẽ trong cuốn sách “Early Man and the Ocean”, (xuất bản tại New York, 1979.)

Thời chiến-tranh Quốc-Cộng vào thập-niên 1960, một số người Phi-Luật-Tân phục-vụ ngành Tâm-lý-chiến ở Việt-Nam đã bất ngờ khám-phá ra một sự kỳ-thú về ngôn-ngữ. Họ có thể nói chuyện bằng thổ-ngữ của Phi với một số đồng-bào Thượng của ta ở cao-nguyên Trung-phần không cần thông-ngôn.

Càng ngày ánh sáng văn-minh càng rọi vào những vùng u-tối của suy-luận. Rất nhiều nhà nghiên-cứu hiện-đại đã thấy rằng người Việt-Nam rất gần với những người dân thiểu-số trên cao-nguyên. Sinh-hoạt của dân-tộc ta cũng không xa xôi gì với các dân-tộc láng giềng Đông-Nam-Á. Khi nói “đồng-bào thiểu-số” trên một căn-bản giới-hạn về nhân-chủng nào đó, ta nhận rằng họ đúng là đồng-bào với ta.

Bản-chất nguyên-thủy của chúng ta không phải “„n-Độ / Chi-Na” như tên người Tây-phương đã đặt cho bán-đảo chúng ta cư-ngụ. Chủng Việt không những quá xa-lạ với Aryan „n-độ và cũng quá khác-biệt với Hoa-chủng phương Bắc. Những dị-biệt về nhân-hình giữa ta và Tàu cùng những tương-đồng giữa ta với các dân hải-đảo thuộc chủng Mã-Lai Nam-Á đã được chứng-minh rõ ràng qua những chi-tiết về chỉ-số sọ, máu, chiều cao, mầu da, tóc v.v… Sau khi đọc qua những bản báo-cáo đặc-tính nhân-hình kèm theo đầy đủ các bảng thống-kê, xem đến những tập-tục, huyền-thoại … của các giống dân Đông-Nam-Á, không một người Viêt-Nam nào còn dám nhận mình là Tàu nữa. Hai tập tài-liệu sau đây trình-bày đầy đủ về những yếu tố nhân-hình và tập-tục khác-biệt này:

- Nguyễn-khắc-Ngữ, Nguồn Gốc Dân-tộc Việt-Nam, xuất-bản ở Montréal năm 1985.

- Bình-Nguyên-Lộc, Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam, Bách Bộc Sài-gòn xuất-bản, 1971.

Gốc, rễ và Một giả-thuyết có giới-hạn

Quan-sát một cái cây, ta thấy gốc của nó toả ra nhiều rễ. Nhựa nuôi cây hút từ rễ qua gốc. Trong cái “cây” Việt-Nam, chúng tôi nhận rằng có nhiều “rễ” lớn nhỏ quây chung quanh cái “gốc” chủng-tộc. Rễ “bản-địa” mang nhiều chất dinh-dưỡng, bâm sâu nhất xuống lòng đất, rất xứng đáng được coi như rễ cái vậy.

Truyền-thuyết dân-tộc và “Ranh giới Hồng-Lạc với 4,5 ngàn năm văn-hiến” nên được để nguyên trong vòng huyền-thoại thiêng-liêng. — đây, chúng tôi mời gọi mọi người đi lùi xa thêm vào dĩ-vãng để khảo-sát thêm những cái rễ của dân ta theo với những kiến-thức hiện-đại .

Hãy tưởng-tượng trên cả vùng đất duyên-hải nằm phía Đông và Đông-Nam Á-Châu, cách xa chân núi Himalaya vào thời Đồ Đá một nhóm dân-cư nhờ hoàn-cảnh đặc-biệt địa-dư, khởi sự góp nhặt sò, hến, ốc, rong biển cạnh duyên-hải. Rồi băng đá tại hai cực và đỉnh các núi cao tan dần. Nước Biển Đông dâng lên đã mang đến không biết là bao nhiêu thay đổi ảnh-hưởng mạnh mẽ đến sinh-hoạt con người.

Các từ “Bản-Địa” hay “Tại Chỗ” trong giả-thuyết gốc rễ dân Việt mà chúng tôi đưa ra khởi-sự từ giai-đoạn này, ít nhất cũng đã trên mười ngàn năm trước đây.

Khi viết sách “Nghệ-thuật Đông-Dương”, Philippe Groslier cũng nghiên-cứu cả địa-hình và thấy rằng bán-đảo này bị thiên-nhiên chia cắt ra khỏi lục-địa Á-Châu. Tuy vậy, nhờ mở được con đường ra ngoài biển, dân-cư Đông-Dương đã đóng vai trò quan-trọng trong vùng Đông-Nam-Á. Cho dù Java có thể là nơi con người xuất-hiện trước hết, Đông-Dương luôn luôn là cái kho chứa nhân-lực mà từ đó gửi đi khai-hoá khắp vùng Đông-Nam-Á. (The Art of Indochina, Bernard Philippe Groslier, trang 39.)

Vì đặc-điểm địa-hình bị núi non chia cắt như vậy nên dân-cư quanh khu-vực Biển Đông chỉ có đường biển đi ra mà ít có đường cho người ngoài đi vào. Sự cô-lập giúp cho các thổ-dân Đông-Nam-Á gìn giữ được bản-chất nguyên-thủy của họ. Cho dù có di-dân, những người mới đến cũng là những dân hàng-hải như họ. Dân mới, dân cũ nhờ sự tương-đồng, đã hoà-nhập với nhau trong mọi sinh-hoạt. Những dân đi biển theo bản-chất, thường dễ dàng thông-cảm, giúp đỡ nhau.

Ronald Provencher chứng minh rằng một số dân Đông-Nam-Á ngày nay là một giống người đã tiến-hoá tại chỗ. Ông cho rằng những liên-hệ (mật-thiết) về chủng-tộc, ngôn-ngữ và văn-hoá của các dân-tộc trong vùng không thể nào giải-thích một cách thỏa-đáng được với những quan-niệm dản-dị (và sai lầm) là di-dân từ ngoài đi vào. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, Ronald Provencher, Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17.)

Sự chính-xác của giả-thuyết chỉ tương-đối và chỉ kèm theo một vài sự nới lỏng về không-gian và thời-gian. Chữ bản-địa được dùng trong giả-thuyết này không chỉ giới-hạn trong lãnh-thổ Bắc Việt và bắc Trung-Việt ngày nay mà được nới rộng ra vùng Biển Đông và cả địa-bàn rộng rãi của Đông-Nam-Á thời tiền-sử. Còn thời-gian cũng không giới-hạn trong một giai-đoạn ngắn ngủi. Rễ cái dân-tộc khởi-sự “mọc ra” vào cuối thời Băng Đá. Rễ cái dân-tộc vẫn tiếp-tục mọc sâu, mang sắc-thái đặc-trưng của Việt-Nam vào thời văn-minh Đông-Sơn

Còn nếu nói loài người phát-sinh từ một điểm gốc ở đâu đó (rất có thể là Phi-Châu) rồi mới tỏa ra đi khắp mặt địa-cầu thì làm sao có người bản-địa Việt-Nam theo đúng nghĩa tuyệt-đối cho được!

Sự sụp đổ của các giả-thuyết nhân-chủng

Tất các giả-thuyết về nhân-chủng Việt-Nam đều sẽ sụp đổ, kế cả giả-thuyết này của chúng tôi.

Theo với thời-gian, giả-thuyết mới hôm nay rồi cũng hoá ra cũ ngày mai. Nhờ phương-pháp khoa-học, những công cuộc khai-quật, ngành khảo-cổ-học sẽ tìm ra nhiều kiến-thức mới và thời-gian tiếp-tục chôn vùi vào dĩ-vãng các giả-thuyết cũ.

Thuyết “bản-địa” sẽ có thể bị “sa lầy”, nhưng chúng tôi hy-vọng kiến-thức này là viên đá lót đường qua bãi lầy nghiên-cứu chủng Việt về sau.

Thời-gian sẽ mang lại quyết-định chung-thẩm. Còn nghiên-cứu là còn hy-vọng tìm ra chủng gốc Việt-Nam. Trung-tả M. Abadie, tác-giả quyển “Những chủng-tộc ở Thượng-du Bắc-Việt” đã viết rằng: Trong cuộc hợp-chủng nào, sau hàng ngàn năm, các chủng gốc cũng xuất-hiện trở lại, chớ không mất bao giờ. (NGDTVN trang 736.)

Cho dù sẽ có thêm thuyết “người Việt di-cư” từ đâu tới, phương-tiện di-dân đường biển cũng nên được lưu-tâm duyệt xét…

Sinh-hoạt khi nước Biển Đông bắt đầu dâng lên

William Meacham đã cho rằng vào thời Băng-Đá, tức hơn một chục ngàn năm trước đây đã có dân-cư sinh sống dọc bờ Đông-Á. Dân này là tiền-nhân giống Việt sau này.

Khi nước biển dâng cao, bờ biển từ hàng trăm dậm Anh ngoài khơi, rút gần về vị-trí như hiện nay. Sự gia-tăng mật-độ dân-số tạo nên nhiều dịp trao-đổi tư-tưởng, cải-tiến kỹ-thuật. và một nền văn-minh hàng-hải đã phát-triển. Thuyền đi ven biển đầu tiên có lẽ là loại bè tre, xuất-hiện khoảng 10,000 năm TTL. Liên-tục qua nhiều nền văn-minh, tới Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng sinh-hoạt của người Việt nhuốm mầu sắc hàng-hải. (Bài “Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia,” William Meacham trong The Origins of Chinese Civilization, edited by David N. Keightley, London 1983, trang 147-175.)

Theo Sumet Jumsai, tại Á-Châu vào khoảng 16,000 năm trước đây, khi mực nước biển dâng lên nhanh thì những cư-dân sinh-sống tại vùng duyên-hải Đông-Á phải dồn về những vùng đất cao hơn. Họ di-chuyển ngược theo các dòng sông. Một số lớn di-chuyển nhiều về khu-vực phía Bắc vùng rộng lớn Sundaland. (Naga, trang 4.) Khu-vực châu-thổ Sông Hồng, Sông Mã có lẽ đã hội-tụ nhiều yếu-tố thuận-tiện nhất cho sự phát-triển ở Đông-Nam-Á, ngay từ những ngày xa xưa đó!

Trong sách “Les Paysans du delta tonkinois”, xuất-bản tại Paris 1936, Pierre Gourou biểu-lộ ý-tưởng rằng những đặc-điểm của nền văn-minh vùng châu-thổ Sông Hồng, Bắc Việt-Nam chứng-minh cho một nền văn-minh được phát-sinh và tiến-triển tại chỗ.

Còn theo Ông Cao Thế Dung: Dòng Lạc-Việt ở Văn-Lang không phải di cư từ phương Bắc mà là giống dân tuy cùng dòng Bách-Việt nhưng đã có mặt ở Bắc-Việt hiện nay rất sớm. (Tự hào là người Việt-Nam qua chứng liệu văn hoá lịch sử, Florida, 1989, trang 5.)

Trong những chi-tộc vùng Đông-Nam-Á, người Việt-Nam không những luôn luôn là giống dân đồng nhất mà lại còn đông đảo nhất. Qua suốt mấy ngàn năm qua, mật-độ dân-số tại Miền Bắc khai-nguyên của dân ta cũng cao hơn tất cả những nơi khác trong vùng.

Một hình-thái quốc-gia nào đó của dân Việt-Nam ở lưu-vực Hồng-Hà nếu đã thành-hình cách nay 5, thiên-kỷ cũng là chuyện dĩ-nhiên, có lẽ không làm các nhà khảo-cổ ngạc-nhiên cho lắm!

Hình 3 – Khi nước biển dâng lên vào cuối thời Băng Đá, Di-dân theo dòng sông chạy vào đất liền. Nhóm số 1 sau này tiến-triển mạnh nhất (Naga, trang 4)

Huyền-thoại, chỉ dấu về giống dân bản-địa

Phải có dân, rồi mới có nước. Huyền-thoại dân ta chứng-minh sự hiện-diện của dân bản-địa trước khi dựng nước. Xin hãy đọc những dòng chữ đầu tiên về Họ Hồng-Bàng trong sách Việt-Nam Sử-Lược của Trần-Trọng-Kim:

“Cứ theo tục-truyền thì vua Đế-Minh là cháu ba đời của vua Thần-Nông, đi tuần-thú phương Nam đến núi Ngũ-Lĩnh gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế-Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế-Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc-Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh-Dương-Vương, quốc-hiệu là Xích-Quỷ…

Kinh-Dương-Vương làm vua nước Xích-Quỷ vào quãng năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) và lấy con gái Động-đình-Quân là Long-Nữ đẻ ra Sùng-Lãm nối ngôi làm vua, xưng là Lạc-Long-Quân.

Lạc-Long-Quân lấy con gái vua Đế-Lai tên là Âu-Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai …” (Việt-Nam Sử-Lược, trang 11-12.)

Theo ông Đỗ-trọng-Huề thì những thần-thoại ấy tuy có tính-cách hoang-đường… nhưng đầy ý-nghĩa tượng-trưng (Hương Trà, Đỗ-trọng-Huề, Nhà Xuất-bản Hoa-Lư, Sài-Gòn 1968, trang 119.) Đứng trên các quan-điểm khác nhau đã có nhiều công-trình nghiên-cứu sâu xa, đôi khi đưa đến tranh-luận gay gắt về ý-nghĩa của đoạn tục-truyền này. — đây chúng tôi chỉ xin bàn về tính-cách bản-địa của dân-cư Việt trước thời lập-quốc với một quan-niệm mới có tính-cách dùng khoa-học rọi ánh-sáng vào huyền-thoại.

Phần lớn ý-kiến sau đây phỏng theo tài-liệu của sử-gia Trần-Quốc-Vượng (Trong Cõi, trang 54-55), chúng tôi xin phép để phụ thêm vài chi-tiết cập-nhật-hoá như sau:

-Đã có dân-cư sinh sống trên đất nước ta vào trước thời vua Hùng-Vương thứ nhất. Chỉ vì đồng-bào ta lập-nghiệp đông-đảo ở “phương Nam” nên vua cha Đế-Minh mới đi tuần-thú (như kiểu “xem dân cho biết sự tình”.) Vua Hùng đầu tiên tức Kinh-Dương-Vương (hiệu Lục-Dục-Vương) lên ngôi vua năm 2879 TTL., cách nay gần 4900 năm.) Nguồn gốc dân ta rõ ràng có tính-chất bản-địa. Theo chứng-luận ngày nay về khảo-cổ, chúng ta có thể nói là người Việt đã xuất-hiện từ nhiều thiên-niên-kỷ trước thời-đại vua Hùng dựng nước.

-Vua Đế-Minh là cháu ba đời vua Thần-Nông. Chi-tiết này hợp cùng với tên Lộc-Tục cho ta hai danh-từ riêng chỉ tên tuổi theo cách-thức của người Việt phương Nam. Nói rõ hơn, các vua Hùng đều là dân bản-địa với tên gọi đặc-biệt “phi Hán”.

Những điểm sau đây xin được nêu lên để làm sáng tỏ vấn đề:

1- Ngườì Trung-Hoa không gọi vua Thần-Nông mà theo căn-bản ngôn-ngữ của họ thì Nông-Thần, Nông-Thần-Vương hay Nông-thần Hoàng-Đế v.v…mới đúng. Danh-từ Thần Nông hay Ông Thần Nghề Nông đúng là theo sát với tinh-thần “xuôi ý” trong ngôn-ngữ Việt-Nam. Nhận-xét “xuôi ý” này của riêng ngôn-ngữ ta đã được các ông Nguyễn-bạt-Tuỵ và Kim-Định cùng một số học-giả Việt-Nam khác nêu ra trong hai ba thập-niên vừa qua.

2- Theo đúng truyền-thuyết của người Tàu, Vua Thần-Nông không có vẻ gì là người Trung-Nguyên. Ông họ Khương, khi chết mộ chôn ở gò đất Thương-Ngô, Trường-Sa; đất ấy trước đời Tần – Hán là đất đai Bách Việt, không phải đất Hoa-Hạ.

3- Vị-trí sao Thần-Nông trên bầu trời phương Nam. Ca-dao nông-nghiệp Việt-Nam cũng thường nói đến sao này. Cũng vậy tên mẹ Kinh-Dương-Vương là Vụ Nữ hay Vụ Tiên Nữ cũng là tên một chùm sao ngay trên đỉnh bầu trời Bắc Việt Nam. Eberhard, Wolfram đã chứng minh tỉ mỉ trong sách “The Local Cultures of South and East China” là Thần-Nông vốn không có gốc Trung-Hoa, đó là một thần-linh nông-nghiệp có nguồn gốc từ văn-hoá ruộng nước phương Nam.

4- Lộc Tục là một cái tên Việt cổ hiếm hoi may mắn còn sót lại trong tâm-thức Việt-Nam và được huyền-tích bao bọc bảo tồn.

Tuy tên Kinh-Dương-Vương là một danh-hiệu Hán-Việt nhưng đất Kinh-Dương cũng như hồ Động Đình và Ngũ-Lĩnh vốn không phải đất Trung-Hoa vào thời ấy. Thần Nông là Thần-linh nông-nghiệp của Việt-tộc, đã bị nhập nhằng nhận là của Tàu. Cách nay 5,000 năm, trong khi đất cổ Việt đã đi vào văn-minh ruộng nước thì sinh-hoạt của người Trung-Hoa còn mang mầu-sắc du-mục nặng về săn bắn,.

Sự hiện-hữu của vua Đế-Minh luôn luôn là một câu hỏi. Nếu ông đúng là ông vua Trung-Hoa và là cha của vua Hùng Việt-Nam thì sử nào ghi điều đó?

Dù thế nào chăng nữa, sau khi có con là Đế Nghi, Ông Đế-Minh đã lấy thêm vợ nữa là Bà Tiên ở Ngũ-Lĩnh. Có lẽ cuộc tình-duyên của Ông Bà cũng ngắn ngủi. Con của họ là Kinh-Dương-Vương không sống với cha, mà ở với mẹ tại quê mẹ. Vị vua này là người miền Nam và theo chế-độ mẫu-hệ thời đó, ông không thể là Sở (vùng biên-địa) cũng không phải Tàu (vùng Hoàng-Hà, sông Vị) mà là người địa-phương. Hơn nữa, tính cách thổ-dân hay bản-địa của Kinh-Dương-Vương biểu-lộ chính-xác nhất qua cái tên hoàn-toàn địa-phương cổ Việt là Lộc-Tục.

Tập-tục địa-phương của dân ĐNÁ thời cổ

Trong cuốn “Nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam”, Giáo-sư Nguyễn-khắc-Ngữ đã cho biết một số tài-liệu quý-giá về tâp-tục Lạc-Việt hồi xưa. Sau đây là một vài đoạn trích-dẫn:

a – Chế-độ Mẫu-hệ.

Mẫu-hệ là một chế-độ gia-đình bản-địa của Đông-Nam-Á, cũng như ở các sắc dân Malayo-Polynesian. Ông Ngữ bàn đến truyện các vua Hùng đầu tiên như sau:

-Mẫu-cư. Ông vua Hùng đầu tiên là Kinh-Dương-Vương, khi nhỏ sống với mẹ ở Ngũ-Lĩnh, sau lấy con gái Long-Vương ở hồ Động-Đình và ở nhà vợ dưới Thủy-phủ. Cũng vì đặc-tính mẫu-cư này, con ông là Lạc-Long-Quân cũng ở nhà mẹ dưới Thủy-phủ.

Mấy ngàn năm sau tiếp theo đời Lạc-Long-Quân sang đến đời các nhà Thục, nhà Triệu; tục này vẫn còn giữ. Trọng-Thủy sau khi lấy Mỵ-Châu, đã ở nhà vợ vì thế mới có cơ-hội cho Trọng-Thủy ăn cắp lẫy nỏ thần.

-Mẫu thống. Lạc-Long-Quân là con Kinh-Dương-Vương (em Đế-Nghi) cũng là em chú bác với Đế-Lai (con Đế-Nghi.) Âu-Cơ là con gái Đế-Lai, phải gọi Lạc-Long-Quân là chú. Nếu tính theo phụ-hệ thì Lạc-Long-Quân không thể lấy Âu-Cơ được. Nhiều người cho rằng chú cháu lấy nhau là loạn-luân bởi họ quên hẳn “mẫu thống” là tập-tục địa-phương hồi đó. Lạc-Long-Quân nhận mình không còn đồng-tộc với Âu-Cơ hay Đế-Lai nữa nên đã lấy Âu-Cơ làm vợ.

-Mẫu-tộc. Lạc-Long-Quân không những chẳng nhận mình thuộc dòng họ Đế, lại chẳng nhận mình giống cha.

Khi chia tay với Âu-Cơ, Lạc-Long-Quân đã nói:”Ta là nòi Rồng”. Rõ ràng ông Vua Hùng thứ hai này đã nhận mình thuộc dòng giống Thủy-tộc, tức là họ nhà mẹ (Long-Nữ)

B-Tục cướp vợ.

Trong truyền-thuyết họ Hồng-Bàng trên, ta thấy dù Âu-Cơ đã vui lòng theo Lạc-Long-Quân, ông Vua này cũng phải đem dấu Âu-Cơ trong Long-Đài-Nham và hoá phép thành yêu-tinh, quỷ-sứ, rồng rắn, hổ voi để chống lại bọn đi tìm.

Cũng như dân các hải-đảo Miền Nam ngày nay còn lưu giữ, người Việt thời Hùng-Vương theo tục cướp vợ. Tuy có tổ-chức đám cưới nhưng hai gia-đình lại làm cuộc lễ dưới hình-thúc cuộc cướp vợ. Họ nhà trai mang giáo mác, cung tên đến nhà gái, bắt cô dâu mang đi. Sau đó nhà gái cũng mang khí-giới, reo hò giả vờ đuổi theo .

Truyện cướp vợ của Lạc-Long-Quân là tập-tục dân Lạc-Việt hồi đó, rõ ràng không ảnh-hưởng tí Tàu nào cả.

Chúng tôi đồng-ý với ông Nguyễn-Khắc-Ngữ về những dẫn-chứng của ông dùng chứng-minh rất xác-đáng cho sự tương-đồng tập-tục giữa ngườì Việt và ngườì Melanesian, tuy-nhiên chúng tôi giữ lập-trường khác ông là những tập-tục đó đã khởi-nguyên từ đất liền Đông-Nam-Á (trong đó có Việt-Nam) thời Đồ Đá xa xưa, trước khi những tập-tục đó ảnh-hưởng ra ngoài hải-đảo.

c – Các đặc-điểm khác.

Ngoài ra, truyền-thuyết họ Hồng-Bàng còn cho chúng ta biết khá nhiều về những đặc-điểm của dân ta hồi đó như:

Căt tóc ngắn Xâm mình, vẽ chàm Ăn trầu

Ăn cơm gạo Đóng khố, mặc váy Ăn hải-sản

Làm nhà sàn Làm rẫy Lấy vỏ cây làm vải Thổi cơm bằng ống tre

Làm nghề chài lưới

Thích sinh-hoạt cạnh sông hồ, biển cả…

Toàn là những tục-lệ địa-phương thuộc vùng Đông-Nam-Á, dị-biệt hoàn-toàn với tình-trạng sinh-hoạt của Trung-Nguyên vào thời đó.

Qua nhiều lý-do như vậy, chúng ta thấy các vua đầu tiên của nước Văn-Lang đúng là có nguồn gốc bản-địa. Chỉ khi nào người ta cảm-nhận tình quê, đất nước, tổ-tiên thì người ta mới giữ gìn tập-tục. Vua Hùng là dân bản-địa, không phải người ngoại-lai. Nhà vua cũng giống như những di-dân Á-Đông ngày nay, dù có bị bắt buộc phải sống lưu-lạc ở xứ người nhưng cứ giữ tập-tục quê-hương.

Dân ta bị ngoại-bang đô-hộ một ngàn năm, ảnh-hưởng đồng-hoá văn-hoá Trung-Hoa rất mạnh. Vậy mà người Việt vẫn bảo-tồn tập-tục riêng, Cái rễ dân-tộc phải sâu, phải già đến năm mười ngàn năm trước đó mới có đủ sinh-lực giữ cho cái cây Việt sinh-tồn được đến ngày nay.

Hãy quên đi ý-nghĩ nguồn gốc từ Tàu phương Bắc

Ông Bình-Nguyên-Lộc đã viết rằng: “Càng chứng-minh được rằng Việt không là Trung-Hoa, thì sự chứng-minh Việt là Mã Lai càng được củng cố hơn lên (NGMLCDTVN, trang 213.) Mệnh-đề “Việt là Mã-Lai” mà tác-giẩ “Nguồn gốc Mã Lai của Dân tộc Mã Lai” đã dùng trong trường-hợp này, có thể hiểu được là Việt có nguồn gốc chung Đông-Nam-Á hay Việt có nguồn gốc tại chỗ (mà không phải là Tàu!).

Ta không phải là Tàu

Có một ông Tàu, bà Tàu chính-cống nào mà lại nhuộm răng đen, ăn trầu, búi tóc, đóng khố hay mặc váy, đi thuyền, tham-dự hội nước, đối đáp nam nữ vv… không?

Thế mà trước kia, một số nhỏ nhà nho Việt-Nam say mê ảnh-hưởng Trung-Hoa, cho rằng những truyền-thuyết dân-tộc nói lên nguồn gốc phương Bắc của người mình. Qua chiếc lăng-kính Hán-học và cái mãnh-lực kinh-khủng của số lượng kinh sách khổng-lồ Trung-quốc, trước đây ít nhiều người đã có những cái nhìn sai lạc về hình-ảnh trung-thực của những ngày đầu lập-quốc. Sự diễn-dịch kiểu “bảo-hoàng hơn Vua”, “Tàu hơn cả Tàu” như vậy không thể nào hợp-lý được.

Phải làm sao thực-hành được như lời của Dr. Nyi Nyi, một thời là Phụ-tá Bộ-trưởng Giáo-Dục Miến-Điện: “Cái gì cũng nói là nguồn-gốc „n-Độ, cái gì cũng nói là nguồn gốc Trung-Hoa. Chúng tôi đang phải vứt bỏ tất cả những điều vớ vẩn như vậy khỏi các sách sử của chúng tôi”.

Có thể là chính ông Nyi Nyi này lại đang mặc váy longyi là một danh-từ „n-độ và đang khoác trên mình chiếc áo ba túi với cái nút áo đúng kiểu Trung-Hoa (National Geographic, Vol.139, No.3, March 1971, trang 304.) Thật buồn nếu số phận các dân nhược-tiểu là như vậy, nhưng muốn cho quốc-gia tiến-bộ thì nguồn gốc của dân-tộc phải hiểu sao cho được đúng đắn. Thời-đại khoa-học ngày nay chứng-minh Miến đi từ Miến, cũng như Việt đúng là có nguồn gốc Việt, không có tí „n hay tí Tàu nào trong đó cả.

Chỉ cần bỏ ra một chút thời-giờ để suy-luận, chúng ta nhận biết rõ ràng dân-tộc Việt-Nam là thuần-tuý. Đặc-biệt truyền-thống “nước” đã cho người Việt-Nam một chỗ đứng độc-lập riêng rẽ.

Việt là Việt

Kể từ một vài thế-kỷ trước Công-nguyên, văn-hoá Trung-Hoa đã ảnh-hưởng nhiều đến dân-cư vùng Đông-Nam-Á nhưng không phải vì thế mà nghĩ rằng Tàu là cha đẻ của dân vùng này.

Dr. Paul K. Benedict khi bàn về văn-hoá cổ-thời đã phát-biểu một câu chí-lý “… there were many other cultural exchanges between the Chinese and the early inhabitants of Southeast Asia, -with the Chinese as the recipients rather than the donors” (cũng báo National Geographic kể trên, trang 306.) Ý-tưởng “Tàu chỉ thừa-hưởng, không có ban-phát gì hết” cũng đúng cho cả vấn-đề tranh-luận về nguồn-gốc chủng-tộc. Nói nôm na: “Tàu quá trẻ để làm cha đẻ ra các chủng-tộc Đông-Nam-Á.”

Theo các nhà nhân-chủng học, tổ-tiên các dân-tộc Đông-Nam-Á đã xuất-hiện từ lâu. Trước đây 60,000 năm, phương-tiện vượt biển của họ đã đủ khả năng để đưa các “thuyền-nhân” sang sinh sống tại Úc-Châu. (East of Wallace’s line: issue and Problems in the Colonisation of the Australians, Jones, R., in The Human Revolution: Behavioural and Biological Perspectives on the Origins of Modern Humans, ed. P. Mellars and C. B. Stringer, Edinburgh University Press, 1989, pp. 743-782.),

Trong khi những người bản-địa như Việt đã sinh sống ở vùng Đông-Nam Á-Châu ngay từ thời Băng-Đá thì ở vùng Hoa-Bắc, mãi sau này người Tàu mới xuất-hiện. Họ đến đó không sớm lắm, chỉ chừng 4,000 năm qua mà thôi. Còn Sử-ký của Tàu, nói cho xác-thực, chắc phải muộn hơn nữa. Sử-gia Ray Huang xác-nhận thời-gian gọi là “hữu-sử” đó khởi-sự khoảng năm 1600 TTL. Nguyên-văn như sau: “As things stand today, the first page of Chinese history that has archaeological backing bears the relatively late date of 1600 B.C. at the founding of the Shang dynasty…” (China: A Macrohistory, Ray Huang, New York, 1988, trang 6.)

Thời-gian lại cũng quá muộn màng cho họ khi vượt được Dương-Tử-Giang để tiến về Hoa-Nam. Giống dân hiếu-chiến này ra sức tàn-phá, giết chóc, tiêu-diệt văn-hoá bản-xứ. Có lẽ họ đã thành-công một số mưu-đồ xấu xa. Thế nhưng trong mục-tiêu chót là diệt-chủng dân (Lạc-)Việt thì người Hán đã thất-bại và nước Việt vẫn còn tồn tại đến bây giờ.

Nếu như lịch-sử đổi dòng, chẳng có thiên-tai “Đại-Hán”, nguồn văn-minh Hoà-Bình Đông-Sơn vẫn tiếp-tục chảy xuôi, không có ngàn năm bị trị và đời sống dân ta đã muôn phần tốt đẹp hơn. Bản-năng bảo-tồn nòi-giống của dân Việt chứng-minh giả-thuyết về “rễ cái bản-địa” vậy!

Chứng-tích Khảo-cổ

Có lẽ những chứng-cớ quan-trọng nhất về sinh-hoạt của dân trong thời hậu Băng-Đá tại vùng duyên-hải phía Đông Á-Châu đã bị đại-dương chôn vùi dưới đáy nước sâu của Biển Đông từ hàng chục ngàn năm qua, (Vietnam, World Bibliographical Series, Vol 147 — David G. Marr, CLIO Press, England, 1992, p xvi.) Tuy vậy, những dấu-tích còn lại của tiền-nhân chúng ta trên lãnh-thổ hiện nay cũng đã đủ để chứng-minh rằng giống Việt là một chủng-tộc rất xưa cũ, đồng-thời cũng là chủng-tộc tiền-tiến trong các hoạt-động hàng-hải. Thời-gian này tính ra nhiều ngàn năm trước khi người dân Trung-Nguyên đầu tiên phát-xuất từ Trung-Á, di-chuyển qua lập-nghiệp cạnh sông Hoàng-Hà.

Trong thập-niên 1920, Trung-tâm Văn-Hoá Hoà-Bình được cô Madeleine Colani, một nhà thảo-mộc-học, sau náy trở thành nhà khảo-cổ người Pháp danh tiếng tìm ra… (Wilhelm G. Solheim, ‘New Light on a Forgotten Past,” National Geographic Magazine, March 1971, trang 333.) Tài-liệu báo-cáo của cô về văn-minh Hoà-Bình cho đến nay vẫn được coi là rất có giá-trị như sau:

-1927, L’ age de la pierre dans la province de Hoa Binh (Tonkin.) MSGi 14, fascicle i.

-1928, Notice sur le prehistoire du Tonkin: station de Cho Ganh, atelier. BSGi 17, fascicle 23-37.

-1929, Quelques stations hoabinhiennes: note preliminaire. BEFEO 29:261-72.

-1930, Recherches sur le prehistorique Indochinoises. BEFEO 30: 299-422.

-1935, Megalithes du Haut-Laos. 2 volumes. Publications de l’école francaise d’Extreme-Orient nos. 25, 26.

-1940, Emploi de la pierre en des temps reculés: Annam – Indonesie – Assam. Publication des Amis du Vieux Hue, Hanoi: imprimerie d’Extreme-Orient.

Trong khoảng ba chục năm trở lại đây, khoa Khảo-cổ cung-cấp thêm nhiều tài-liệu mới lạ. Những kiến-thức cận-đại về cổ-sử có thể làm những người sống trước đây một vài thế-hệ giật mình, tưởng như truyện giả-tưởng. Nguồn gốc dân-tộc Việt đáng được kể là rất cổ và văn-hoá ta phát-sinh ngay tại địa-phương nơi vùng đất quê-hương của ta:

-Văn-minh Hoà-Bình đã khởi-nguyên trên đất nước ta hồi mười lăm, mười sáu ngàn năm trước đây

-Đà tiến-triển văn-minh của dân ta được giữ liên-tục, không ngừng nghỉ; đi từ Bắc-Sơn, Hoà-Bình chuyển tiếp qua Đồng Dậu, Phùng-Nguyên, cuối cùng rực sáng ở Đông-Sơn. Có chỉ-dấu cho thấy văn-minh Ngưỡng-Thiều, Long-Sơn Trung-Hoa và Đài-Loan do văn-minh Miền Nam khai sáng.

-Tính-chất văn-minh nặng phần hàng-hải và ruộng nước.

Solheim tìm ra rằng ngay từ thời Đồ Đá, ảnh-hưởng Hoà-Bình đã tới Úc. Lúa gạo xuất-hiện ở Đông-Nam-Á trễ nhất là 3,500 năm TTL.Kỹ-thuật Đồ Đồng khởi-sự trước Trung-Hoa cả ngàn năm, cũng trước cả „n-Độ và Lưỡng-hà-Địa. Đường biển trở thành hệ-thống chuyển-vận viễn-duyên, người Việt từ Đông-Sơn đi đi lại lại khắp vùng Đông-Nam-Á .

Carl Sauer cho rằng dân bản-địa Đông-Nam-Á đáng ghi (??) những công-lao to lớn. Họ đã làm một bước đi quyết-định cho loài người trên đường tiến-bộ. Đó là việc thuần-hoá cây cỏ đầu tiên, một phát-triển sớm sủa nhất của nhân-loại trong nông-nghiệp. (Agricultural Origins and Dispersals, New York, 1952, Chapter 2.)

Lea E. Williams lý-luận rằng nhờ những hoàn-cảnh chung quanh thuận-lợi, cũng như khối óc năng-động của chính họ, người Đông-Nam-Á đã đạt đến một trình-độ kỹ-thuật cao. Những khả-năng về tự-tồn trên biển và sản-xuất nông-phẩm là kết-quả của những phát-triến đặc-thù Đông-Nam-Á. Rất có thể là dân-cư vùng này đã sớm đạt đến những tình-trạng tiến-bộ tương-tự như ở vùng Bán-nguyệt phì-nhiêu. (Southeast Asia: A History, Lea E. Williams, Oxford University Press, New York, 1976, trang 25.)

Khoa khảo-cổ khám-phá rằng Đông-Nam-Á đã trồng cấy cây lúa 3,500 năm TTL. (National Geographic, Vol.139, No.3, March 1971, trang 335), gia-súc-hoá súc-vật từ 5,000 năm TTL, tức là hàng ngàn năm tiến-bộ hơn những nền văn-minh cổ xưa khác. Luyện-kim ở vùng Đông-Bắc Thái-Lan/ Bắc Việt-Nam tiến-bộ ngay thời 3,000 năm TTL, khoảng ngàn năm trước kỹ-thuật đúc đồng Trung-Hoa và „n-Độ.

Như đã trình-bày ở trên, Hoà-Bình là trung-tâm văn-hoá tiên-khởi của toàn vùng Đông-Nam Á-Châu. Theo đường hàng-hải, ảnh-hưởng văn-hoá này truyền-bá đi khắp các hải-đảo, vùng duyên-hải và đất liền gần nửa vòng trái đất.

Trên những miền đất xa cách với Hoà-Bình như tại cửa sông Dương-Tử, những chi-tộc Việt cũng rất văn-minh Vùng Thái-Hồ đã tiến đến chế-độ “đại tù-trưởng” ngay từ thiên-kỷ thừ 3 TTL. Trong thời-gian đó, vùng Hoa-Bắc sau này là cái nôi văn-minh Trung-Hoa còn chậm tiến hơn.

Giáo-sư Tsui-Mei Huang thuộc phân-khoa Mỹ-thuật viện đại-học Pittsburgh đã đúc-kết và nhận-xét về những khám-phá mới đây về khảo-cổ trong tạp-chí Antiquity 66 (1992): 75-83 như sau:

- Hơn một trăm địa-điểm khảo-cổ có số tuổi từ 3,310 đến 2250 năm TTL., trong vùng Thái-Hồ đã được khám-phá. Đất này sau đó xuất-hiện nước Việt, hàng trăm năm liền xưng bá thời Chiến-quốc. Các di-tích tìm thấy cổ hơn rất nhiều so với các di-tích tương-tự tìm thấy ở Hoa-Bắc và dĩ-nhiên trước triều-đại nhà Chu tới vài ngàn năm.

- Sự khai-quật các cổ-vật vùng Liangzhu đã làm thay đổi quan-niệm trung-tâm văn-hoá nằm ở Hoa-Bắc và thúc-đẩy các nhà khảo-cổ nên chấp-nhận sự hiện-hữu của một nền văn-hoá bản-địa miền Nam; nền văn-hoá này đã đóng góp một vai trò rất có ý-nghĩa trong suốt thiên-kỷ thứ 3 TTL. vào việc phong-phú-hoá tình-trạng đời sống và xã-hội nước Tàu “

Chỉ có hợp-chủng mà không có diệt-chủng

Sự thật hiển-nhiên chứng-minh rằng không có một dân-tộc nào trên thế-giới ngày nay là một chủng-tộc thuần-tuý. Chúng tôi không bao giờ phủ nhận về sự hiện-hữu của những đợt di-dân từ ngoài vào đất nước Việt-Nam. Chúng tôi chỉ xin nêu ra quan-điểm là sự cần-thiết phải suy xét cho đúng mức tầm quan-trọng của những sự “nhập nội” này.

Đi sau những người dân nước của Biển Đông, các dân di-cư đến xứ ta sau này tuy có, nhưng số lượng mỗi đợt không nhiều lắm so với dân-số địa-phương. Họ thuộc những sắc dân tương-cận, cùng ưa thích vùng duyên-hải và sinh-hoạt sông nước. Hầu hết di-dân thuộc nhóm Bách-Việt, số rất nhỏ là người Tàu chính gốc và các dân khác.

Bác-sĩ Trần-Đại-Sỹ, thác lời các bạn đòng-nghiệp của Ông, đã phát-biểu những ý-tưởng về nguồn gốc tộc Việt, một phần nào tương-tự như những sự di-dân trình-bày ở trên như sau:

“Tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường-giang: Đông tới Biển . Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thái-Lan. Người Việt từ Ngô-Việt di-cư xuống phương Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao-Chỉ. Người Việt di-cư từ Nam sông Trường-Giang tránh lạnh xuống Bắc-Việt đều đúng. Đó là những cuộc di-cư của tộc Việt trong lĩnh-thổ của họ, chứ không phải họ là tộc khác di-cư tới đất Việt.” (Việt-Nam Đệ Ngũ Thiên kỷ, USA, 1994, trang 223.)

Thủy-thổ đặc-biệt xứ ta đã ngăn cản nhiều chuyến di-cư khởi đi từ các vùng đất có địa-thế khác-biệt. Tài-liệu biện-luận cho quan-niệm này là cuốn sách “Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam”. Tác-giả sách này, Ông Bình-Nguyên-Lộc cho rằng có hai (??) chuyến di-cư vĩ-đại nhất vào xứ ta. Tiền-nhân Việt thuộc nguồn-gốc Mã-lai, đã từ Hoa-Bắc thực-hiện việc di-cư đến Bắc-Việt bằng đường biển.

Cho dù đồng-ý là dân ta có nhiều đặc-điểm giống Melanesian hay giống Indonesian chăng nữa, chúng ta cũng không thể vội vàng kết-luận dân-tộc Việt-Nam là con cháu các dân đến từ Nam-đảo.

Tại nhiều nơi khác trên thế-giới, ngôn-ngữ, tục lệ cổ xưa thường bị chuyển-hoá vì nhiều đợt di-dân ồ ạt ở ngoài đổ vào. Trái lại trên đất nước chúng ta, những truyền-thống xưa cũ hàng mấy ngàn năm vẫn còn được bảo-tồn. Những đợt di-dân vào đất nước ta về sau này đã không tiêu-diệt những dân-cư bản-địa sống ở đất này trước họ. Hầu hết những yếu-tố căn-bản về nhân-hình nguyên-thủy và văn-hoá đầu tiên còn tồn-tại.

Giống dân đầu tiên sống trên giải đất ta là giống da đên (Négritos), Me-la-nê-xi (Mélanésiens) và giống Úc-Châu (Australiens) , (Địa-Lý Việt-Nam Lớp MườI Một, Nguyễn-Khắc-Ngữ và Phạm-Đình-Tiếu, Cơ-Sở Xuất-bản Sử-Địa, 1991(??), trang 120-121.)

Sử Đông-Nam-Á đã được nhiều học-giả thuộc đủ mọi mầu da trắng, vàng, nâu viết lại nhưng không ai nghĩ rằng đã có những chuyện diệt-chủng đáng kể nào xảy ra trên đất nước chúng ta. Người đến sau đã hội-nhập với những người ở đây trước để cùng kiến-tạo cuộc sống chung. Những người Mường, người Mán, người Kinh, kẻ Chợ, người miền Cao, đường Ngược … rõ ràng vẫn tiếp-tục sinh-sống hoà-thuận vui vẻ ngay trong thời-đại chúng ta. Những vì vua đầu thời tự-chủ như các nhà Đinh, nhà Lê sinh ở xứ Mường. Trước đó lại có anh-hùng Phùng-Hưng ông cha đời đời làm Quan Lang hay Tù-trưởng châu Đường-Lâm. Có thể nói các vị này gốc-tích dân thiểu-số cũng đúng. Tuy vậy nhưng điều đúng hơn hết: các vua anh-hùng này chẳng phải là Vua của nước Việt hay sao ? Tất cả chúng ta dù người mang họ Nguyễn (40% dân-số), người kia họ Đinh, họ Lê, họ Phùng, họ Hà, họ Vũ … cũng một dòng máu đậm mầu dân bản-địa chảy trong huyết-quản mà thôi!

Trong khi nghiên-cứu, thâu-lượm thêm tài-liệu Đông-Nam-Á cổ-thời, chúng tôi càng yên-tâm nghĩ rằng gốc rễ bản-địa là quan-trọng và rằng khi đi sâu vào cổ hàng-hải chúng tôi thấy sắc đân Việt-Nam “đa-số” rất gần với những sắc dân “thiểu-số” như Mường, như Mán, như Rhadé, như Chàm., như Bà-Nai … Một thuở xa xưa nào đó tiền-nhân của họ đã cùng tiền-nhân Việt sinh-hoạt hay hải-hành qua lại trên biển Đông, mà thời Băng Đá chỉ như một hồ nước chung quanh có đất liền bao bọc gần như khép kín.

Có lẽ sự phân chia chủng-loại một cách khe khắt như ta thấy ngày nay chỉ mới xảy ra trong thời gần đây mà thôi.

Tổng-hợp: Những chỉ-dẫu hướng về một nguồn gốc

Luận-lý “rễ cái – bản-địa” của dân-tộc Việt-Nam được xây- dựng trên chứng-tích phát-sinh “tại chỗ” của các chủng-tộc Đông-Nam-Á. Tiến-trình sinh-hoạt văn-hoá của dân Việt chói sáng nhất trong vùng và liên-tục ngay từ thời cổ sơ. Đặc-biệt những phát-triển hàng-hải đáng kể là vượt bực. Đi từ việc sử-dụng những vật-liệu thông thường tại chỗ như tre nứa làm bè, người Việt đã tiến đến sự hoàn-thiện phương-cách vận-chuyển Tàu thuyền tự-động, không cần người lái.

Muốn đi tìm một khuôn mẫu”gốc rễ tại chỗ” cho một dân-tộc, người ta không thể tìm được một sự tiêu-biểu nào hoàn-bị hơn cho bằng trường-hợp dân-tộc Việt-Nam.

Những giả-thuyết về phân-tán nhân-chủng, ảnh-hưởng văn-hoá cùng những sinh-hoạt hàng-hải tỏa ra các nơi mà tâm-điểm là Việt-Nam đã được trình-bày trong hầu hết tập tài-liệu này. Sau phương-cách phân-tích có tính-chất “phân-kỳ” này, chúng tôi lại xin dùng một phương-cách …… đưa ra một tổng-hợp mà luận-lý có tính-chất “hội-tụ”. Đi từ những dữ-kiện về sinh-hoạt rộng lớn, xa xôi thu góp lại, chúng ta cũng có thể tìm ra tâm-điểm phát-nguyên hay nguồn gốc người Việt-Nam là tại chỗ.

Trên cả một vùng không-gian rộng lớn, hơn nửa vòng trái đất từ Madagascar tới Easter Island, loài người tuy sử-dụng nhiều loại sinh-ngữ khác nhau nhưng xem ra chúng có khá nhiều đặc-điểm tương-tự. Một số nhà ngữ-học nhận thấy nên xếp chung hơn một ngàn sinh-ngữ này vào một họ lớn là Nam-phương-ngữ. Về hàng-hải, địa-bàn của các ghe thuyền có thân phụ và bè mảng chạy buồm gần như trùng-hợp với địa-bàn ngôn-ngữ “Nam-phương”. Hai địa-bàn ngôn-ngữ và thuyền bè này khởi-sự từ Đông-Nam-Á.

Trong cổ-thời, toàn vùng Đông-Nam-Á, lan qua cả Úc-Châu, Đài-Loan và Nhật-Bản, sinh-hoạt chung của các dân-cư chịu ảnh-hưởng nền văn-hoá Hoà-Bình. Hai địa-bàn của văn-hoá Hoà-Bình này và ngôn-ngữ Nam-phương, xem ra gần như trùng-hợp với nhau.

Trên khu-vực duyên-hải kéo dài từ cửa sông Hoài đi về phía Nam tới Mã-Lai-Á, qua các hải-đảo Nam-Dương, Phi-luật-Tân; các nền văn-minh thực-vật và văn-minh “nước” bao trùm nhiều sinh-hoạt, ghi dấu vết thời Đồ Đá / Đồ Đồng đén từ các trung-tâm Hoà-Bình / Đông-Sơn. Nền văn-hoá của ta, không ảnh-hưởng “thạch đá” như kiểu kiến-trúc đá khối tại Nam-Dương, Khmer, Lào… Chỉ có ở Việt-Nam, người ta mới có thể tìm thấy một nền văn-hoá “nước” thuần-túy nhất, nhẹ nhàng và nhân-bản.

Vào cuối thời Băng Đá, khi nước Biển Đông dâng lên cao, dân cư vùng đồng-bằng Sundaland kéo nhau rút vào vùng đất liền theo các dòng sông. Khu vực phía Bắc Sundaland, dân đông nhất hội-tụ tại vùng các sông Hồng, sông Mã. Sau này, sinh-hoạt văn-hoá của người Việt phát-triển mạnh nhất trong vùng qua suốt một thời-gian dài hàng chục ngàn năm.

Dân-cư vùng Đông-Nam-Á rất có thể là một chủng-loại phát-triển tại chỗ. Xương hoá-thạch của người vượn tìm thấy ở Trung-Hoa, cũng thấy tại Việt-Nam. Nhiều chứng-cớ cho chỉ dấu tại nước ta đã diễn ra tiến-trình người vượn tiển-hoá thành người hiện-đại.

Ngay từ thời Băng Đá, do địa-thế núi non chia cắt, dân-cư Đông-Nam-Á bị cô-lập với phần thế-giới ở ngoài. Trong khi dân-cư vùng này không đông đảo cho bằng ở „n-Độ hay Trung-Hoa, riêng đất Việt từ thời cổ vẫn luôn luôn có một mật độ dân-cư cao nhất trên thế-giới.

Không những Việt-Nam chỉ là địa-bàn phát-nguyên của chủng Việt, mà theo Học-giả Groslier, còn có nhiều đợt di-cư từ Đông-Dương đi ra các hải-đảo Thái-Bình-Dương. Di-dân gồm có các giống dân Austroloid, Melanesians, Indonesians Mongolians (The Art of Indochina, trang 39.) Như vậy thật rõ ràng, học-giả không có gợi ý hay phát-biểu ý-tưởng cho rằng người Đông-Dương đã đến từ Australia, từ Melanesia, từ Indonesia, từ Mongolia v.v…

Nhiều sắc dân khác nhau đã sinh sống trên lãnh-thổ Việt-Nam từ cổ thời. Người Việt chiếm đa-số, cư-ngụ tại những vùng đất thấp. Vì là giống người đến trước, người Việt sinh sống trên những đất đai thuận-hảo, trong khi các di-dân đến sau đành phải canh-tác nơi những nơi núi cao, rừng rú.

Việt-tộc tại khắp ba miền Trung, Nam, Bắc đều bảo-tồn cổ-tục. Tinh-thần đó chứng-minh tính-cách bản-địa của chủng-tộc. Tuy vậy, không có miền nào mà người dân còn giữ gìn tập-tục lâu dài như nhuộm răng đen, ăn trầu, đóng khố… và nhất là mặc váy cho bằng những dân miền Bắc Việt-Nam. Rễ Việt-tộc chắc đã ăn rất sâu nhất vào những vùng đất khai-nguyên này.

Tổng-hợp lại, những tập-tục, các hoạt-động về hàng-hải, ngôn-ngữ và nhiều sinh-hoạt văn-hoá khác đều quy-tụ về một địa-điểm gốc là vùng đồng-bằng Sông Hồng của Bắc Việt-Nam. Cái rễ cái bản-địa của dân-tộc ta vì thế, không những quan-trọng cho riêng Việt-Nam chúng ta mà còn có nhiều liên-hệ đến các sắc dân khác tại Đông-Nam-Á và Thái-Bình-Dương.

Tâm-lý và đặc-tính bản-địa

Bản-chất dân ta rất hiền-hoà. Nhiều du-khách đến thăm xứ ta đã nói như vậy. Mấy lời sau đây trích ra từ tập sách “The Mandarin Road to Old Hué, Narrative of Anglo-Vietnamese Diplomacy from the 17th century to the eve of the French Conquest, Altair Lamb, London, 1970, trang 132 & 270):
-Dân Việt-Nam là một giống dân lịch-sự (They are a courteous, affable, inoffensive race, rather inclined to Indolence- The Chapman Mission, 1778.)

- Người Việt bản-tính tốt tự-nhiên, ít thù-hận, không gây nhiều tội ác, rất hiếu khách (… that docility and good nature … that they were so little actuated by the spirit of revenge that murder and assassination were crimes little heard… they make no objections to give to foreignerrs their personal services… we found the Cochin Chinese ready to perform for us cheerfully every menial office… We went freely into the villages and were everywhere treated with hospitality, kindness and good nature – The Crawfurd Mission, 1822.)

Người Việt lịch-sự, nể-trọng người ngoại-quốc, nhưng trong sự giao-thiệp đôi khi có một sự “bất thường”: chúng ta đã tự kiêu về đất nước, về dân-tộc Việt của chúng ta một cách quá đáng. Chính Bác-sĩ Crawfurd đã viết trong báo-cáo đã kể ở trên, rằng : They look upon themselves as one of the first people in the world and their King as one of the first of princes. (sách “The Mandarin Road to Old Hué, Narrative of Anglo Vietnamese Diplomacy from the 17th century to the eve of the French Conquest, Altair Lamb, London, 1970, trang 270.)

Cũng vậy, rất đông học-giả ngoại-quốc khi nghiên-cứu tâm-lý người Á-Đông, thắc mắc không hiểu tại sao dân Việt lại hay có tinh-thần dân-tộc quá cao, cao hơn các dân-tộc láng giềng. Trong khi đất nước nghèo đói, đồng-bào chậm tiến, xuống đốc thê-thảm: người Việt vẫn tự đề-cao họ lên. Họ nghi-kỵ các chính-quyền ngoại-bang, đặc-biệt chính-quyền Trung-Hoa và nhiều khi cả dân Trung-Hoa nữa. Vấn-đề tâm-lý này rất sâu sắc. Dáng dấp người Việt trông hơi giống người Tàu, nhưng nếu tưởng lầm một người Việt là một người Tàu, họ sẽ giận ngay.

Người Thái-Lan có thể không “cuồng-tín” như vậy, có lẽ chỉ vì dân họ mới di-cư đến lập-quốc trên đồng-bằng sông Ménam.

Dân-cư sinh sống ở Hoa-Nam, ở Đài-Loan, ở Hoa-Bắc, ở Tân-Cương cùng được gọi chung là dân Tàu nhưng họ có những vẻ gì đó không giống nhau. Họ không có cái niềm hãnh-diện dân-tộc quá khích như người Việt-Nam. Vì thế mà Hoàng-đế Trung-Hoa có thời đã là những “người ngoài” xuất-xứ từ Mông-Cổ, từ Mãn-Châu…

Người Việt “cuồng-tín” chăng?

Người Việt-Nam khác hẳn các dân khác, rất hãnh-diện được làm một người Việt-Nam. Chúng ta có thể hy-sinh tất cả để bảo-vệ lãnh-thổ. Sở dĩ người Việt “cuồng-tín” như vậy vì chúng ta cảm thấy bản-thân gắn liền vào đất nước Việt-Nam. Sự gắn liền đó đã khởi-sự từ lâu đời. Nó biểu-lộ tính-chất thuần-nhất và đặc-tính “bản-địa” của gốc rễ dân-tộc. Từ mười mấy ngàn năm trước liên-tục đến nay, giống Việt đã là chủ-nhân-ông đầu tiên của vùng đất cạnh Biển Đông này.

Tự thâm-tâm người Việt-Nam nghĩ rằng chúng ta có gốc rễ tại chỗ. Lẽ tự-nhiên chúng ta không thích bị gọi là “con đẻ của Tàu” hay giống dân từ núi rừng cao-nguyên (như Tây-Tạng) đi xuống, cũng không ưa bị gán cho là từ hải đảo xa xôi (như Melanesia) đi vào.

Vũ Hữu San

Nguồn: http://vuhuusan.110mb.com

 

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

Lời Giới Thiệu :

Bài viết này có thể coi là bài viết đầu tiên trong loạt bài tôi viết về đề tài “Tôn Giáo và Dân Tộc”. Viết xong từ cuối năm 1999 khi sống lang thang ở Virginia và Maryland, nhưng tới nay bài này vẫn chưa bao giờ được đăng trên báo hay tập san nào. Sau khi tôi đã xuất bản được bốn cuốn sách với gần 80 đề mục, bản thảo “Củ Khoai Lùi Bếp Tro” vẫn nằm im trong ngăn kéo. Nay, vì mới thực hiện được webpage “Tôn Giáo và Dân Tộc” của riêng tôi:

- Địa chỉ 1:          http://charlienguyen.com/

- Địa chỉ 2:           http://home.comcast.net/~charlieng/

- Địa chỉ 3 :          http://home.earthlink.net/~charlienguyen/

tôi muốn đưa bài này lên để chia xẻ với các bạn .

Trước khi vào đọc “Củ Khoai Lùi Bếp Tro”, xin mời các bạn đọc bức thư của tôi gửi hai người bạn thân để giới thiệu bài viết này:

-       Trước hết là bạn Lư Tấn Hồng, cựu thẩm phán Quân Pháp, bút hiệu Vĩnh Như và Nguyễn Viết Hồng.

-       Sau đó là bạn Nguyễn Anh Tuấn, bút hiệu Thường Nhược Thủy.

Cả hai bạn là đồng tác giả của nhiều cuốn sách gíá trị chuyên nghiên cứu về “tinh hoa tư tưởng Việt” “Đạo Sống Việt” và nhất là về văn chương bình dân (ca dao tục ngữ) và về văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Nhờ đọc các sách của các bạn đó, nên tôi đã có được một số kiến thức cần thiết về văn hóa cổ truyền của dân tộc, và từ đó nảy sinh lòng yêu mến con người và tâm hồn thuần túy Việt Nam.

Sau đây là bức thư gửi hai người bạn tôi :

Virginia, ngày 28/2/2000

Hai bạn Lư Tấn Hồng và Nguyễn Anh Tuấn thân mến,

Như các bạn đã biết, tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc của Công Giáo LaMã, vốn mang nặng tính chất du mục Babylon và hoàn toàn xa rời văn hóa dân tộc. Có lẽ các bạn cũng nhận thấy rất nhiều người Công giáo trí thức, họ hiểu biết nhiều nhưng tại sao họ vẫn không thoát ra khỏi cái ngục tù tư tưởng của họ? Đó là vì họ đã mắc tròng, tức bị mắc kẹt trong cái thòng lọng của đạo Công Giáo (The Catholic Loop). Cái tròng nặng nhất là cái tròng tình cảm gia đình. Không ai muốn ra mặt công khai chống lại cái tôn giáo lâu đời của gia tộc và gia đình mình, nhất là cái tôn giáo đó lại là thứ tôn giáo cuồng tín như Công giáo LaMã.  Nhiều cha mẹ sẵn sàng từ con hoặc vợ bỏ chồng, chứ không bao giờ chấp nhận bỏ đạo, vì vậy mọi người Công giáo tỉnh ngộ vẫn cứ phải im lặng làm hòa cho yên cửa yên nhà.  Nhiều người lại cho rằng chống lại đạo của cha mẹ ông bà mình là bất hiếu nên họ đã không dám thoát ra khỏi cái tròng của đạo. Bài viết “Củ Khoai Lùi Bếp Tro” tôi đính kèm theo đây nói lên cái hoàn cảnh ấy.  Chính cái tinh thần dân tộc còn sót lại trong tôi đã giúp tôi thoát khỏi cái tròng Công giáo của văn hóa du mục Babylon để trở về với văn hóa dân tộc Việt Nam.

Tôi ví cái văn minh Tây phương (trong đó có đạo Công giáo) cũng như món “french fries” hay “smashed potato”, bề ngoài trông có vẻ “văn minh” nhưng không thích hợp với tôi bằng ”củ khoai nướng lùi tro”.  Đối với tôi, củ khoai nướng mộc mạc đơn sơ nhưng bên trong củ khoai là tất cả vị ngon nguyên chất ngọt ngào và mùi thơm của nó đượm cả tình người.

Tôi yêu văn hóa dân tộc cũng như yêu củ khoai mà mẹ tôi nướng vùi tro thảy cho tôi ăn hồi còn nhỏ. Tôi bỏ văn hóa ngoại lai để trở về với văn hóa dân tộc đâu có phải là bất hiếu với cha mẹ ông bà đâu. Tôi không chấp nhận tôn giáo không có nghĩa là tôi trở thành kẻ vô thần và vô đạo đức. Tôi chỉ từ bỏ cái quan niệm sai lầm về Chúa (hay Thượng Đế), chứ tôi không chống lại các đấng thiêng liêng. Tôi từ bỏ tôn giáo vì tôn giáo không cần thiết cho con người, chứ không phải vì tôi muốn sống buông thả, vô đạo đức.

Đó là nội dung tư tưởng tôi muốn diễn đạt trong bài viết này với ước mong được các bạn giúp thêm ý kiến.

Thân ái,

Chấn

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

Chúng ta đang sống trong thời đại của những cơ hội và những thách thức  không thể tiên đoán. Nền khoa học xuất phát từ văn minh Tây phương không ngừng mở rộng những chân trời kiến thức khiến con người có thể sáng tạo nên những kỳ quan kỹ thuật không kém gì những phép lạ của Thượng đế. Con người đã thành công sáng tạo ra những con cừu hay những con chuột giống hệt như nhau từ những tế bào sinh vật. Con người  cũng đã thành công trong việc làm những cơn mưa nhân tạo, hoặc trong việc nghiên cứu các “genes” để tạo ra những giống lúa, rau, quả theo ý muốn. Các nhà hóa học đang tìm cách phục chế các loại rác do loài người phế thải mỗi ngày để giảm bớt tối đa sự phung phí nguyên liệu. Giới y khoa đã thành công chế tạo vài loại thuốc chủng ngừa bằng DNA để giúp con người chỉ cần chủng ngừa một lần cũng đủ tránh được một vài thứ bệnh nào đó trong cả cuộc đời.

Thế giới khoa học Tây phương vẫn liên tục đóng góp mỗi ngày vào kho dự trữ kiến thức của nhân loại. Chỉ trong phạm vi Anh ngữ không thôi, người ta tính ra có tới 7000 tài liệu được viết ra mỗi ngày về các đề tài khoa học. Không một ai có đủ thỉ giờ và sức lực để đọc, chứ không nói tới chuyện có hiểu hay không.

Chúng ta tự hào đang được sống trong thời đại Tin Học (Information Age) nhưng thực sự ra chúng ta đang bị tràn ngập bởi những dữ kiện (data) mà phần lớn đã làm cho chúng ta điên đầu lo lắng và căng thẳng thần kinh. Mọi người Tây phương hầu như đang được sống trong cuộc sống vật chất đầy đủ nhất từ xưa đến nay, nhưng con số những người bị căng thẳng tinh thần, thậm chí là mắc bệnh tâm thần lại có phần gia tăng hơn trước. Rõ ràng cuộc sống vật chất sung mãn không phải là điều kiện cần và đủ cho một cuộc sống hạnh phúc của con người.

Nói như vậy không phải chúng ta có ý làm giảm giá trị của khoa học trong nền văn minh Tây phương. Trái lại, chúng ta đánh giá cao những thành tựu của nền khoa học đó và nhân loại phải biết ơn những nhà khoa học Tây phương đã góp công vĩ đại nâng cao mức sống và tầm hiểu biết của toàn thể loài người chúng ta về mọi lãnh vực. Vấn đề cốt lõi là chúng ta không thể quên cái trọng tâm của thế giới này là chính CON NGƯỜI. Chúng ta không thể sống hạnh phúc với thân xác và với thế giới giầu có về vật chất mà không cần một cái gì khác, nhất là không cần để ý tới ai. Để có được một cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn thì ngoài cuộc sống vật chất đầy đủ ra chúng ta cần có một tâm hồn ổn định hài hòa với tình thương bao la ràn trải tới mọi đồng loại.

Phải chăng lịch sử loài người đã có hoặc sẽ có một “thời đại hoàng kim”, trong đó tập thể con người được sống  trong hòa bình và yêu thương nhau ?  Nói một cách khác, muốn sống có hạnh phúc, chúng ta cần có trước hết là “tình người”. Phải chăng đó là tuyệt đỉnh của văn minh nhân loại ? Phải chăng ngọn đuốc của sự hiểu biết về cái “cùng kỳ lý” đã không được truyền tay từ đời xưa đến đời nay một cách liên tục  và nó đã bị thất lạc trong một chặng nào đó trong chiều dài của những thiên-niên-kỷ ?

Nêu lên những câu hỏi này là chúng ta đang rất quan tâm đến những giá trị tinh thần đã bị thất lạc. Có thể những giá trị tinh thần qúi báu đó đã không được các sử gia, các nhà khoa học và các chính trị gia Tây phương để ý tới. Chúng ta có thể qủa quyết một điều là nền văn minh của nhân loại đã không bùng nổ đột biến như hiện tượng “Big Bang”. Nền văn minh đó đã hình thành bằng những bước đi dò dẫm chậm chạp trên đường tiến hóa dài tới cả triệu năm. Khoa học khảo cổ đã đạt những thành tựu lớn lao trong việc khám phá quá khứ của nền văn minh nhân loại, nhưng ánh sáng của ngành khoa học này mới chỉ soi rọi tới cái giới hạn của nó là thời kỳ đồ đá (Stone Age) tức khoảng thời gian từ 25000 đến 4000 năm trước công nguyên (TCN). Người Tây phương đã tìm ra những cái nôi của nền văn minh như Summer, Babylon, Dilmun, Elam, Ai Cập,…. Những cái nôi của nền văn minh ấy đều đã xuất hiện vào cuối thời kỳ đồ đá (8000-4000 TCN) nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ tại sao tất cả những nền văn minh ấy đều đã bị tiêu diệt. Phải chăng sự qúa mê tín vào kiếp sau và lo cho kiếp sau (người Ai Cập lo xây kim tự tháp làm suy sụp kinh tế quốc gia) và chiến tranh tôn giáo đã là những nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự hủy diệt những nền văn minh ấy ?

Người Tây phương cũng không tránh khỏi những nhận định chủ quan trong sự đánh giá những nền văn minh đó. Từ khi Napoléon kéo quân đến chiếm Ai Cập vào đầu thế kỷ 18, ông ta đã ngỡ ngàng đứng ngắm nhìn những kim tự tháp. Tiếp theo đó là những khám phá thành công của ngành khảo cổ tại vùng Cận Đông với các di vật đã hùng hồn nói lên cái quá khứ đầy huy hoàng tráng lệ của Babylon và đất thánh Jerusalem.

Thế giới phương Tây dường như có ấn tượng cho rằng vùng Cận Đông là cái nôi duy nhất của văn minh nhân loại. Những phát minh đầu tiên là những phát minh chưa từng có bao giờ trước đó (The firsts of first time ever) đều được gán cho là của giống dân Sumerians, những người đầu tiên định cư tại Babylon mà người Hy Lạp gọi làMesopotamia. Mesos là “ở giữa” (Middle); Potamia là “những con sông” (Rivers). Đó là miền châu thổ được tạo nên bởi hai con sông Euphrate và Tigris, người Hoa dịch ra là Lưỡng-Hà-Châu. Hiện nay cả vùng này chỉ là một sa mạc mênh mông cách thủ đô Baghdad của Iraq khoảng 80 dặm về phía Nam.

Ngày nay, người ta đã nhận thấy những nhận định trên đây là thiên lệch và chủ quan quá đáng. Bởi lẽ nhiều nền văn minh cổ khác đã được khám phá tại Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico (văn minh Maya).

Sự thật là thế giới cổ đã xuất hiện  nhiều nền văn minh độc lập  tại nhiều vùng khác nhau, trong số đó tại sao lại không thể có một nền văn minh thuần túy Việt Nam ?

Vì một lý do nào đó chưa rõ, tất cả các nền văn minh cổ đều đã tàn lụi, nhưng điều may mắn là các nền văn minh ấy đều để lại những dấu vết trong kho tàng kinh nghiệm của loài người. Không có một nền văn minh nào là kẻ sống sót duy nhất trên hành tinh này !

Trong tác phẩm “Truy Tìm Cái Nôi của nền Văn Minh” (In Search of the Craddle of Civilization) của ba tác giả George Feverstein, Subhash Kak và Davis Frawley – Quest Book 1995, nhiều nhà khoa học thuộc ngành khảo cổ đã đưa ra một nhận định mới cho rằng ngoài Babylon ra còn có nhiều cái nôi văn minh khác đã phát sinh một cách riêng biệt tại nhiều vùng khác nhau trong thế giới cổ. Điều nhận xét đặc biệt của họ là những cái nôi của văn minh nhân loại đều nằm trong cái vòng đai chạy quanh trái đất song song với đường xích đạo. Hầu hết đều ở gần Hạ Chí Tuyến (Tropic of Cancer) song song và nằm về hướng Bắc của đường Xích Đạo. Vòng đai này chạy qua Ai Cập, Babylon,Jerusalem, Bắc Ấn và miền Bắc Việt Nam (sách dẫn chiếu, p. XIX).

Để góp phần vào việc khôi phục và phát huy nền văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải đi vào trọng tâm của vấn đề là moi tìm những sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta về cái “cùng kỳ lý” của vũ trụ và cuộc sống. Đó là quan niệm của tổ tiên chúng ta về lẽ âm dương trong vạn vật và thái độ ứng xử khôn ngoan của tổ tiên chúng ta là chấp nhận những mặt đối lập để cùng tồn tại và phát triển theo cái lẽ “tương khắc, tương sinh”. Áp dụng sự khôn ngoan của tổ tiên vào thái độ sống của chúng ta hiện nay là: hãy mở rộng con tim và khối óc để đón nhận những dị biệt của các nền văn hóa ngoại lai du nhập với một tinh thần bao dung hài hòa. Tổ tiên chúng ta không dành độc quyền chân lý:

“Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”

“Rằng trong lẽ phải có người có ta”

Biết ta có cái hay của ta, người có cái hay của người. Điều quan trọng là biết học hỏi cái hay của người để bổ túc cho cái thiếu xót của ta và biết dùng cái Đức của ta để cảm hóa cái xấu, cái dở của người.

“Có đi có lại mới toại lòng nhau”

Nhưng cuối cùng, tổ tiên chúng ta không tranh thắng với ai bằng cái lý, vì thắng bằng cái lý không thôi sẽ làm cho kẻ thua mất mặt và làm mất đi cái tình cảm thương yêu lẫn nhau. Tổ tiên chúng ta rất đau xót nếu có ai làm mất đi cái tình cảm đó.

“Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”

Chúng ta không kỳ vọng quá cao vào riêng cái kho tàng văn hóa của dân tộc để cho rằng sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên đủ để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống hôm nay. Thật sự chúng ta cần phải học hỏi Tây phương rất nhiều về phương pháp tổ chức, óc phân tích khoa học, tinh thần trọng sự chính xác và nhất là ý chí phấn đấu liên tục trong học hỏi, tìm hiểu và phát minh để không ngừng tiến bộ mọi mặt.

Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta đã được chắt lọc qua biết bao gian lao thử thách trong cuộc sống của toàn dân, nó là sợi chỉ xuyên suốt của bản sắc dân tộc qua nhiều ngàn năm lịch sử dấu tranh để đất nước ta còn tồn tại đến ngày hôm nay.

Hiển nhiên là cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên, tức là cái gốc của nền văn minh Việt Nam, đã được chứng nghiệm qua quá khứ 4000 năm lịch sử. Vậy nó phải có một giá trị nhất định. Ít nhất cái vốn văn hóa dân tộc cũng giúp chúng ta xác định được một thái độ sống dung hòa, lấy tình người làm trọng tâm. Thái độ sống đó hướng dẫn chúng ta cần phải tránh mọi chủ nghĩa  và mọi tôn giáo cực đoan, vì những thứ cực đoan này đã tàn phá thế giới và hủy diệt tình người.

Dưới ánh sáng của văn hóa dân tộc, chúng ta hãy bình tâm đánh giá lại mọi chủ nghĩa và mọi tôn giáo mà chúng ta đang theo :

Mọi tôn giáo hay mọi chủ nghĩa chỉ có thể là chính đáng nếu nó thực sự phục vụ con người. Bất cứ một thứ chủ nghĩa nào, dù nhân danh quốc gia hay xã hội, mà chà đạp hủy hoại con người đều là những tà thuyết đáng lên án. Mọi thứ tôn giáo dù nhân danh Thượng đế hay hứa hẹn một thiên đàng vĩnh cửu nhưng đã ngăn cách con người với nhau và hủy diệt lẫn nhau vì những tranh chấp thế tục thấp hèn thì đó không phải là những tôn giáo “thật”. Những tôn giáo đó thực chất chỉ là buôn thần bán thánh của những người khoác áo thầy tu để lừa bịp con người và đi ngược lại ý Thượng đế.

Phật đã dạy mọi chúng sinh đều có Phật tính. Như vậy Phật đã có sẵn ở trong lòng mỗi người. Muốn tìm Phật thì cứ việc tìm Ngài ở trong lòng mình, không cần phải tới chùa – Phật tại tâm chứ không tại chùa. Hãy tin vào chính mình và nhớ lời ông cha ta dạy rằng: bộ áo khó làm nên thầy tu. Tổ tiên chúng ta dạy chúng ta cái tinh thần đề cao cảnh giác “miệng tụng Nam Mô, bụng bồ dao găm”

Chúa Jesus còn dạy kỹ hơn: “Kẻ giàu vào nước thiêng đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Ai cũng biết giáo hội Vatican là giáo hội giàu nhất thế giới với tài sản hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Vậy cả cái giáo hội Vatican chắc chắn là khó mà chui lọt lỗ kim đó ! Ai muốn lên thiên đàng thì hãy nghe lời Chúa, chứ đừng nghe các vị thừa sai của giáo hội mà phải sa hỏa ngục đời đời. Bao nhiêu công sức bỏ ra để đọc kinh rã họng cả mấy chục năm cũng đều đổ xuống sông xuống biển. Trong Thánh Kinh, Chúa cũng dạy con người hãy tránh xa các nhà thờ, vì Chúa không ở trong đó: “Thánh Linh của Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ do bàn tay con người tạo nên” (The Holy Spirit no longer dwelth in temples made by men’s hands – Acts 17:24). Thánh Kinh xác định: “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa. Thánh Linh của Thiên Chúa ngự trong anh em” (Ye are the temple of God. The Spirit of God dwelth in you – ICor. 3:16).

Rõ ràng một điều là Phật cũng như Chúa đều dạy mọi người hãy quay về với chính nội tâm của mình. Nội tâm của mổi người mới là Chùa thật và đền thờ thật. Mọi thứ nhà thờ, thánh thất hay chùa chiền miếu mạo ta thấy bên ngoài đều là đồ giả. Đó chính là những trung tâm dẫn dắt con người xa rời các lời dạy chân chính của Phật và Chúa. Mái chùa hay mái nhà thờ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Bức tường của nhà thờ hay chùa do người ta xây dựng càng cao bao nhiêu thì càng ngăn cách con người với nhau bấy nhiêu. Các tu sĩ giảng giải dông dài chính là những người đầu tiên phản bội lại các giáo chủ của mình, trước khi phản bội đồng đạo nhẹ dạ của họ.

Trước khi các đạo du nhập vào đất nước ta, tổ tiên chúng ta đã sống hàng ngàn năm bình yên, hạnh phúc mà không cần tới một đạo nào cả. Tổ tiên chúng ta đã nhận thức rằng: chúng ta đã có sẵn một đạo cao hơn tất cả các tôn giáo, đó là “Đạo Làm Người”.

Tổ tiên chúng ta là con Hồng cháu Lạc, chứ không phải là con cháu của Adong-Evà, nên không hề mắc cái “tội tổ tông”. Do đó chúng ta chẳng cần  một thứ chúa Cứu Thế nào cứu chuộc. Vào năm 40 sau Công-nguyên, hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị đã cứu nước ta thoát ách đô hộ ngoại bang và dành lại độc lập cho tổ quốc. Hai Bà, sấp sỉ bằng tuổi Jesus,  và hai Bà Trưng đã thực sự là Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Jesus lúc đó còn bận giảng đạo ở Jerusalem, chẳng biết cái xứ Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên địa cầu làm sao tới cứu? Jesus bị quân La Mã đánh đập tơi bời rồi bị đóng đinh trần truồng trên thập giá về cái tội dám chống lại đế quốc. Jesus là nạn nhân của bọn đế quốc La Mã. Đối đầu với cả một đế quốc hung bạo, Jesus đã không thể tự cứu mình, nên đã phải chết dưới tay chúng.

Một người đã không thể cứu nổi chính mình thì làm sao có khả năng làm Chúa Cứu Thế cả thế gian, trong đó có cả những người chủ mưu giết mình ? Học giả Do Thái Leonard Yassen đã viết rất chí lý trong tác phẩm “The Jesus Connection to Triumph over Anti-Semistism” (Crossroad 1995) : “Jesus không hề biết gì về Ki Tô Giáo (Christianity), cũng không chết với danh nghĩa là người dã sáng lập ra đạo này, mà chết vì danh nghĩa một công dân Do Thái”. Ông gọi Ki Tô Giáo là một cái boomerang vĩ đại do đế quốc La Mã tạo ra để khiến cho nó quay lại tiêu diệt tổ quốc của công dân Jesus. Do Thái quả là một một dân tộc được chọn (a chosen people), nhưng người chọn không phải là Thiên Chúa mà là đế quốc La Mã. và họ đã chọn dân tộc Do Thái với mục tiêu rõ rệt là để tiêu diệt dân tộc này.

Kẻ viết bài này đã viết trong tinh thần thanh thản, không một chút ác cảm riêng tư nào đối với Công Giáo, vì đạo này là đạo của tổ tiên, gia tộc nội ngoại từ thế kỷ 16. Mọi người thân thiết của đời tôi, tất cả đều là những tín đồ Công Giáo nhiệt thành đến độ sẵn sàng “tử vì đạo” bất cứ lúc nào. Tôi đã sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc ấy của Công Giáo miền quê Nam-Định. Nhưng cũng tại nơi miền quê đó, cái bản sắc đặc biệt của dân tộc tính Việt Nam vẫn không phai nhòa trong đáy sâu cùng tận linh hồn của những người nông dân chất phác hiền hòa. Cái ánh sáng của văn hóa dân tộc còn sót lại nơi tôi đã cởi trói cho tôi và giải thoát tôi khỏi “cái tròng Công Giáo” (The Catholic Loop – theo cách nói của bà Joanne H. Meehl, tác giả cuốn Người Công Giáo Tỉnh Ngộ – The Recovering Catholic – Prometheus Books, NY 1995).

Đã sống nhiều năm ở hải ngoại, tôi đã ăn nhiều “french fries, baked potatos, smashed potatos”, nhưng tôi vẫn nhớ như in cái hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai mẹ tôi lùi trong bếp tro rơm rạ. Đã hơn nửa thế kỷ qua rồi mà sao cái hương vị ngọt ngào ấy  vẫn như còn tồn đọng trong đáy sâu tâm hồn tôi. Đặc tính văn hóa dân tộc Việt Namcó lẽ không khác mấy với hình ảnh củ khoai đơn sơ mộc mạc lùi tro trong căn bếp mái tranh vách đất năm xưa. Bề ngoài củ khoai nướng trông đen thui xấu xí, nhưng tất cả hương vị ngọt ngào nguyên chất của nó đã không mất đi đâu chút nào mà đều qui tụ vào trong. Văn hóa dân tộc ta không có cái vẻ kiêu sa lộng lẫy như văn hóa Tây Phương vì nó chìm sâu trong lòng người với tất cả những gì nguyên chất của giá trị CON NGƯỜI. Xét về thực chất giá trị, chưa hẳn nền văn hóa Tây phương đã cao hơn văn hóa ViệtNam. Cũng như hương vị thơm ngon của french fries hay smashed potatos chưa chắc đã bì kịp với hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai lùi bếp tro.

Cái hương vị ngọt lịm nóng hổi của củ khoai nướng thô sơ mộc mạc cũng như lòng thương con chân thật của bà mẹ quê đã thấm sâu vào từng giọt máu, từng đốt xương và từng hơi thở của linh hồn. Tôi vẫn ghi lòng tạc dạ những lời mẹ dặn: “Con hãy sống theo lời Chúa. Thánh Kinh là kho tàng của sự khôn ngoan để cho con học hỏi suốt đời”. Quả thật, chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều khôn ngoan tốt lành nơi Thánh Kinh, nhưng không phải mọi điều trong đó đều khôn ngoan và tốt lành cả. Trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước không thiếu gì những điều nhảm nhí, ác độc và vô luân. Vấn đề quan trọng là khi đọc Thánh Kinh, cũng như khi đọc mọi cuốn sách khác, ta cần phải biết phân biệt đâu là điều đúng, đâu là điều sai. Thánh Kinh chẳng phải là cuốn sách thiêng liêng ghi chép những lời của Chúa, vì Chúa là đấng thiêng liêng chẳng nói bao giờ. Tất cả chỉ là những lời của người phàm tục được gán cho Chúa qua cái mà người Công giáo thường gọi là sự “mặc khải”. Cả ba tôn giáo độc thần (Do Thái, Ki Tô, Hồi) đều vin vào sự mặc khải này để buộc tín đồ phải tin Thánh Kinh của mình là chân lý tuyệt đối. Đó là nguyên nhân chính yếu dẫn đến thái độ tự tôn mù quáng và độc quyền chân lý. Cả ba tôn giáo thờ cùng một ông chúa đều muốn dành độc quyền chân lý, nên đã gây thánh chiến với nhau tạo nên cảnh núi xương sông máu trong hơn chục thế kỷ qua. Họ đã biến Thánh Kinh của Tình Yêu (Gospel of Love) thành Thánh Kinh của lòng hận thù (Gospel of Hatred). Vậy Thánh Kinh đã rõ ràng không phải là lời của Chúa. Qủy sứ cũng có thể viện dẫn Thánh Kinh để giải thích cho những việc làm ác độc của chúng. Thánh Kinh chỉ là tấm màn che mỹ miều để những phần tử lợi dụng tôn giáo núp đằng sau tha hồ tác yêu tác quái mà vẫn được các nạn nhân của họ kính trọng như thường!

Mỗi khi suy nghĩ về đạo Công giáo là đạo lâu đời của ông bà tổ tiên, tôi thường áy náy trong lòng và tự hỏi mình liệu có phạm tội bất hiếu hay không. Trong những hoàn cảnh ấy tôi thường nghĩ đến mẹ tôi và tâm sự với người trong tư tưởng :

Mẹ ơi !  Con cám ơn mẹ đã cho con một trí óc để suy xét, một trái tim để yêu thương và một lương tâm để đón nhận những lời nói chân thật. Con không tin những lời người ta nói trong sách, dù đó là sách Kinh Thánh, nhưng chỉ tin vào những lời nói của lương tâm trong tâm hồn chân thật của con mà thôi.

Con kính trọng mẹ là một người phụ nữ Công giáo chân thật, hết lòng mến Chúa, yêu người. Đồng thời mẹ cũng là một người nông dân Việt Nam chân thật, vì mẹ đã sống thật với lòng mình, vốn rất đơn sơ, mộc mạc, hiền hòa. Mẹ không ưa lý luận cao xa, mà chỉ biết yêu thương vô điều kiện. Mẹ đã tìm thấy thiên đàng của Chúa trong tâm hồn bình an của mẹ ngay lúc còn sống trên cõi đời này. Mỗi lần giỗ mẹ, con không cầu xin Chúa cho mẹ được rỗi linh hồn, vì mẹ đã rỗi linh hồn từ khi còn sống. Con không theo một tôn giáo nào, nhưng con tôn kính con người thật của Jesus, cũng như tôn kính con người thật của Thích Ca Mâu Ni. Con tôn kính các Ngài, nhưng chẳng bao giờ muốn mình trở thành công dân Do Thái hay Ấn Độ, và càng không muốn trở thành công dân của Vatican. Tổ Quốc muôn đời của con vẫn là Việt Nam. Cả Jesus lẫn Thích Ca đều là những chân sư của con, vì các Ngài đều là những “ngón tay chỉ trăng” hướng dẫn con trên đường giác ngộ. Các Ngài đều là những trí tuệ bậc cao để cho con từ thấp ngó lên ngưỡng mộ, chứ không phải để tôn thờ. Các Ngài đều đã được sinh ra bởi người, chẳng phải đã sinh ra từ đất bùn cũng chẳng phải đã được sinh ra bởi người mẹ “đồng trinh”. Các Ngài đều đã không thoát được cái qui luật ”sinh, lão, bệnh, tử” và cả Chúa lẫn Phật đều đã trở về với cát bụi vô tri vô giác từ lâu. Như vậy các Ngài chẳng có chút quyền năng nào để ban ơn hay trừng phạt con người. Do đó, việc cầu xin Chúa hay cầu khấn Phật để xin ơn này ơn kia đều là những hành động mê tín nhảm nhí, hoàn toàn vô ích.

Cả Chúa trong nhà thờ lẫn Phật trên chùa đều là những hình tượng do người ta dựng lên. Chẳng có Chúa, Phật nào thưong con thật tình bằng mẹ thương con.

Dù cho thời gian phôi pha và dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hương vị của những củ khoai nướng lùi bếp tro vẫn cứ mãi vấn vương trong lòng con, vì đó chính là biều hiệu tình yêu thương bất diệt của mẹ trong linh hồn con.

Mẹ ơi, linh hồn Việt Nam chân thật của mẹ vẫn sống mãi trong con !

Charlie Nguyễn http://home.earthlink.net/~charlienguyen/cu_khoai_lui_bep_tro.htm

trọng Đông 1999

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 19, 2011 in Phong tục, Văn hóa

 

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”

1. Hà Nội, ba sáu phố phường
Hàng mật, hàng đường, hàng muối trắng tinh
Từ ngày ta phải lòng mình
Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

2. Hàm chó, vó ngựa

3. Hát bội làm tội người ta
Ðàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con

4. Hát hay không bằng hay hát

5. Hèn lâu mới gặp thầy Hai
Thuận tay điếu hút, điếu vấn, điếu vắt lỗ tai

6. Hèn mà làm bạn với sang
Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ

7. Hổ phụ sanh hổ tử, lân mẫu xuất lân nhi
8. Hổ xuống bình nguyên bị chó lờn

9. Hoa thơm, ai chẳng muốn đeo
Người khôn, ai nỡ cứ theo nặng lời

10. Hoa thơm ai chẳng nâng niu
Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề

11. Hoành hoạch, hoành hoạch
Giặt áo chồng tao
Giặt áo phải giặt cho sạch
Phơi áo thì phơi trên sào
Ðừng phơi hàng rào rách áo chồng tao

12. Họa hổ họa bì, nan họa cốt
Tri nhân tri diện, bất tri tâm

13. Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai
14. Học ăn, học nói, học gói, học mở
15. Học đi đôi với hành

16. Học hành thi cử mà chi
Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì

17. Học thầy không tầy học bạn

18. Học trò đi mò cơm nguội
Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời

19. Học trò thò lò mũi xanh
Cầm miếng bánh đúc, chạy quanh nhà thầy

20. Hỏi vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha

21. Hôm nay có đám giỗ gần
Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm

22. Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất. anh thương
Anh đi mua gỗ đóng giường tám thang
Bốn góc thì anh bịt vàng
Bốn chân bịt bạc, tám thang chạm rồng

23. Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em bắt được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, Mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy sang khâu cho dùm
Khâu rồi anh sẽ trả công
Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Ðôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan hai tiền cưới, lại đèo buồng cau

24. Hòn đất mà biết nói năng
Thì thầy địa lý hàm răng không còn

25. Hỗn như gấu

26. Hơn nhau manh aó, tấm quần
Cởi ra mình trần, ai cũng như ai

27. Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

28. Hỡi người kẻ đóng then gài
Có hay, có biết kẻ ngoài trùng dương

29. Huệ nhớ thương Lan, héo vàng xác Huệ
Anh quá thương nàng, trối kệ thị phi

30. Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

31. Hùm dữ chẳng ăn thịt con

Há miệng chờ ho.
-
Há miệng mắc quai.
-
Hà tiện mà ăn cháo hoa,
Đồng đường đồng đậu cũng ra ba đồng.
-
Hà tiện vắt cổ chày ra nước.
-
Hàng thịt nguýt hàng cá.
-
Hai tay bưng quả bánh bò,
Ggiấu cha giấu mẹ cho trò đi thi.
-
Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng quả ngọt phần trai,
Nằm đêm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.
-
Hai tay vun lỗ miệng.
-
Ham một đĩa bỏ một mâm.
-
Ham ăn mắc bẫy.
-
Hay đi đêm có ngày gặp ma.
-
Hay đi chợ để nợ cho con.
-
Hay chữ chẳng bằng dữ đòn.
-
Hay làm mà chẳng hay lo,
Làm chi cho lắm, làm cho nhọc mình.
-
Hay ở, dở cút đi.
-
Hay quần hay áo hay lời,
Mà chẳng hay người là của bỏ đi.
-
Hay thì khen, hèn thì chê.
-
Hay ăn thì đói, hay nói thì sai.
-
Hay ăn thì lăn vào bếp, ai khen cái nết hay ăn.
-
Hãy cho bền chí câu cua,
Dù ai câu chạch câu rùa mặc ai.
-
Hạt tiêu nó bé nó cay,
Đồng tiền nó bé, nó hay cửa quyền.
-
Hẩm duyên lấy phải chồng đần,
Có trăm mẫu ruộng bán dần mà ăn.
-
Hết khôn, dồn dại.
-
Hết nạc vạc đến xương.
-
Hết rên quên thầy.
-
Hết xôi rồi việc.
-
Hễ chung thì chạ.
-
Hèn mà làm bạn với sang,
Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.
-
Hiền như bụt.
-
Hiểm nghèo như gươm treo sợi tóc.
-
Ho ra bạc khạc ra tiền.
-
Hoài cành mai cho cú đậu.
-
Hoài hơi mà đấm bị bông,
Đấm được bên nọ nó phồng bên kia.
-
Hoài lời nói kẻ vô tri,
Một trăm gánh chì đúc chẳng nên chuông.
-
Hoài thóc ta cho gà người bới.
-
Hoài tiền mua pháo đốt chơi,
Pháo nổ ra xác, tiền ôi là tiền.
-
Hoa mất nhị, lấy gì làm thơm.
-
Hoa sen mọc bãi cát đầm,
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen
-
Hoa thơm đánh cả cụm.
-
Hoa thơm ai chẳng muốn đeo,
Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.
-
Hoa thơm ai chẳng nâng niu,
Người khôn ai chẳng kính yêu mọi đàng.
-
Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,
Người khôn ai nỡ nặng lời với ai.
-
Hoa thơm bán một đồng mười,
Hoa tàn nhị rữa bán đôi lạng vàng.
-
Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm bay.
-
Hoa thơm mất nhụy (nhị) đi rồi,
Còn thơm đâu nữa mà người ước mơ
Dù rằng trang điểm cũng người vô duyên.
-
Hoa thơm mất nhụy đi rồi,
Dù rằng trang điểm cũng người vô duyên.
-
Hoa thơm thơm lấy cả rừng,
Ong chưa dám đậu, bướm đừng xôn xao.
-
Hoa thơm, thơm lạ thơm lùng,
Thơm cây thơm rễ, người trồng cũng thơm.
-
Hòn đất mà biết nói năng,
Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.
-
Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.
-
Học chả hay, cày chả biết.
-
Học chẳng biết chữ cu chữ cò,
Nói những chữ như rồng như rắn.
-
Học hành thì ích vào thân,
Chức cao quyền trọng dần dần theo sau.
-
Học như quốc kêu mùa hè.
-
Học tài thi phận.
-
Học thầy không tầy học bạn.
-
Học thì dốt, vợ tốt thì muốn.
-
Học trò đèn sách hôm mai,
Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào,
Làm nên quan thấp quan cao,
Làm nên lọng tía võng đào ngênh ngang.
-
Học trò học trò học trò,
Chưa lo ba chữ đã lo vét nồi.
-
Học ăn học nói, học gói học mở.
-
Hôi như cú.
-
Hỏi sư mượn lược.
-
Hỏi vợ thì cưới liền tay,
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.
-
Hôm nay mười bốn mai rằm,
Ai muốn ăn oản nên nằm với sư.
-
Hồn rằng hồn thác ban ngày,
Thương con nhớ vợ hồn này thác đêm.
-
Hỗn như gấu.
-
Hồng nhan ai kém ai đâu,
Kẻ xe chỉ thắm, người xâu hạt vàng.
-
Hồng nhan bạc phận.
-
Hổ chết để da, người ta chết để tiếng.
-
Hơi đâu mà giận người dưng,
Bắt đâu được mấy chim rừng nó bay.
-
Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra bóc trần ai cũng như ai.
-
Hỡi cô gánh nước quang mây,
Cho tôi một gáo tưới cây ngô đồng,
Cây ngô đồng cành cao cành thấp,
Ngọn ngô đồng lá dọc lá ngang.
Từ ngày anh gặp mặt nàng,
Lòng càng ngao ngán dạ càng ngẩn ngơ.
-
Hỡi cô má đỏ hồng hồng,
Cô bao nhiêu tuổi có chồng hay chưa?
-
Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.
-
Hỡi cô thắt giải lưng xanh,
Ngày ngày thấp thoáng trong mành trông ai.
-
Hỡi cô yếm thắm bùa đeo,
Chồng cô cô bỏ cô theo chồng người.
-
Huynh đệ bất hòa là nhà hết phúc.
-
Hùm dữ chẳng ăn thịt con.
-
Hương năng thắp năng khói, Lời năng nói, năng lỗi (lời nói).
-
Hứng tay dưới, đỡ tay trên.
-
Hữu sự thì vái tứ phương,
Vô sự đồng hương không mất.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 19, 2011 in ''H'', Ca Dao

 

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”G”

1. Gà đẻ, cục tác

2. Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua
Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy

3. Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

4. Gà què ăn quẩn cối xay
Ăn đi, ăn lại cối tày một bên

5. Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng
Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

6. Gái có chồng như gông đeo cổ
Gái không chồng như phản gỗ long đanh

7. Gái có chồng như gông đeo cổ
Trai có vợ như rợ buộc chân

8. Gái không chồng như thuyền không lái
Trai không vợ như ngựa không cương

9. Gái lấy trai, đúng là gái dại
Trai lấy rồi, trai lại bán rao
Gái đâu có thứ hỗn hào
Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

10. Gái một con, trông mòn con mắt

11. Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa
Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

12. Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng
Trai bạc tình một cẳng về quê

13. Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi
Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi
Saigon vui lắm em ơi
Lấy chồng về đó, một đời sướng thân

14. Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

15. Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ
Mặt chị có thẹo, ảnh chừa đôi bông

16. Gẫm xem sự thế nực cười
Một con cá lội, mấy người buông câu

17. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

18. Gập ghềnh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

19. Ghe anh đỏ mũi xanh lườn
Ở trên Gia Ðịnh xuống vườn thăm em

20. Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

21. Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ
Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn
Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời
Mật đường dù chẳng đi đôi
Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

22. Ghe lên ghe xuống dầm dề
Sao anh không gởi thơ về thăm em?

23. Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ
Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

24. Ghét của nào trời trao của đó!
25. Già kén, kẹn hom

26. Già thì đặc bí bì bì
Con gái đương thì rỗng toác toàng toang
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Ðàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu
(Ðố là quả gì? – quả cau dầy)

27. Giàu ba mươi tuổi chớ mừng
Khó ba mươi tuổi em đừng vội lo

28. Giàu cha, giàu mẹ thì ham
Giàu cô giàu bác, ai làm nấy ăn

29. Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

30. Giàu đổi bạn, sang đổi vợ
31. Giàu từ trong trứng giàu ra
32. Giàu út ăn, khó út chịu
33. Giàu vì bạn, sang vì vơ.

34. Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

35. Giặc Tây đánh tới Cần Giờ
Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

36. Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh
37. Giận cá, chém thớt

38. Giận chồng xách gói ra đi
Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

39. Giấy hồng đơn bán mấy
Cho anh mua lấy một tờ
Viết thơ quốc ngữ
Dán trên trái bưởi
Thả xuống giang hà
Bớ cô gánh nước bên bờ
Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

40. Gieo gió gặt bão

41. Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm, tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông

42. Gió đưa bụi trúc ngã quỳ
Ba năm trực tiết còn gì là xuân

43. Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại, chịu lời đắng cay

44. Gió đưa gió đẩy bông trang
Bông búp về nàng, bông nở về anh

45. Gió đưa gió đẩy
Về rẫy ăn cua, về đồng ăn cá

46. Gió đưa liễu yếu, mai quằn
Liễu yếu mặc liễu, mai quằn mặc mai

47. Gió đưa mụ đội lên dinh
Ông đội buồn tình, xách nón chạy theo
Ông đội đòi cưới ba heo
Mụ đội đòi cưới con mèo cụt đuôi

48. Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

49. Gió đưa tàu chuối la đà
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm

50. Gió đưa trăng thì trăng đưa gió
Con trăng lặn rồi gió biết đưa ai?

51. Gió mùa Thu, mẹ đưa con ngủ
Năm canh dài thức đủ năm canh

52. Gió Nam non thổi lòn hang dế
Con bạn xa rồi để nhớ, để thương

53. Gió Nam non thổi lòn hang dế
Em đi lấy chồng nâng túi sửa khăn

54. Gió thổi một ngày năm bảy trận giông
Anh đi nằm bãi sao không thấy về

55. Gió vàng hiu hắt đêm thanh
Ðường xa, dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thề
Sao anh để gánh nặng nề riêng em

56. Giọt máu đào hơn ao nước lã

57. Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà
Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà
Saigon, chợ Mỹ ai mà không hay

58. Gối rơm theo phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao

59. Gỗ cẩm lai cậy cứng
Gỗ huỳnh đàn cậy thơm
Rác nọ chê rơm
Như cá cơm ghét cá rói.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 19, 2011 in ''G'', Ca Dao

 

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”E”

1. Em có chồng sao em không nói?
Ðể anh theo anh chọc em hoài
Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

2. Em đeo chiếc kim hườn
Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến
Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

3. Em liều một cái bánh bò
Con nào chót chét, cặp giò em chặt hai

4. Em liều một chén dầu chanh
Con nào hỗn dữ, vuốt nanh em bẻ liền

5. Em liều một trái sầu riêng
Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

6. Em là con gái đồng trinh
Em đi qua đình, ông Nghè cho lính ra ve
Trăm lạy ông Nghè, tôi đã có con
Có con thì mặc có con
Thắt lưng cho ròn đặng lấy chồng quan

7. Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi
Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

8. Em như hoa gạo trên cây
Anh như một đám cỏ may bên đường
Lạy trời cho cả gió sương
Hoa gạo rụng xuống, lại luồn cỏ may

9. Em như một cái sập vàng
Anh như manh chiếu bên đàng bỏ quên
Lạy trời cho gió nổi lên
Cho manh chiếu rách lên trên sập vàng

10. Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác
Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

11. Em ơi, anh bảo em này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

12. Em ơi, em có thương anh
Em ra canh lính cho anh leo tường!

13. Em ơi, em ở lại nhà
Vườn dâu em hái mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em em ở lại nhà

14. Em thấy anh em cũng muốn chào
Sợ anh chồng cũ, nó đứng bờ rào nó trông

15. Em thấy anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị ả dắt dao trong mình
Dao trong mình, gươm anh cặp nách
Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

16. Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu
Lược thưa biếng chải, gương Tàu biếng soi
Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi
Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

17. Em về hỏi mẹ cùng cha
Có cho em lấy chồng xa hay đừng

18. Én bay thấp, mưa ngập bờ ao
Én bay cao, mưa rào lại tạnh.

19. “Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
…Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân.”

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 19, 2011 in ''E'', Ca Dao

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.