RSS

Author Archives: cadaotucnguvietnam

“ÔNG TRỜI” KHÔNG QUEN BIẾT “THƯỢNG ĐẾ”

Trần Chung Ngọc

  LTS: Là một trong những tác giả người Việt Nam viết táo bạo về những điều cấm kỵ của các tín đồ đạo Chúa (như đem Chúa và các vị thánh mà giáo hội Công Giáo đã tôn thờ ra làm đối tượng nghiên cứu, như phân tích thánh kinh theo như thánh kinh nói, vân vân…), Giáo sư Trần Chung Ngọc thường phải chịu đựng rất nhiều phản ứng theo nhiều cách thể hiện khác nhau, phẩm chất khác nhau và biên độ khác nhau từ các giai tầng trong xã hội, nhất là từ cộng đồng Thiên Chúa Giáo người Việt. Ông xem như không biết đến những việc đó ngoại trừ một vài trường hợp.

Bằng vốn liếng của một nhà giảng và dạy khoa học, khi ông nghiền ngẫm quyển «thánh kinh» của đạo Chúa, phản ảnh nó trên những cách ứng xử của những tín đồ tin Chúa, nhiều lúc ông quá thất vọng và chỉ còn cách diễn tả đối tượng một cách nôm na cái tình trạng «trống vắng» chứng cớ, vắng mặt lý luận, và thiếu thốn thông tin. «Ngu si» (ignorance) là một trong những từ mà ông buộc miệng trong những trường hợp như thế.

Mới đây, có câu hỏi của Francis Dương đã được gửi đến nhiều diễn đàn trong đó có địa chỉ tòa soạn Sách Hiếm. Tòa soạn chuyển thư của Francis Dương cho ông Trần Chung Ngọc để thông tin mà thôi, không nghĩ ông để ý, không ngờ cụ Trần Chung Ngọc lại mất công bỏ chút thì giờ để trả lời.

Người Á châu chúng tôi có thể rất thoải mái nói bừa: «Ông trời là cái quái gì?» Người ta cứ «kêu trời như bọng» mỗi lần tức giận, cầu trời chứng giám cho tình bằng hữu, hay cám ơn trời khi làm ăn khấm khá, hoặc mắng «trời không có mắt», «con tạo trớ trêu» mà chẳng hề quan tâm ông trời da trắng hay da nâu như thế nào cả. Vui thì «bái thiên địa», buồn thì «ông trời ăn ở bất công». Cũng chưa từng có người nào phải «bảo vệ» ông Trời, hay phải đánh nhau, chửi nhau chỉ vì thấy người khác không «nể» ông Trời cả. Và chúng ta có thể kêu trời bất cứ khi nào thích, không như bên đạo Chúa “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ” vì sẽ phạm “tội chết” (Leviticus 24:16)

Lạ thật, nếu ông Chúa Ba ngôi của các ngài cũng giống như ông trời chịu chơi của người Á châu chúng tôi, thì tại sao người Việt đạo Chúa lại cứ khẩn trương và kèn cựa về sự hiện hữu hay không hiện hữu của ông trời chết tiệt đó chứ? Vậy chắc chắn các tín đồ Thiên Chúa Giáo người Việt còn mặc cảm lo sợ ông Thượng Đế còn thua kém ông Trời của chúng tôi, ít nhất là về đức độ!

Trước đây đã có vài bài viết về ông trời của người Á đông khác với ông Thượng Đế của đạo Chúa như:

- Quan niệm “Ông Trời” của người Việt của cụ Charlie Nguyễn,

- Nhân Chuyện Khám Phá Có Jehovah Trong Ca Dao Việt của Thiên Lôi

– Nhân đọc “Ông Trời trong thi ca Việt-Nam” (Sơn Dã Bần Phu)

Riêng cụ Trần Chung Ngọc sẽ có câu chuyện để gửi tặng các bạn đọc một vài phút giải trí, chắc chắn sẽ đem lại một ngày vui.

*    *

*

Tôi vừa nhận được từ Tòa Soạn Sách Hiếm bài “Ôn Cố Tri Tân” của Francis Dương trong đó có đưa ra một thách đố cho tôi và Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang như sau: “NHỮNG NGƯỜI NHƯ CỤ TRẦN CHUNG NGỌC, NGUYỄN MẠNH QUANG, NHÓM GIAO ĐIỂM ONLINE….CÒN DÁM TẶNG CÁC NHÀ BÁC HỌC KHOA HỌC GIA CÁC THỜI  ĐẠI CÓ TÊN SAU ĐÂY LÀ NGU NGỐC HỦ LẬU KHÔNG ?  VÌ HỌ ĐỀU TIN CÓ ÔNG TRỜI HAY ĐẤNG  CHÍ  TÔN VÔ  HÌNH  QUẢN  CAI  VŨ  TRỤ”, 

 

Nay tôi có vài lời để khai sáng cho cháu Francis Dương vì chính câu hỏi trên có thể xếp vào loại ngu si rồi..  Đọc bài “Ôn Cố Tri Tân” tôi cảm thấy tội nghiệp cho cháu Francis Dương vì cháu viết mà không hiểu mình viết cái gì.  Rõ ràng cháu là một tín đồ Công giáo, dùng tài liệu của Giáo hội, trong đó có nhiều phần bịa đặt sai sự thực, không nêu rõ xuất xứ, nên phần lớn là vô giá trị.  Cháu chỉ nhắc lại như con vẹt những gì  Giáo hội tuyên truyền mà không nhận ra những sai trái trong đó. Mục đích của bài “Ôn Cố Tri Tân” của cháu là để “chứng minh” rằng có nhiều khoa học gia nổi tiếng và danh nhân, vĩ nhân,  tin có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” cho nên, tất nhiên, “Đấng Chí Tôn” này phải hiện hữu.  Đây vốn là mánh mưu của Công giáo, luôn luôn vơ vào mình những gì có thể dùng để đánh bóng giáo lý của Giáo hội, bất kể phải ngụy tạo, hoặc che dấu sự thật trong những điều Giáo hội đưa ra.  Điều này tôi sẽ chứng minh trong một đoạn sau.

Một điều cần phải làm sáng tỏ, đó là trong danh sách Francis Dương nêu trong bài, không có một người nào tin ở “ông Trời” vì một lẽ rất đơn giản là quan niệm về Ông Trời rất xa lạ đối với các xã hội Tây phương và tất nhiên rất xa lạ đối với họ.  Ngoài ra, điều mà Francis Dương không biết, là cái tin về một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia hay danh nhân hay vĩ nhân mà Francis Dương nêu trong bài, ngày nay còn lại bao nhiêu giá trị?

Để mở đầu, câu trả lời hay nhất cho Francis Dương là của Richard Lederer, nhà ngữ học Mỹ:

Có một thời mà mọi người [ở Âu Châu] đều tin vào Thiên Chúa, và giáo hội [Công giáo] thống trị.  Thời đại đó được gọi là Thời Đại Tăm Tối.  [There once was a time when all people believe in God and the Church ruled.  This time was called the Dark Ages.]

Thời đại này cũng còn được biết là “Thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức” [The ages of barbarous and intellectual darkness]

E rằng cháu Francis Dương không nắm được ý trong câu trên, tôi xin khai sáng thêm một chút.

Trước hết, tôi cũng như Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, và trong nhóm Giao Điểm chưa có ai lên tiếng “tặng” các khoa học gia có tên tuổi là ngu ngốc, hủ lậu, chỉ vì họ tin có “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” alias “Gót” [God] của Ki Tô Giáo cả.  Họ có những bộ óc sáng suốt, có nhiều sáng kiến, và có nhiều công trình khoa học để đời cho nhân loại, nhưng về lãnh vực tín ngưỡng tôn giáo thì họ vẫn rất có thể bị liệt vào loại ngu si vô trí, nghĩa là không thể nhìn tôn giáo của họ như thực nó là như vậy (to see it as it really is: như thực tri kiến).  Lý do, tôn giáo không phải là lãnh vực nghiên cứu của họ cho nên họ không đủ thông tin để phán đoán về bản chất và thực chất của tôn giáo.  Như vậy mọi người chúng ta đều có thể nói là “ngu si vô trí” ở một phương diện hay lãnh vực nào đó.  Nhưng thực ra chẳng có ai biết là họ tin như thế nào.  Trái lại, có nhiều bằng chứng chứng tỏ họ chẳng mấy tin vì những công trình khoa học của họ đã dứt khoát bác bỏ Thượng đế của Ki Tô Giáo như được viết trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo.  Tôi không tin rằng những bộ óc sáng suốt của họ lại có thể tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ”,  mà khuôn mặt của Đấng Chí Tôn này thường thấy rõ trong các cuộc Thánh Chiến, các Tòa Hình Án xử dị giáo, hay những vụ thiêu sống phù thủy.  Ngày nay chúng ta cũng thấy rõ khuôn mặt của Đấng Chí Tôn trong Tsunami ở Thái Lan, bão Katrina ở New Orleans, và gần đây, trận động đất ở Haiti,  khoan kể đến những em bé sơ sinh khuyết tật nằm đầy trong các nhà thương, bệnh AIDS tàn phá ở Phi Châu v…v…, một khuôn mặt mà không có mấy người có đầu óc còn có thể tin vào đó.

Nếu có một CEO nào quản lý một công ty mà để xảy ra những tệ hại trong công ty, thì CEO đó sẽ bị cho về vườn làm 7 nghề.  Nếu có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” nào mà để xảy ra những chiến tranh, thiên tai bệnh tật cho nhân loại thì Đấng đó phải cho nghỉ vĩnh viễn không lương, nghĩa là tín đồ tin thờ Đấng đó không cần phải tiếp tục đóng tiền cho nhà thờ để cho mấy tên buôn thần bán thánh tiếp tục nuôi dưỡng sự mê tín, hay làm bậy, thí dụ như trên 5000 linh mục, hay “Chúa thứ hai”,  can tội loạn dâm và ấu dâm, và Giáo hội đã dùng tiền của tín đồ, lên tới hơn 2 tỷ đô-la, để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Chúa thứ hai”.

Francis Dương có hiểu được điều này không?

Bây giờ, tôi xin đi vào phần trả lời sự thách đố của Francis Dương.  Vấn đề là, sinh ra ở Âu Châu, cái nôi của Công giáo và từ thế kỷ 17, một phần Tin Lành, tất nhiên hầu hết mọi người đều có đạo, cha truyền con nối theo truyền thống gia đình và xã hội.  Nhưng có đạo là một chuyện mà tin là có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” , alias Thượng đế của Ki Tô Giáo, lại là chuyện khác. Có một thời, không tin cũng phải làm bộ tin, vì không tin có thể mất mạng như chơi.  Lịch sử Âu Châu dưới quyền thống trị của Công giáo đã chứng tỏ như vậy.  Nhưng niềm tin này đã được khảo sát, phán xét,  và đánh giá cẩn thận qua các thời đại, và ngày nay chúng ta thấy xuất hiện những tác phẩm như “The God Delusion” của Richard Dawkins, “God Is Not Great” của Christopher Hitchens, “The Dark Side of God” của Douglas Lockhart, “The Impossibility of God”  Edited by Michael Martin and Ricki Monnier,  “Critiques of God” Edited by Peter A. Angeles, “God’s Defenders:  What They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, chỉ kể vài cuốn điển hình.  Cũng như khi xưa, con người cho rằng sấm sét là những cơn thịnh nộ của Gót, rất sợ Gót và quỳ xuống van vái Gót, nhưng ngày nay sấm sét chỉ có thể làm cho chó mèo cúp tai chạy, chứ còn con người như cụ Trần thì thản nhiên ngồi trước bàn máy điện toán viết bài chống Gót và Ki Tô Giáo.  Đây là sự tiến bộ trí thức của nhân loại.

Chúng ta hãy đọc chơi một đoạn trong cuốn “God’s Defenders:  What They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, trang 9:

 http://giaodiemonline.com/2010/01/images/ongtroi01.jpg

Hoặc là chỉ có một “gót”, hay nhiều “gót”, hay chẳng có “gót” nào.  Hoặc là có cái gọi là linh hồn của con người hoặc là không có, và, nếu có, linh hồn đó có thể hoặc không có thể sống sót sau khi thân thể đã chết.  Hoặc là Giê-su Ki Tô, nếu ông ta có thực, là con hoặc không phải con của Gót (của Ki Tô Giáo) .  Hoặc Mohammed, nếu ông ta có thực, là tiên tri hoặc không phải là tiên tri của Gót.

 Rằng những giáo lý cốt yếu của nhiều tôn giáo chính trên thế giới – đặc biệt là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo – là vấn đề hoặc đúng hoặc sai tự nó là một sự kiện mà về nó không có một số lượng ngụy biện nào hay sự bào chữa đặc biệt nào có thể đi tới.  Bất hạnh thay cho những tôn giáo này, những bằng chứng  tích lũy trong ít nhất là nửa thiên niên kỷ qua (500 năm) đã thừa nhận là những giáo lý này sai. [1]

Judith Hayes cũng đặt câu hỏi: “Chúng ta tin ở Gót, nhưng mà là Gót nào?” [In God we trust, but which one?]  Francis Dương có thể trả lời câu hỏi này không?

  

Có một điều mà Francis Dương cần phải hiểu:  đó là tín ngưỡng tôn giáo và khoa học là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, với hai cách nhìn thế giới khác nhau.  Tôn giáo, điển hình là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, hay Hồi Giáo, không dựa trên bất cứ một bằng chứng nào ngoài những cuốn sách hiện hữu trên thế giới mà họ gọi là thánh thư, nhưng mỗi cuốn thánh thư đều có nhiều điểm khác nhau, tuy chúng có một điểm chung, đó là mọi hiện tượng trên thế giới đều là tác phẩm của Gót, và cho rằng Gót là chủ tể của nhân loại, quản cai vũ trụ, nghĩa là trách nhiệm về mọi sự xảy ra trong vũ trụ. Còn khoa học thì thu thập tích lũy hàng núi bằng chứng chứng tỏ rằng vai trò của Gót không cần thiết trong việc giải thích những hiện tượng thiên nhiên.  Thí dụ, khi anh phát biểu là có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình Quản Cai Vũ Trụ” thì đó là bày tỏ một niềm tin chứ không phải là khẳng định bản chất của một thực thể.  Trong khoa học, chúng ta không cần đến Gót để giải thích là tại sao khi ta ném một viên đá lên trời thì quỹ đạo của hòn đá là một hình parabol và cuối cùng hòn đá lại rơi xuống mặt đất.

Có một điều mà Francis Dương không nghĩ tới là khi nêu lên những công trình khoa học của một số khoa học gia mà Francis Dương cho rằng họ tin là có Thượng đế, tất nhiên là Thượng đế của Ki Tô Giáo, thí dụ như Nicolas Copernicus, Isaac Newton, Johannes Kepler, Galileo Galilei Jean Baptiste Lamarck, George LeMaitre v…v… [nhưng quên mất Giordano Bruno,  Charles Darwin, hay Alexander VI, Hitler v…v…], Francis Dương lại không biết rằng chính những công trình khoa học của những người này đã phá sập nền thần học của Ki Tô Giáo, nghĩa là bộ môn dùng trò chơi ngôn ngữ để chứng minh là có Thượng đế.  Một Giordano Bruno, bị Giáo hội thiêu sống chỉ vì tin chắc rằng ngoài thế giới của chúng ta còn có nhiều thế giới khác.  Chẳng có lẽ ông ta lại tin ở một Thượng đế ngu đần đến độ cho rằng thế giới của chúng ta là duy nhất do chính ông Thượng đế đó sáng tạo ra như được viết trong Thánh Kinh.  Một Galilei có đầy đủ bằng chứng là trái đất quay xung quanh mặt trời chẳng lẽ lại tin ở một Thượng đế ngu xuẩn đến độ cho rằng trái đất phẳng, dẹt, có bốn góc, đứng yên, và mặt trời quay xung quanh trái đất như được viết trong Thánh Kinh.  Charles Darwin cũng là người Công Giáo, nhưng thuyết Tiến Hóa của ông ta, và những bằng chứng khoa học về vũ trụ học,  đã làm cho thuyết Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài của Ki Tô Giáo trở thành ngớ ngẩn, khôi hài và hoàn toàn vô giá trị.  Vậy thì những khoa học gia này có những công trình vinh danh khoa học hay vinh danh Thượng đế.  Francis Dương hãy trả lời câu hỏi này.

Mặt khác, Jean Baptiste Lamarck chỉ có một số tư tưởng về Tiến Hóa, còn Charles Darwin mới chính là người lập thuyết Tiến Hóa một cách khoa học.  Thật ra thì, nhiều tư tưởng về tiến hóa đã có trước Darwin. Ngay từ trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common Era), ở Đông phương chúng ta có thể thấy tư tưởng tiến hóa trong Áo Nghĩa Thư (800 B.C.E)  của Ấn Độ, trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và sau được phát triển bởi Trang Tử, và trong Kinh Dịch.  Ở Tây phương, chúng ta có thể kể Thales, Anaximander (học trò của Thales), Xenophanes, Anaxagoras, Empedocles, Aristotle, Lucretius.  Trong thời đại thông thường ngày nay (C.E = Common Era) có Plotinus (205-270 C.E.), Avicenna (980-1037), Leonardo da Vinci (1452-1519), Carolus Linnaeus (1707-1778), Georges Louis Leclearc, Comte de Buffon (1707-1788), Erasmus Darwin (1731-1802), Jean Baptiste de Lamark (1774-1829), đó là chỉ kể những tên chính.

George LeMaitre cũng không phải là tác giả của thuyết Big Bang như Francis Dương viết.  Lemaitre dùng những phương trình tương đối của Einstein để tính ngược tới một thời điểm mà vũ trụ được thu gọn trong một trái cầu lớn hơn mặt trời khoảng 30 lần mà ông ta gọi là “nguyên tử đầu tiên” (primeval atom), còn được biết dưới danh từ “trứng vũ trụ” (cosmic egg).  Theo Lemaitre thì, vì những lý do không rõ, trái trứng vũ trụ này nổ bùng tạo thành vũ trụ của chúng ta ngày nay.  Nhưng các phương trình của Einstein lại cho phép các khoa học gia đi ngược thời gian xa hơn nữa, tới một thời điểm mà tất cả vũ trụ được thu gọn trong một điểm mà danh từ khoa học gọi là “dị điểm” (singularity), một thời điểm vào khoảng 0.0001 (một phần mười ngàn) của một giây đồng hồ (10-4 sec.) sau khi dị điểm bùng nổ, khi đó nhiệt độ của dị điểm là khoảng 1,000,000,000,000 (một ngàn tỷ) độ tuyệt đối (1012 oK), nhiệt độ tuyệt đối K cao hơn nhiệt độ bách phân C là 273.16  độ,  do đó  0 độ K  tương đương  với  -273.16 độ bách phân C, và tỷ trọng của dị điểm là 100,000,000,000,000 (một trăm ngàn tỷ) gram (1014 g) cho một phân khối.  Để có môt ý niệm về các con số trên,  nhiệt độ ngoài biên của mặt trời chỉ vào khoảng 6000 độ, và tỷ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối.  Đây mới là thuyết Big Bang.

Để chứng minh thêm là Francis Dương viết mà không hiểu mình viết cái gì, tôi xin đưa ra hai trường hợp điển hình:

1.   Francis Dương đưa tên nhà toán học Pháp Pierre Simon de Laplace vào danh sách những khoa học gia nổi tiếng mà Francis Dương cho rằng ông ta tin vào Thượng đế của Ki Tô Giáo.  Nhưng Francis Dương không biết, hoặc biết mà cố tình không nhắc, đến một giai thoại về Laplace như sau:

Hoàng đế Napoléon Bonaparte, sau khi đọc cuốn “Cơ Học về Các Thiên Thể” (Celestial Mechanics), cuốn sách giải thích vũ trụ thuần túy theo những nguyên nhân tự nhiên, nhận xét rằng trong cuốn sách đó Laplace không đả động gì đến Gót cả.  Laplace đã trả lời như sau: “Thưa Ngài, tôi không cần đến cái giả thuyết đó” [ Sire, I have no need to that hypothesis].  Trong khoa học, giả thuyết có ý nghĩa như thế nào, mọi người đều biết.

Laplace cũng còn phát biểu: Kính thiên văn đã quét hết vòm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. [The telescope sweeps the skies without finding god.]

2.  Francis Dương cũng đưa tên Blaise Pascal vào danh sách những người tin có Thượng đế và nêu lên lý luận “đánh cuộc của Pascal” (Pascal’s Wager) như sau mà Francis Dương cho là một danh ngôn mà tới nay, ai cũng thấy hữu lý: “Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài; nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả” [thiếu câu sau: nếu không tin là có Ngài. [If God does not exist, one will lose nothing by believing in him (wrong), while if he does exist, one will lose everything by not believing (wrong again)]. Francis Dương không nhận ra một đống sai lầm trong câu trên và không biết rằng câu trên phát xuất từ một sự mê tín chứ không phải là khẳng định về một thực thể.  Chúng ta phải hiểu câu trên như sau:  nếu tin vào Thượng đế và Thượng đế có thật thì sẽ được lên thiên đường sau khi chết, còn nếu không tin mà Thượng đế có thật thì sẽ bị đày đọa xuống hỏa ngục sau khi chết. Đó là một câu đánh cuộc vào một điều mình không biết hoặc chưa tin (là “Thương đế”), vì nếu đã biết hoặc đã tin thì còn đánh cuộc làm gì !

Thứ nhất, hàng tỷ người trên thế gian không tin có Thượng đế của Ki Tô Giáo nhưng vẫn có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, lành mạnh, đầu óc tỉnh táo không mê mẩn vì một cái bánh vẽ trên trời (điều này chứng tỏ là chẳng làm gì có Thượng đế và cũng chẳng ai cần đến Thượng đế.)  Ngay cả theo lý thuyết thần học của Ki Tô Giáo, trong trường hợp hoang tưởng là những người không tin sẽ phải bị đầy đọa xuống hỏa ngục sau khi chết thì cũng không thể nói là họ đã “mất tất cả”.  Giáo hoàng John Paul II đã chính thức phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường hay hỏa ngục của Ki Tô Giáo, điều này đã ném các Pascal’s Wager vào “đống những đồ phế thải”.  Cho nên những người hi vọng ở một đời sau hạnh phúc trên thiên đường mới là những người “mất tất cả” vì hi vọng đó không bao giờ có thể thành đạt.

Thứ nhì câu của Pascal cũng có thể áp dụng cho Do Thái Giáo hay Hồi Giáo hay Ấn Độ giáo.  Hồi giáo có thể nói, tin vào Allah và nếu Allah không có thật thì cũng chẳng mất mát gì.  Nếu không tin và Allah có thật thì sẽ mất tất cả.  Đối với Hồi Giáo thì tất cả các tín đồ Ki Tô Giáo đều phải xuống hỏa ngục của Hồi Giáo nếu Allah có thật. Đối  với nhiều tông phái Ấn Độ giáo cũng vậy, tất cả tín đồ Ki Tô giáo đều thành ma quỷ hết nếu các vị thần linh của họ có thật.

Thứ ba, sự kiện là, dù muốn dù không, đời sống của chúng ta trên trái đất là đời sống duy nhất mà chúng ta sẽ trải qua.  Nếu chúng ta hi sinh đời sống này cho một Thượng đế giả tưởng thì có thể nói là chúng ta sẽ mất tất cả.  Đây chính là vong thân.

Sau cùng, tôi muốn khai sáng cho Francis Dương về đoạn kết của ông ta.  Francis Dương viết về “Vô Thần”:

Người vô thần là người không ý thức, bác bỏ, phủ nhận niềm tin vào  Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Thượng Đế, Thiên Chúa, Jehovah, Allah…   vì hoặc là họ cho rằng không có bằng chứng hiễn nhiên, rõ ràng, hay họ dựa vào các triết thuyết, xã hội học, lịch sử, và thiên nhiên…

Vậy con người nên theo Cộng Sản, tôn thờ Karl Marx, Lenin, Mao, Hồ, hay Ông Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Chí Tôn, Thiên Chúa, Jehovah, Allah để khi lìa dương thế còn có hy vọng một đời sau hạnh phúc, và khi còn sống còn có chút lương tâm yêu thương tổ tiên cha mẹ anh chị em bà con xóm giềng cùng đồng loại.  Ngược lại nếu trong xã hội loài người không ai còn tin vào sự hiện hữu của ÔNG TRỜI, ĐẤNG CHÍ TÔN vô hình chủ tể muôn loài muôn vật thì con người sẽ ăn thịt con người, cướp bóc khắp mọi nơi, mạnh được yếu thua như súc vật.  

 

Đọc câu nầy, về mặt phương pháp luận, ta đã thấy Francis Dương bị kẹt vào thế nhị nguyên đối đãi: Không Thiên Chúa thì chỉ là Cọng sản, không Cọng sản thì chỉ phải là Thiên Chúa, chứ không còn chọn lựa nào khác ! Vậy trước khi có Cọng sản thì sao ? Đây là cái loại đầu óc bị cầm tù và bị nhồi sọ bởi ông Giáo hoàng Pio XI từ hơn 70 năm trước để chống Cọng mà mở mang nước Chúa ở Bùi Chu Phát Diệm, nay còn đọng lại mà Linh mục Trần Tam Tĩnh đã nói đến trong tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm: “Ở một số địa bàn Công giáo tiêm nhiễm nội dung chống Cộng của thông điệp Divini Redemptoris của Piô XI, nên người ta phải sống trong một thứ hoang mang, thời gian để lại những hậu quả rất nghiệm trọng. Một vài lãnh tụ Công giáo đã vạch ra một đường lối xử thế, mà nhiều người rồi đây đã thấy là xảo quyệt gian manh”.

 

 Sau đây là một bài học nhỏ cho Francis Dương về “Vô Thấn” và “Hữu Thần”.

 http://giaodiemonline.com/2010/01/images/ongtroi02.jpg

Đoạn trên của Francis Dương là luận điệu cố hữu của Công giáo, kẻ thù không đội trời chung với Cộng sản.   Tại sao Công giáo lại chống Cộng một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy?  Thật là dễ hiểu, vì lý thuyết của Marx đã vạch trần bộ mặt thật của Ki Tô Giáo, kết quả là đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu vãn.  Hiện tượng này thật là rõ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo, mà còn ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ.  Học giả Công giáo Joseph L. Daleiden đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition, Prometheus Books, New York,  1994): “Căn nguyên sự thù ghét của giáo hội Công giáo đối với Cộng Sản là giáo hội ý thức được rằng Cộng Sản, về ảnh hưởng, là một địch thủ tôn giáo.” [2]

Francis Dương có biết là:

Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (nghĩa là sống như là “vô thần”) [3]

 

Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, thì Benedict XVI đã lên tiếng phàn nàn như sau:

“Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa. [4]

Cũng theo tin hãng Reuters ở Rome thì Giáo hoàng Benedict XVI đã phải đau lòng mà chấp nhận một sự thực: “Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần gì đến Chúa Giêsu nữa. Những Giáo Hội gọi là ‘truyền thống’ xem ra như đang chết dần.” [5]

Những sự kiện trên chứng tỏ rằng niềm tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia mà Francis Dương nêu lên để quảng cáo cho “Đấng Chí Tôn..” ngày nay chẳng còn mấy giá trị.  Nó chỉ còn giá trị đối với “đám quần chúng tín đồ ngu si, và những linh mục xảo quyệt” [Robert G. Ingersoll, in 1870:  The people are stupid, and the priests are cunning].

Hơn một thế kỷ sau, S.T. Joshi cũng đưa ra một nhận định tương tự:  “Câu hỏi chính không phải là tại sao tôn giáo (tác giả muốn nói đến Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Ki Tô Giáo) không chết đi mà là tại sao nó còn tiếp tục tồn tại trước hàng núi những bằng chứng trái ngược [với những gì các tôn giáo trên rao truyền].  Đối với tôi, câu trả lời có thể thâu tóm trong một câu thẳng thắn: quần chúng tín đồ thì ngu si [6]

Thật ra, theo định nghĩa thì, Vô thần chỉ có nghĩa là không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa [Atheism = Disbelief in or denial of the existence of God].  Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần không có nghĩa là chống Thiên Chúa, vì chống một cái không hiện hữu là một chuyện vô ích.  Nói cho đúng ra, Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một Thiên Chúa do chính con người bày đặt ra.

    Đối với giới “Chống Cộng Cho Chúa” [CCCC] thì hai chữ “vô thần” hầu như bao giờ cũng đi liền với hai chữ “Cộng sản” trong những bản văn chống Cộng ở hải ngoại, và ngay cả ở trong nước.  Điều này chứng tỏ là những người Chống Cộng Cho Chúa chẳng hiểu gì về vô thần hay Cộng sản.  Họ chỉ lập lại như những con vẹt những luận điệu chống Cộng của Công Giáo sau chiêu bài “vô thần” làm như “vô thần” là có tội với Thiên Chúa, là vô đạo đức của Thiên Chúa v…v…

Bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải hiểu rằng: CS là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế [Communism is a socio-economic political system] trong khi Vô Thần là một lập trường đối với các tôn giáo (thần giáo), đặc biệt là Ki Tô Giáo [Atheism is a position taken in respect to religion, especially Western religion], và Vô Thần đã có từ trên 2000 năm nay, trong khi Cộng sản mới chỉ ra đời cách đây trên 100 năm.

Vì không hiểu rõ chủ trương vô thần của Marx cũng như bản chất của vô thần cho nên ngày nay vẫn còn có những người cuồng tín đần độn, kể cả những người gọi là trí thức Công Giáo,  và cả một số trí thức Phật Giáo thiếu trí tuệ, vẫn tiếp tục kết hợp Cộng sản với Vô Thần, làm như Vô Thần là một trọng tội xấu xa cần phải diệt trừ.  Họ không đủ kiến thức để hiểu rằng, khi họ kết hợp Cộng Sản với Vô Thần là họ đang thực sự tôn vinh Cộng Sản.

Thật vậy, như Voltaire đã nhận định: “Vô Thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” [Atheism is the vice of a few intelligent people] và trên thực tế, Vô Thần là kết quả tiến bộ trí thức của con người, như Frank E. Tate đã tuyên bố như sau:

“Suốt cuộc đời tôi, tôi đã tiến bộ từ một người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri” và bây giờ là một người vô thần.   Tôi dùng từ “tiến bộ” vì tôi tin rằng đó thực sự là một sự tiến bộ, tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lý đã lỗi thời đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không còn tin nữa.

Chính cái huyền thoại đó – cuốn Thánh kinh Do Thái-Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc đổ máu, dâm dật, và cuồng tín không đếm xỉa gì đến đời sống và sự an sinh của những người nào không bày  tỏ niềm tin mù quáng của mình vào những giới luật được trình bày qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được” [7]

Những người Công Giáo thường bị tẩy não, nhồi sọ từ nhỏ là những người không tin vào Thiên Chúa của họ là “vô thần” (trong đó có cả Phật giáo và Không giáo “ma quỷ” của Alexandre de Rhodes nữa), và vô thần có nghĩa là vô đạo đức của Ki Tô Giáo, và do đó có thể làm tất cả những điều ác vì không còn sợ Thiên Chúa của họ như Francis Dương viết ở trên.  Nhưng nếu chúng ta đọc lịch sử giới hữu thần và so với giới vô thần, chúng ta sẽ thấy rằng đạo đức của giới hữu thần thực sự thua xa đạo đức của giới vô thần.  Lịch sử Ki Tô Giáo đã chứng tỏ như vậy.  Tại sao?  Bởi vì Ki Tô Giáo tin vào cuốn Thánh Kinh của họ, và trong Thánh Kinh, những điều luân lý đạo đức chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với những phần vô đạo đức, phi luân.

Sự thực là, hững người vô thần nổi tiếng từ xưa tới nay đều là những bậc thông thái, có đạo đức, chứ không tàn bạo, ngu đần, vô đạo đức như một số giáo hoàng thờ thần trong cái tôn giáo thờ thần là Công giáo như lịch sử đã chứng minh. Và trong những xã hội Ki Tô Giáo “hữu thần”, tỷ lệ những tội ác như giết người, cướp của, loạn luân, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, ma túy v..v.. đã vượt trội những xã hội “vô thần”.  Thí dụ:

Mỹ là một nước “hữu thần” hạng nhì (sau Phi Luật Tân) trong thế giới ngày nay, vì theo Francis Dương thì có 51.3 % theo Tin Lành và 23.9 % theo Công giáo, số người tin vào sự “thiết kế thông minh” của một ông Thiên Chúa để tạo nên nước Mỹ làm dân của Thiên Chúa (God’s people).  Nhưng những tội ác như linh mục loạn dâm, đĩ điếm, cần sa, ma túy, gian manh lừa đảo, giết người, băng đảng xã hội đen v..v.. đều chiếm giải quán quân trên thế giới.  Nói có sách, mách có chứng: sau đây là vài con số thống kê của Mỹ:

-  Thống kê năm 2000:  14 triệu người tuổi từ 12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).

-  Năm 2001: 15.980 vụ giết người, 90.491 vụ hiếp dâm.  Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu của bộ Tư Pháp)

-  Trên 1 triệu gái mãi dâm hành nghề trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), phòng tẩm quất (massage parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị thành niên.  Thành phố New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các vấn đề liên quan đến mãi dâm.

-  14.000.000 người nghiện rượu.

-  Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù.  Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.

-  Ở Trung Quốc [xứ vô thần] thì cứ trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ [xứ hữu thần] là 686 người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.

-  50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi đến ly dị.

-  Từ 4% đến 10% dân chúng đồng tính luyến ái.

-  Tới nay đã có hơn 5000  linh mục Công Giáo bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ, chưa kể số Mục sư Tin Lành..

 Có thể những người thờ thần, hay thờ Chúa cũng vậy, muốn biết là một người vô thần có những cảm nghĩ gì?  Tôi xin mượn vài tư tưởng của Robert G. Ingersoll.  Ingersoll là một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ.  Tên ông ta có trong lịch sử, trong tự điển.  Những tư tưởng của ông đều có trong các thư viện lớn và trên Internet.  Tượng đài tưởng  niệm ghi công ông khai phóng đầu óc giới trẻ được xây ở Peoria, bang Illinois.  Ingersoll phát biểu như sau về cảm nghĩ của một người vô thần.  Tôi chỉ xin nêu ra vài tư tưởng trong đó:

“Khi tôi tin chắc rằng Vũ trụ là thiên nhiên – và rằng những thánh ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại, thì những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải thoát đã xâm nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt máu trong người tôi.  Những bức tường của cái nhà tù của tôi [Ki Tô Giáo] đã sụp đổ, ngục tù tăm tối đã được tràn ngập ánh sáng, và tất cả những then cửa, chấn song, gông cùm đã trở thành cát bụi.  Tôi không còn là một tôi tớ hèn mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Xin đọc trang nhà Mucsu.net: Người Ki Tô Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ hèn hạ, là người hầu việc Chúa v..v.. )  Tôi đã tự do:

-  tự do suy tư, phát biểu tư tưởng

-  tự do sống theo ý tưởng của tôi

-  tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác quan của tôi

-  tự do tìm hiểu

-  tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và độc ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dã man đã tạo ra chúng và
mọi truyền thuyết man rợ của quá khứ

-  tự do thoát khỏi những giáo hoàng và linh mục

-  tự do thoát khỏi những sai lầm được thánh hóa và những lời nói láo mang tính thánh

-  tự do thoát khỏi sự sợ hãi về một sự đau đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)

-  tự do thoát khỏi những ma, quỉ và thiên chúa.” [8]

 http://giaodiemonline.com/2010/01/images/ongtroi03.jpg

Để khai sáng cho Francis Dương biết ai là những người “vô thần”, không tin vào cái gọi là “Ô ng Trời” hay “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của Francia Dương, tôi xin liệt kê tên của một số nhỏ những nhân vật có tên tuổi trên thế giới mà tôi cho là quen thuộc nhất đối với chúng ta, trong số 600 nhân vật (lẽ dĩ nhiên vẫn chưa đầy đủ) trong cuốn 2000 Years of Disbelief: Famous People  With The Courage To Doubt của James A. Haught, (Prometheus Books, 1996), những nhân vật có thể xếp vào trong đoàn thể của những người “vô thần”, theo thứ tự A, B, C.  Chúng ta nên để ý là trong danh sách này có những tên mà Francis Dương cho vào danh sách những người “hữu thần” nhưng không hề ghi xuất xứ, những tên có gạch dưới:

Lord Acton – John Adams – Ethan Allen – Steve Allen – Aristotle – Isaac Asimov – Sir Francis Bacon – Honoré de Balzac – Charles Baudelaire – Simone de Beauvoir – Ludwig van Beethoven – Hector Berlioz – Georges Bizet – Charles Bradlaugh – Johannes Brahms – Benjamin Britten – Giordano Bruno – Pearl Buck – Albert Camus – Andrew Carnegie – Marcus Tullius Cicero – Auguste Comte – Confucius – Nicolaus Copernicus – Clarence Darrow – Charles Darwin – Claude Debussy – Daniel Defoe – Demosthenes – Charles Dickens – Denis Diderot – Diogenes – Alexandre Dumas – Will Durant – Thomas EdisonAlbert Einstein – George Eliot – Albert Ellis – Empedocles – Euripides – William Faulkner – Richard P. Feynman – Gustave Flaubert – Antony Flew – George William Foote – Anatole France – Benjamin Franklin – Sigmund Freud – Galileli Galileo – Indira Gandhi – Mohandas Gandhi – Giuseppe Garibaldi – Edward Gibbon – André Gide – Johann Wolfang von Geothe – Thomas Hardy – Stephen Hawking – Joseph Haydn – George W. F. Hegel – Martin Heidegger – Fred Hoyle – Victor Hugo – David Hume – Aldous Huxley – Robert G. Ingersoll – Thomas Jefferson – James Joyce – Franz Kafka – Immanuel Kant – Johannes Kepler – Jean de la Bruyère – Pierre Simon de Laplace – William E. H. Lecky – Abraham Lincoln – John Locke – James Madison – Karl Marx – Jules Massenet – Somerset Maugham – Guy de Maupassant – Henry Louis Mencken – Michel de Montaigne – Baron de Montesquieu – Wolfang Amadeus Mozart – Jawaharlal Nehru – Friedrich Nietzsche – Madalyn Murray O’Hair – Thomas Paine – Pablo Picasso – Max Planck – Marcel Proust – Jules Renard – Eleanor Roosevelt – Theodore Roosevelt – Jean-Jacques Rousseau – Carl Sagan – George Sand – George Santayana – Jean Paul Sartre – Arthur Schlesinger – William Shakespeare – Adam Smith – Socrates – Baruch Spinoza – Richard Strauss – Leo Tolstoy – Mark Twain – Voltaire – George Washington – Daniel Webster – H. G. Wells – Zeno – Émile Zola.

Danh sách nầy được tác giả James A. Haught chọn lựa theo tiêu chuẫn là “những người thông minh, có học, có khuynh hướng phê phán [những hiện tượng] siêu nhiên và những điều gọi là sự thật được hiễn lộ của tôn giáo. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi tìm thấy [trong danh sách nầy] tên tuổi một số lớn những người hoài nghi và vô tín ngưỡng trong số những nhà phát minh, khoa học gia, nhà văn, nhà cải cách xã hội và những nhân vật làm đổi thay thế giới trọng đại của chúng ta – những người thường được gọi là vĩ nhân. Sự tiến bộ của văn minh Tây phương đã phần nào là một câu chuyện về chiến thắng từ từ những áp bức của tôn giáo, và những người nghi ngờ kiệt xuất nầy là những vị đàn ông cũng như phụ nữ đã không cầu nguyện, đã không quỳ trước các bàn thờ, đã không hành hương, và đã không đọc kinh nguyện. Cuốn sách nầy là một cuốn sách trích dẫn tổng hợp những lời phát biểu của các “vĩ nhân” cả Đông lẫn Tây, từ cổ đại cho đến hiện đại…” [9]

Trần Chung Ngọc

[Source: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN89.php - 1/2010]


 

[1]  Either there is a god, multiple gods, or none.  Either there is such a thing called the human soul or there isn’t, and, if there is, it either can or cannot survive the death of the body.  Either Jesus Christ, if he existed, was the son of God or he wasn’t.  Either Mohammed, if he existed, was God’sprophet or he wasn’t.

 That the essential doctrines of many of the world’s major religions – especially Christianity, Judaism, and Islam – are matters of truth or falsity is itself a fact around which no amount of sophistry or special pleading can get.  Unfortunately for them, evidence has been steady accumulated for at least the last half-millenium to suggest that these doctrine are false

[2]The root of the (Catholic) Church’s antipathy toward Communism is its realization that Communism is, in effect, a rival religion.

[3]At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.

[4]ROME (Reuters, July 27, 2005) – Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesday.

 [5] It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ,” he told a meeting of clergy in the Italian Alps.

“The so-called traditional churches look like they are dying,” he said, according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.

[6]S.T. Joshi, God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong,  Prometheus Books, New York, 2003, p. 12:  The dominant question thus becomes  not why religion has not died away but why it continues  to  persist in the face of monumental evidence to the contrary.  To my mind, the answer can be summed up in one straightforward sentence: People are stupid.

[7]  During my lifetime I have progressed from being a “believer,” to being an agnostic and now an atheist.  I use the word “progress” because I believe it to be true progress to go from blind acceptance of an outdated illogical mythology to doubt and finally to denial and disbelief…

The myth itself – the Judeo-Christian Bible – is a shocking account of bloodshed, lust, and bigoted disregard for the lives and well-being of all peoples who do not profess a blind belief in the precepts presented in such impossible and contradictory terms.

[8]When I became convinced that the Universe is natural – that all the ghosts and gods are myths, there entered into my brain, into my soul, into every drop of my blood, the sense, the feeling, the joy of freedom.  The walls of my prison crumbled and fell, the dungeon was flooded with light and all the bolts, and bars, and manacles became dust.  I was no longer a servant, a serf, or a slave…I was free

-     free to think, to express my thoughts

-     free to live to my own ideal

-     free to use all my faculties, all my senses

-     free to investigate

-     free to reject all ignorant and cruel creeds, all the “inspired” books that savages have produced, and all the barbarous legends of the past

-     free from popes and priests

-     free from sanctified mistakes and holy lies

-     free from the fear of eternal pain

-     free from devils, ghosts and gods

 [9] Intelligent, educated people tend to be critical of the supernatural and the so-called revealed truths of religion. So it is hardly surprising to find a great number of skeptics and unbelievers among our major inventors, scientists, writers, social reformers, and other world changers – people usually termed great. The advance of Western civilization has been partly a story of the gradual victory over religious oppression, and these brilliant doubters were men and women who didn’t pray, didn’t kneel at altars, didn’t make pilgrimages, and didn’t recite creeds.

2,000 years of Disbelief is a book of quotes that brings together the words of the “greats” of both East and West, from antiquity to the present. Included in this stirring collection are such renowned skeptics as Epicurus, Voltaire, Arthur Schopenhauer, Mark Twain, and Bertrand Russell. But also represented are many whose skepticism is not so well known, and who are for this reason regarded by churchmen and others as conventional believers. Notable among these are many U.S. presidents. Thus we learn, for example, that George Washington had no belief in Christianity and that Abraham Lincoln never joined a church. 2,000 Years of Disbelief is an anthology not only of outstanding philosophers, scientists, and poets, but also of figures in the arts and entertainment as well as prominent scholars and politicians.

Arranged chronologically for ease of reference, with each chapter devoted to a particular figure or period, this witty, insightful collection reveals the extent to which the most renowned people in all areas expressed, both publicly and privately, their courage to doubt, often in the face of great personal risk. A delight to read as well a a valuable sourcebook, 2,000 Years of Disbelief provides a powerful weapon against religious conformists, dogmatists, and others who would roll back the clock on the teaching of evolution and who are working to tear down the wall of separation between church and state. Others included in this outstanding collection are: Omar Khayyam, William Shakespeare, Thomas Hobbes, Benjamin Franklin, Mary Wollstonecraft, Charles Darwin, Elizabeth Cady Stanton, Thomas Edison, Albert Einstein, W. E. B. Du Bois, Ayn Rand, Langston Hughes, Steve Allen, Elie Wiesel, Gloria Steinem, Albert Gore, and many others.

[ Source: http://www.ebscobooks.com/books/ProductDetails.asp?CatalogID=59093 ]

 http://giaodiemonline.com/2010/01/ongtroi.htm


 

Tương Tư Trong Ca Dao

KathyTran

Tương tư là một trạng thái tâm hồn… cực kỳ kỳ cục. Như mọi trạng thái… tâm thần khác, nó là hậu quả hay kết quả của một tình cảm bất thường, hào hứng và nguy hiểm nhất: Tình yêu!

Có yêu người ta mới tương tư!

Không yêu, người ta chẳng thèm dòm mặt, chẳng thèm để ý cho mệt.

Thêm một chi tiết nữa là người ta chỉ tương tư khi tình yêu chưa được thoả mãn, bị thiếu thốn rất nhiều hay hơn nữa: Bị từ chốị

Tương tư trở thành căn bê.nh. Đã là bệnh thì không kể già, trẻ, lớn bé, nam nữ hay đen trắng. Trái tim còn đập thình thịch trong ngực là người ta còn có thể mắc bệnh tương tự

Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

*
Gặp mặt nhau, chưa biết nàng bằng lòng mình chưa, chàng cứ thấy trái tim mình thôi thúc, kêu réo ầm ỹ:
– Đúng tần số rồi, đúng đối tượng rồi, yêu đi
thôi! Yêu đi thôi!

Chàng làm sao được bây giờ ngoài việc làm cho sự thôi thúc trong lòng được đáp ứng.

Chàng tìm cách gần gũi người mơ, nói cho người ta biết rằng chàng đang yêu và tìm cách cho nàng yêu chàng.

Dịp may, gặp nàng bên đường trong một đêm trăng, chàng thủ thỉ hỏi han:

Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đỉ

Từ ánh trăng vàng rực rỡ trên dòng sông, long lanh chiếu trong chiếc gầu sồng của nàng rồi hắt ra thành một giải luạ bạc trải dài trên đồng lúa cuả một đêm rằm, chàng về nhà, nhớ trăng, nhớ nước, nhớ người mà ngẩn ngơ tự hỏi:

Nước non một gánh chung tình.
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?

Riêng chàng, chàng nhớ lắm. Nhớ từ ánh trăng vàng mông mênh tới nụ cười e thẹn có đồng tiền trên má bởi vì đâu phải dễ tìm người trong mô.ng. Chàng đã đi hết lục tỉnh Nam Kỳ mới bắt gặp được người mơ:

Thò tay anh ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ!
Trên rừng có cây bông kiểng.
Dưới biển có cá hóa long.
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong.
Anh đi lục tỉnh giáp vòng.
Tới đây trời khiến đem lòng thương em!

Chàng nhớ nhung lắm, chàng “thương” lắm và chàng cũng yêu lắm nhưng chàng chưa dám ngỏ lời:

Thò tay anh ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ!
Chàng chỉ dám hỏi bâng quơ để coi người ta có chịu trả lời mình không:
Lá này là lá soan đào
Tương tư gọi nó thế nào hỡi em?

Lỡ nhung nhớ, lỡ tương tư, bây giờ lại phải xa nhau, nỗi đau kể sao cho xiết:

Đứt tay mấy chút chẳng đaụ
Xa em một chút như dao cắt lòng.

Yêu nhau rồi, không thể nào chịu được chia xa, nó như dao cắt lòng chàng.
Chàng nhất định phải được cùng nàng gá nghiã. Dù cha mẹ rầy la, đánh mắng hay cùng lắm chàng đành xin chịu chết để được gần nàng:

Anh thương em trầu hết lá lươn.
Cau hết nửa vườn cha mẹ nào haỵ
Dầu mà cha mẹ có haỵ
Nhất đánh nhì đầy hai lẽ mà thôị
Gươm vàng để đó em ơị
Chết thì chịu chết.
Lìa đôi anh không lìa!

*
Nhớ nhung, thương nhớ làm chàng thức suốt đêm dàị Chàng tơ tưởng được thở than cùng nàng, được thề thốt một đời chung thủỵ Chập chờn hết đêm, chàng giật mình tỉnh dậy, thấy mình vẫn một mình:

Bước sang canh một, anh thắp ngọn đèn vàng.
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lờị
Canh hai vật đổi sao dờị
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung.
Canh ba cờ phất trống rung.
Mặc ai, ai thẳng ai dùn mặc aị
Canh tư hạc đậu cành maị
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh chầy tơ tưởng, tưởng tợ
Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không.

Đêm ngủ không yên, ngày tơ tưởng mặt mà lòng càng nặng chĩu mối sầu tương tư:
Chàng nhớ nàng lắm. Nơi nào đó, nàng đang ngồi bên song cửa, chàng muốn hỏi ai kia rằng lòng nàng có như tấm lòng chàng? Có thấy cô đơn, có cần người chia xẻ, có thắt thẻo đợi chờ ai:

Ngồi tựa song đàọ
Hỏi người tri kỷ ra vào vấn vương?
Gió lạnh đêm trường.
Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường chờ aỉ

*
Chàng nặng lòng đến thế. Còn nàng, từ ngày ăn miếng trầu cay cũng đâm ra thờ thẫn, nhớ nhớ, quên quên.

Từ ngày ăn phải miếng trầụ
Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêụ
Biết là thuốc dấu, bùa yêụ
Làm cho khúc mắc nhiều điều xót xa,
Làm cho quên mẹ quên chạ
Làm cho quên cả đường ra lối vàọ
Làm cho quên cá dưới aọ
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời

Chàng tương tư ai đó thì cũng có người đang nhớ nhớ,thương thương aị Để che dấu những tình cảm của mình, người ta đã phải dối mẹ, dối cha:

Thương nhau cởi áo cho nhaụ
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió baỵ
Tại mẹ may áo rộng taỵ
Con quen gió mát, áo bay mất rồị

Cảnh vật quen thuộc, yêu dấu chung quanh, đâu đâu cũng là bóng hình ai:

Qua đình ngả nón trông đình.
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêụ
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêụ

Khi trang điểm, lúc đứng ngồi, lòng càng xót xa thương nhớ:

Cầm lược thì nhớ đến gương.
Ôm chăn nhớ chiếu, nằm giường nhớ …aỉ

Nhớ thương làm người ta ngủ không yên, ăn không được,
quay quắt nhớ miếng trầu ngày nào:

Một thương hai nhớ ba sầụ
Cơm ăn chẳng được ăn trầu cầm hơị

Chiếc khăn, ánh đèn, đôi mắt cũng hùa nhau mà… nhớ
thương mãi người nào đó:

Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất?
Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vaỉ
Khăn thương nhớ ai, khăn chùi nước mắt?
Khăn thương nhớ ai, khăn giặt để vaỉ
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?
Mắt thương nhớ ai mắt ngủ chẳng yên?

Lễ giáo bắt người con gái phải kín đáo, phải thụ động nên tình yêu càng lắng đọng, nỗi tương tư càng
chua xót vì không dám cùng ai chia xẻ, tỏ bày:

Anh buồn có chốn thở than.
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya!

Nàng ngắm gió, nhìn mây, thấy mình không được như con chim, con cá. Nàng trông ngóng mãi một bóng hình:

Con chim buồn, con chim bay về cội
Con cá buồn, con cá lội trong sông
Em buồn, em đứng em trông
Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!

Trông gần rồi lại ngó xa mà bóng hình ai vẫn biền biệt:

Ngày ngày em đứng em trông.
Trông non, non ngất.
Trông sông, sông dàị
Trông mây, mây kéo ngang trờị
Trông trăng, trăng khuyết.
Trông người, người xa…”

Trời, mây, non nước vẫn chỉ mãi một mầu nhạt nhoà cho trăng cô đơn , cho hoa buồn bã:

Vì mây cho núi lên trờị
Vì cơn gió thổi, hoa cười với trăng
Vì sương cho núi bạc đầụ
Vì cơn gió mạnh cho rầu rĩ hoa
Vì mây cho núi lên caọ
Mây còn mờ mịt, núi nhòa mờ xanh.

Bao lâu nữa nàng sẽ cô dơn, sẽ bạc đầu như ngọn núi dưới sương tuyết, thời gian?

Non xanh bao tuổi non già?
Vì chưng sương tuyết hóa ra bạc đầủ
*
Tương tư vì xa cách hay không được đáp ứng để mình mãi bâng khuâng nhưng không đau đớn, đắng cay bằng bị phụ tình:

Lá khoai anh ngỡ lá sen
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu!

Người yêu đã một thời thề thốt nay ngoảnh mặt, quay lưng để chàng tiếc công yêu đương, thương nhớ:

Cầm vàng mà lội qua sông.
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng!

Người ta phụ mình chỉ vì cái nghèo đeo đuổi Vậy mà ngày xưa đó có người đã hẹn biển, thề non. Chàng tiếc cho một mối tình và cũng tiếc cho một lần lầm lỡ tin yêu:

Ai phụ tôi đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nới sợi dây dài
Ngờ đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây!

Biết người ta phụ bạc rồi, sao lòng mình cứ xót xa, tiếc nuối rồi mãi ước ao, năn nỉ:

Đờn cò lên trục kêu vang
Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng
Muốn cho đây đấy đạo đồng
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương.

Không, con người mình đêm ngày nhớ thương, muốn cả đời gắn bó đã nhất định làm con chim hót mãi trong lồng!
Nhưng… ước chi, một ngày nào đó, con chim sẽ xổ lồng bay cao:

Chim khôn mắc phải lưới hồng
Hễ ai gỡ được đền công lạng vàng
Anh rằng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh gỡ được thì nàng lấy anh.

Chàng đã yêu, chàng đã đau đớn vì yêụ Nàng có hay cho mối tình chung thủy, gắn bó một đời cuả chàng hay nàng nhất định chia tay, theo chồng xa xứ, để lại mọât người khóc nhớ, khóc đau:

Dế kêu dưới đống phân rơm
Tui xa người nghĩa bưng chén cơm khóc ròng.

Chàng sẽ ngày ngày tương tư người phụ ngãi mà tự hỏi và mãi trách người ra đi:

Chồng gần không lấy
Bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu, mẹ già
Chén cơm, đôi đũa, kỷ trà ai dưng?

Nếu chẳng phải tự nàng phụ bạc mà tại mẹ cha rẽ thúy chia uyên thì niềm cay đắng lại thêm nhiều phần chua xót, tủi nhục:

Tiếc thay bác mẹ nhà nàng
Cầm cân không biết là vàng hay thau
Thật vàng chẳng phải thau đâu
Mà đem thử lửa cho đau lòng vàng!!!”
Nỗi đau này ai thấu cho chàng?

Có chăng là những người cùng cảnh đã lỡ một chuyến đò tình để mắc bệnh tương tư.
San Jose, 05/ 2006

Lời bàn:

Nghe nói có phương thuốc trị tương tư hay lắm, cũng hình như moi đâu trong ca dao mà ra :
Tu là cõi phúc, tình là dây oan .

Nhưng rồi cũng chả ra làm sao cả khi nhân gian cứ lại phản đề ngay đấy :

Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ôm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu

Đấy cứ nhì nhằng, nhung nhăng với chữ tình rồi cả đời còn lôi thôi chán :
Chàng đi cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Ví dù tình có dở dang
Thì cho thếp đón đò ngang thiếp ..dìa

Về quê cũ bên cạnh nỗi đau của mối tình phụ bạc, còn miệng tiếng người đời:
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu nhời đắng cay

Tương tư hay tưong tình như từ Hải dúng là nam nhi, bỏ qua cái đúng sai của nhân thế thường tình, biết mười muoi là hàng sẽ sống cũng như chết ;

….Hàng thần lơ láo, phận mình ra sao
Chi bằng riêng một biên thuy…

Nhưng vì em mà ta chết, ta sẽ chết đứng dế chỉ ngã xuống trong vòng tay em . Chao ơi chết vì tình như thế đấy, còn gì dẹp cho bằng . Cũng vài chục năm trước TTKH đã làm những cô câu học sinh trung học ép bướm vào nhũng trang thơ, để đêm đêm ngồi khóc lẻ loi một mình .

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ai ân nhạt nhẽo của chồng tôi
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ

Tấm lòng lương thiện của một con người được dịp trắc nghiệm, đâm ra thương ông chỒng của nàng qúa đi thôi, biết mà vẫn cố đấm ăn xôi thì qủa là cũng đã tưong tư bà vợ lạnh lùng lậm rồi chăng, nếu không thì you sugar you me sugar me cho nó gọn bề tình tiết .

Cái thời đi học, cậu nào may mắn bên cạnh có cô hàng xóm xinh, đánh chết cũng nẩy nở một mối tình đẹp như mơ . Đêm đêm vất vả nắn nót thư tình trên giấy pelure xanh rồi chả bao giờ dám gửI cá, mỗi lần qua nhà nàng nhìn len lén như puppy ăn vụng bột, may mắn được nàng cười cho một nụ thế là phải biết, cứ như là trời đất nở hoa, vui đến mấy ngày . Mỗi lần đi học, nhìn em hàng xóm tung tăng vạt áo nữ sinh sao mà :

Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh

Cậu thư sinh nghèo đâm ra mơ mông :

Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây cầu bán nguyệt cho nàng rửa chân

Hải tôi yêu lắm mối tình Phạm Thái, Quỳnh Như , khi nàng chết ta bỏ quên giang san, nam nhi hồ thỉ không bằng một chuốc rượu say để gợi nhớ đến người tri âm, giang hồ một gánh chỉ còn ta nhớ nàng, lãng đãng ngày tháng chạy dài trên mái tóc sưong mà thảnh thốt, mà chân tình : ” A ha chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mất mỹ nhân”

@ KathyTran
@ Motgocpho

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 24, 2011 in Tình duyên, Văn hóa

 

Ca Dao tình duyên

Anh đi đằng ấy xa xa 
Ðể em ôm bóng trăng tà năm canh. 
Nước non một gánh chung tình 
Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ai? 

**

Ai đi đâu đấy hở ai, 
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm? 
Tìm em như thể tìm chim 
Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Ðông. 
Tìm bể Ðông thấy lông chim nhạn 
Tìm bể cạn thấy đàn chim di, 
Ai mang nhân ngãi ta đi 
Thì mang nhân ngãi ta về cho ta!

*** 

Ai về đường ấy hôm mai 
Gởi dăm điều nhớ gởi vài điều thương. 
Gởi cho đến chiếu đến giường 
Gởi cho đến chốn buồng hương em nằm.

***

Anh về hỏi mẹ cùng thầy 
Có cho làm rể bên này hay không ?

*** 

Anh xa em anh ăn cơm với cá 
Em xa anh, em chan nước mắt thay canh. 
Nhớ ai con mắt lim dim 
Chân đi thất thiểu như chim tha mồi . 
Nhớ ai hết đứng lại ngồi . 
Ngày đêm tơ tưởng một ngưới tình nhân...

***

Anh về Bình Ðịnh chi lâu ? 
Bỏ em ở lại hái dâu một mình. 

*** 

Anh đi lưu thú Bắc Thành 
Ðể em khô héo như nhành từ bi ! 

*** 

Ai làm cho bướm lìa hoa, 
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng ? 
Ai đi muôn dặm non sông 
Ðể ai chứa chất sầu đông vơi đầy? 

***

Áo xông hương của chàng vắt mắc 
Ðêm em nằm em đắp lấy hơi 
Gửi khăn gửi túi gửi lời 
Gửi đôi chàng mạng cho người đường xa. 
Vì mây cho núi nên xa 
Mây cao mù mịt, núi nhoà xanh xanh.

*** 

Bây giờ mận mới hỏi đào: 
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ? 
Mận hỏi thì đào xin thưa: 
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

***

Bóng trăng em ngỡ bóng đèn 
Bóng cây em ngỡ bóng thuyền anh sang.

*** 

Bốn mùa xuân hạ thu đông 
Thiếp ngồi dệt vải những trông bóng chàng. 
Dừa xanh trên bến Tam Quan 
Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu ! 

*** 

Cá lí ngư sầu tư biếng lội 
Chim trên cành sầu cội biếng bay, 
Anh thấy em nhiều nỗi đắng cay 
Con thơ tay ẵm, Gánh nợ oằn vai 
Anh muốn vô chắp nối dở hay với mình.

***
Cầm lược thì nhớ tới gương, 
Cầm khăn nhớ túi, đi đường nhớ nhau. 

*** 

Cá buồn cá lội thung thăng 
Người buồn người biết đãi đàng cùng ai ? 
Phương Ðông chưa rạng sao mai 
Ðồng hồ chưa cạn, biết lấy ai bạn cùng ?

***

Cá sầu cá trở đầu đuôi

Người sầu lên ngược xuống xuôi vẫn sầu.

***

Cánh hồng bay bổng trời thu 
Thương em chim gáy cúc cu trong lồng. 
Duyên may, tay bế tay bồng 
Thương ai vò võ trong phòng chiếc thân.

***

Chẳng tham nhà ngói bức bàn

Trái duyên coi bẵng một gian chuồng gà. 
Ba gian nhà rạ lòa xòa 
Phải duyên coi tựa chín tòa nhà lim.

*** 

Cây trên rừng hóa kiểng, cá ngoài biển hóa rồng 
Cá lòng tong giữa bóng ăn rong 
Anh đi lục tỉnh giáp vòng 
Tới đây ông trời khiến đem lòng yêu em.

***

Con chim phượng hoàng bay ngang biển Bắc 
Con cá ngư ông mong nước ngoài khơi. 
Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời 
Kẻo mai kia con cá về sông vịnh 
Con chim nọ đổi dời non Nam
***

Chim quyên ăn trái nhãn lồng 
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi 

*** 

Chim chuyền nhành ớt líu lo 
Sầu ai nên mới ốm o gầy mòn

***

Chim khôn đậu nóc nhà quan
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng.
trai khôn, tìm vợ chợ đông
Gái ngoan tìm chồng ở chốn ba quân.

***

Cho anh một miếng trầu vàng 
Mai sau anh trả lại nàng đôi mâm

*** 

Chòng chành như nón không khua 
Như thuyền không lái, như chùa không sư. 
Không sư thì lại tìm sư 
Anh không có vợ cũng hư mất đời.

*** 

Chửa quen đi lại cho quen 
Tuy rằng đóng cửa nhưng then không cài 

*** 

Cô kia cắt cỏ một mình 
Cho anh cắt với chung tình làm đôi. 
Cô còn cắt nữa hay thôi 
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng? 

*** 

Cô kia đứng ở bên sông 
Muốn sang, anh ngả cành hồng cho sang 

*** 

Cô kia áo trắng lòa lòa 
lại đây đập đất trồng cà với anh ! 
Bao giờ cà chín cà xanh 
Anh cho một quả để dành mớm con ! 

*** 

Cơm ăn mỗi bữa một lưng 
Uống nước cầm chừng dể dạ thương em. 

***

Ðấy đông thì đây bên tây 
Ðây chưa có vợ, đấy nay chưa chồng. 
Con trai chưa vợ đã xong, 
Con gái chưa chồng, buồn lắm em ơi !

*** 

Ðêm qua mưa bụi gió bay 
Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng. 
Em với anh cùng tổng khác làng 
Nào em có biết ngõ chàng ở đâu ? 
Một thương hai nhớ ba sầu 
Cơm ăn chả được ăn trầu cầm hơi. 
Thương chàng lắm lắm chàng ơi! 
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than. 
Nhớ chàng như nhớ lạng vàng 
Khát khao về nết, mơ màng về duyên. 
Nhớ chàng như bút nhớ nghiên. 
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông. 
Nhớ chàng như vợ nhớ chồng 
Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây.

*** 

Ðó nghèo đây cũng phận nghèo 
Ðôi ta như bọt với bèo thương nhau.

***

Ðêm qua Nguyệt lặn về Tây 
Sự tình kẻ đấy người đây còn dài... 
Trúc với mai, mai về Trúc nhớ 
Trúc trở về mai nhớ trúc không ? 
Bây giờ kẻ Bắc người Ðông 
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư!

*** 

Ðèo treo ngọn ái 
Nước xoáy gò ân 
Em thương anh thì xích lại cho gần 
Kẻo mai xa vắng, hai đứa thầm nhớ thương. 
***

Ðêm qua chớp bể mưa nguồn 
Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng ? 
Cá buồn cá lội tung tăng 
Em buồn em biết đãi dằng cùng ai ? 

*** 

Ðêm qua em nằm nhà ngoài 
Em têm mười một mười hai miếng trầu 
Chờ chàng chẳng thấy chàng đâu 
Ðể cau long hạt, để trầu long vôi 
Trầu long vôi ắt đà trầu nhạt 
Cau long hạt ắt đã cau già 
Mình không lấy ta ắt đà mình thiệt 
Ta không lấy mình, ta biết lấy ai ? 
Răng đen cũng có khi phai 
Má hồng khi nhạt, tóc dài khi thưa , 
Tình đây tính đấy cũng vừa 
Chàng còn kén chọn lọc lừa ai hơn?

*** 

Ðêm qua mới gọi là đêm, 
Ruột xót như muối, Dạ mềm như dưa ! 

*** 

Ðêm qua đốt đỉnh hương trầm 
Khói lên nghi ngút, âm thầm lòng ai...

***

Ði qua nghiêng nón cúi lưng 
Anh không chào, em không hỏi vì chưng đông người... 

*** 

Ði ngang thấy ngọn đèn chong 
Thấy em nho nhỏ muốn bồng mà ru 

*** *** 

Ðôi ta như tượng mới tô 
Như chuông mới đúc, như chùa mới xây.

***

Ðêm nằm ở dưới bóng trăng 
Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em. 

*** 

Ðôi ta như thương mãi nhớ lâu 
Như sông nhớ nước, như ngành dâu nhớ tằm.

*** 

Ðôi ta như thể con bài 
Ðã đánh thì quyết, đừng nài thấp cao. 
Ðôi ta như đá với dao 
Năng liếc năng sắc, năng chào năng quen. 

*** 

Ðôi ta như lúa đòng đòng 
Ðẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha. 
Ðôi ta như chỉ xe ba 
thầy mẹ xe ít, đôi ta xe nhiều.

***
Ðêm khuya thiếp mới hỏi chàng:
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
- Trầu vàng nhá lẫn cau xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

***

Ðêm khuya dưới đất trên trời
Một mình cô đứng, cô ngồi, cô nghe
Cô nghe hết giọng con ve
Ðến lời con cuốc gọi hè tiếc xuân...

***

Ðêm trăng thanh anh mới hỏi nàng: 
Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng ? 
- Ðan sàng thiếp cũng xin vâng, 
Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng ?

***

Em là con gái Kẻ Mơ 
Em đi bán rượu, tình cờ gặp anh. 
Rượu ngon chẳng quản be sành, 
áo rách khéo vá hơn lành vụng may. 
Rượu lạt uống lắm cũng say, 
áo rách có mụn vá ngay lại lành

***

Em về cắt rạ đánh tranh
Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà.
Sớm khuya hòa hợp đôi ta
Hơn ai gác tía lầu hoa một mình

***

Gan vàng chẳng cắt mà đau

Cách em một chút một ràu như dưa.

***

Gặp anh trước hỏi sau chào 
Năm nay anh có nơi nào hay chưa ? 
Có rồi năm ngoái năm xưa 
Năm nay bỏ vợ như chưa có gì !
***

Ghe lui khỏi bến còn dầm 
Người thương đâu mất chỗ nằm còn đây?

*** 

Gió vàng hiu hắt đêm thanh, 
Ðường xa dặm vắng xin anh đừng về. 
Mảnh trăng đã trót lời thề, 
Làm chi để gánh nặng nề riêng ai ! 

*** 

Gió sao gió mát sau lưng ? 
Bụng sao bụng nhớ người dưng thế này ?

***

Gió đưa cột phướn hao dầu, 
Thương em để dạ, chớ sầu mà hư !

*** 

Hai đứa mình giống thế cây cau 
Anh bẹ em bẹ nương nhau sống đời.

*** 

Hỡi cô thắt dải lưng xanh 
Ngày ngày thấp thoáng bên mành đợi ai ? 
Trước đường xe ngựa bời bời 
Bụi hồng mờ mịt, ai người mắt xanh ?

*** 

Hỡi anh mà đi ô thâm ! 
Ô nhiễu, ô vóc hay lầm ô em ? 
Ô em, em để trong nhà 
Khen ai mở khóa đưa ra cho chàng 

*** 

Hôm qua tát nước đầu đình 
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen 
Em được thì cho anh xin 
Hay là em để làm tin trong nhà ? 
áo anh sứt chỉ đường tà 
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu 
áo anh sứt chỉ đã lâu 
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng 
Khâu rồi anh sẽ trả công 
ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho 
Giúp em một thúng xôi vò 
Một con lợn béo, một vò rượu tăm 
Giúp em đôi chiếu em nằm 
Ðôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo 
Giúp em quan tám tiền treo 
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau 

*** 

Khăn đào vắt ngọn cành mơ, 
Mình xuôi đằng ấy, bao giờ mình lên ? 
- Em xuôi, em lại ngược ngay, 
Sầu riêng em để trên này cho anh.

*** 

Khăn thương nhớ ai 
Khăn rơi xuống đất? 
hăn thuơng nhớ ai 
Khăn vắt lên vai ? 
Khăn thương nhớ ai 
Khăn chùi nước mắt? 
Ðèn thương nhớ ai 
Mà đèn không tắt? 
Mắt thương nhớ ai 
Mắt ngủ không yên? 
Ðêm qua em những lo phiền. 
Lo vì một nỗi chưa yên mọi bề...
 
*** 

Kiểng xa bồn, kiểng không xanh 
Anh rầu người nghĩa, cơm canh bỏ liều. 

*** 

Lá này gọi lá xoan đào 
Tương tư gọi nó thế nào hở em ? 
Lá khoai anh ngỡ lá sen 
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu. 

***
Lênh đênh một chiếc thuyền tình 
Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu ?

***

Mình về mình nhớ ta chăng ? 
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười. 
Năm quan mua lấy miệng cười 
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen. 
Răng đen ai nhuộm cho mình 
Cho răng mình đẹp, cho tình anh say?

***

Mong sao anh biến ra tằm
Em biến ra nống ta nằm chung chơi.
Khi nào cho hợp hai nơi
Ghé tai nói nhỏ những lời thủy chung

*** 

Một đàn cò trắng bay quanh 
Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ ta. 
Mình nhớ ta như cà nhớ muối 
Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng. 
Mình về mình nhớ ta chăng ? 
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

***
Một duyên hai nợ ba tình 
Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh.
*** 

Một mình mình một bơ thờ 
Dựa cây cây ngả, dựa bờ bờ xiêu.
*** 

Một ngày năm bảy trận giông 
Anh đi nằm bãi sao không thấy về ?
*** 

Nước chảy re re con cá he nó xoè đuôi phụng, 
Anh xa em rồi trong bụng còn thương.
***
Nằm một mình lại nghĩ một mình. 
Ngọn đèn khêu tỏ bóng huỳnh thấp cao. 
Trông ra nào thấy đâu nào 
Ðám mây vơ vẩn ngôi sao mập mờ. 
Mong người, lòng những ngẩn ngơ...

***

Người về em vẫn khóc thầm 
Ðôi bên vạt áo ướt dầm như mưa 
Người về em vẫn trông theo 
Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi. 
Người về em dạn tái hồi: 
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai !

***


Nhìn em chẳng dám nhìn lâu 
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

***

Nhớ ai em những khóc thầm 
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa. 
Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ 
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai? 
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi 
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.

***

Năm con ngựa bạch sang sông 
Năm gian nhà ngói đèn trong đèn ngoài. 
Ðèn yêu ai mà đèn chẳng tắt? 
Ta yêu mình nước mắt nhỏ ra...

*** 

Ngày ngày em đứng em trông 
Trông non non ngất trông sông sông dài. 
Trông mây mây kéo ngang trời 
Trông trăng trăng khuyết trông người người xa.
***

Nàng về giã gạo ba trăng 
Ðể anh gánh nước Cao Bằng về ngâm. 
Nước Cao Bằng ngâm thì trắng gạo, 
Anh biết em có liệu được chăng? 
Trần trần như cuội cung trăng 
Biết rằng cha mẹ có bằng lòng không ? 
Ðể anh chờ đợi luống công !
*** 

Ngày ngày ra ngõ mà trông 
Bạn không thấy bạn, tình không thấy tình!

*** 

Nghe lời bạn nói đậm đà
Chồng con chẳng phải, rứa mà em thương...

***

Ngó ra sông Cái
Ngó ngoái thấy đình
Hạc chầu thần còn đủ cặp
Huống chi mình muốn lẻ đôi !

*** 

Nước sông Tô vừa trong vừa mát 
em ghé thuyền vào đỗ sát thuyền anh. 
Dừng chèo muốn ngỏ tâm tình 
Sông bao nhiêu nước, thương mình bấy nhiêu


*** 

Ngọc rơi xuống giếng ngọc trầm 
Thò tay vớt ngọc vớt nhầm . . .duyên em 

*** 

Quan cưới em bằng kiệu em cũng không thèm, 
Anh cưới em bằng xuồng ba lá em cũng nguyền theo không.

***

Ra về nhớ nước giếng khơi 
Nhớ điếu ăn thuốc nhớ cơi ăn trầu. 
Ra về giã nước giã non 
Giã người giã cảnh, kẻo còn nhớ nhung.

***

Rượu nằm trong nhạo chờ nem 
Anh nằm phòng vắng chờ em một mình. 
Nước chảy xuôi, con cá bơi lội ngược, 
Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang, 
Thuyền em đến bến Thuận An 
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi ! 

***

Ruộng ai thì nấy đắp bờ 
Duyên ai nấy gặp, đợi chờ uổng công. 

*** 

Sông Ngâu, sông Cả, sông Ðào 
Ba con sông ấy đổ vào sông Thương. 
Con sông sâu nước dọc đò ngang 
Mình về bên ấy ta sang bên này. 
Ðương cơn nước lớn đò đầy...

*** 

Sự đời nước mắt soi gương 
Càng yêu nhau lắm càng thương nhớ nhiều.


***

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn, 
Liễu xa đào liễu ngã liễu nghiêng. 
Anh xa em như bến xa thuyền. 
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng, biết mấy niên cho tái hồi!
***

Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương

***

Tình cờ anh gặp em đây
Như cá gặp nước như mây gặp rồng.
Mây gặp rồng mây lồng cuồn cuộn
Cá gặp nước con ngược con xuôi.
Chồng nam vợ Bắc anh ơi!
Sao anh chẳng lấy một người như em ? 

***

Trèo lên trái núi Thiên Thai 
Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây. 
Ðôi ta được gặp nhau đây 
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng !

*** 

Thương em, anh cũng muốn thương 
Nước thì muốn chảy nhưng mương chẳng đào. 
Em về lo liệu thế nào 
Ðể cho nước chảy lại vào trong mương. 

*** 

Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng 
Khác nào như thể phượng hoàng gặp nhau. 
Tiện đây ăn một miếng trầu 
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là ? 
Xin chàng quá bước lại nhà 
Trước là trò chuyện, sau là nghỉ chân 

***

Trên trời có đám mây xanh 
ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng 
Ước gì anh cưới được nàng 
Ðể anh mua gạch Bát Tràng về xây 
Xây dọc, anh lại xây ngang 
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân 
Hỡi cô gánh nước quang mây 
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng 
Cây ngô đồng cành cao cành thấp 
Ngọn ngô đồng lá dọc lá ngang 
Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng 
Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng 
Từ ngày anh gặp mặt nàng 
Lòng càng ngao ngán dạ càng ngẩn ngơ 
Cái quạt mười tám cái nan 
ở giữa phết giấy hai nan hai đầu 
Quạt này anh để che đầu 
Ðêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này 
Ước gì chung mẹ chung thầy 
Ðể em giữ cái quạt này làm thân 
Rồi ra chung gối chung chăn 
Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu 
Nằm thì chung cái giường tầu 
Dậy thì chung cả hộp trầu ống vôi 
Ăn cơm chung cả một nồi 
Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa 
Chải đầu chung cái lược ngà 
Soi giương chung cả nhành hoa giắt đầu... 

*** 

" - Thuyền ngược hay là thuyền xuôi ? 
Thuyền về Nam Ðịnh cho tôi ghé nhờ ?" 
"Con gái chỉ nói ưỡm ờ ! 
Thuyền anh chật chội còn nhờ làm sao ? 
Miệng anh nói tay anh bẻ lái vào 
" Rửa chân cho sạch bước vào trong khoang" 
Thuyền dọc anh trải chiếu ngang 
Anh thì nằm giữa hai nàng hai bên... 

*** 

Thuyền anh đà đến bến anh ơi ! 
Sao anh chẳng bắt cầu noi lên bờ ? 
Ðặng cơn nước đục lờ đờ, 
Cắm sào đợi nước bao giờ cho trong? 
Con sông kia nước chảy đôi dòng 
Ðèn khêu đôi ngọn em trông ngọn nào ? 
Trông thấp em lại trông cao 
Ngọn đèn sáng tỏ như sao trên trời 
Em ơi gần bến xa vời !

*** 

Thương mình dạ cắt lòng đau 
Những thương mà chết, những sầu mà hư ! 

***

Tay tiên chuốc chén rượu đào 
Ðổ đi thì tiếc uống vào thì say. 
Chẳng chè chẳng chén sao say ? 
Chẳng thương chẳng nhớ, sao hay đi tìm? 
Tìm em như thể tìm chim 
Chim ăn bể Bắc, đi tìm bể Ðông!

*** 

Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây 
Như con chèo bẻo xa cây măng vòi.

***

Thiếp xa chàng hái dâu quên giỏ

Chàng xa thiếp bứt cỏ quên liềm, 
Xuống sông múc nước, 
Ghè lặn dòng trôi... 
Kiếm nơi mô thánh vắng 
Chàng ngồi thiếp than...

***

Trên trời có đám mây vàng 
Bên sông nước chảy có nàng quay tơ. 
Nàng buồn nàng bỏ quay tơ 
Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành. 
Nàng buồn nàng bỏ cửi canh 
Chàng buồn chàng bỏ học hành chàng đi ...

*** 

Trèo lên cây khế nửa ngày 
Ai làm chua xót lòng mày khế ơi? 
Mặt trăng sánh với mặt trời 
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng. 
Mình ơi, có nhớ ta chăng? 
Ta như sao Vược nhớ trăng giữa trời. 

***

Trên Tràng Thi dưới lại Tràng Thi 
Ai đem nhân ngãi tôi đi đằng nào? 
Trên Hàng Ðào,dưới lại hàng Ðào 
Ai đem nhân ngãi tôi vào Tràng Thi? 

***

Ước gì sông rộng một gang 
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi !

***

Ước gì anh hóa ra hoa 
Ðể em nâng lấy rồi mà cài khăn. 
ước gì anh hóa ra chăn 
Ðể cho em đắp, em lăn, em nằm ! 
ước gì anh hóa ra gương 
Ðể cho em cứ ngày thường em soi. 
ước gì anh hóa ra cơi 
Ðể cho em đựng cau tươi, trầu vàng.

***

Vợ chồng là nghĩa tao khang
Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau

*** 

Vào vườn hái quả cau xanh 
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu. 
Trầu này têm những vôi tầu 
Giữa thêm cát cánh hai đầu quế cay 
Trầu này ăn thật là say 
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng 
Dù chẳng nên vợ nên chồng 
Xơi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương ! 

***

Vị gì một mảnh tình con 
Làm mê tài tử rút khôn anh hùng. 
Thà rằng chẳng biết cho xong 
Biết ra thêm để tấm lòng sầu riêng

***

Vì sông nên phải lụy đò
Vì chiều tối, phải luỵ cô bán hàng.
vì tình nên phải đa mang
Vì duyên thiếp biết quê chàng ở đây.

***

Xa xôi dịch lại cho gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.
Chuồn chuồn mắc phải tơ vương
Nào ai quấn quít thì thương nhau cùng.

***

Yêu nhau con mắt liếc qua
Kẻo chúng bạn biết, kẻo cha mẹ ngờ. 

Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo dưới cành hoa sen
Nếu được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Hay là mai mượn về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền treo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

Chợ chiều nhiều khế ế chanh
Giả đi đòi nợ, mong anh kẻo buồn

Đũa mun bịt bạc anh chê
Đũa tre lau cạnh, anh mê nỗi gì

Tới đây lạt miệng thèm chanh
Mặc dù nhà đã có cam sành chín cây

Con cá đối nằm trong cối đá
Chim đa đa dậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy lại lấy chồng xa
Một mai cha yếu mẹ già
Miếng rách ai vá, miếng lành ai may

Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Chiều chiều ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đi dống lửa như ngồi đống than

Sao Hôm chờ đợi sao Mai
Trách lòng sao vượt thương ai băng chừng

Cành đào lá liễu phất phơ
Lấy ai thì lấy , đợi chờ nhau chi

Chiếc khăn cô đội trên đầu
Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi
Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời
Trao cô thì tiếc , giữ thời không yên

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Đời anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa tay chân
Đừng rửa lông mà chết cá ao anh

Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau

Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước biếc xin đừng xa nhau

Nắng lên cho héo lá lan
Cho đáng kiếp chàng , phụ rẫy tình xưa
Nắng lên cho héo ngọn dừa
Đánh chết chẳng chừa cái thói đổi thay
Nắng lên cho héo nhánh mai
Tôi rủa tối ngày kẻ chẳng thủy chung

Trèo lên trái núi Thiên Thai
Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây
Đôi ta được gặp nhau đây
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng

Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười chín đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình

Chừng nào đá nát vàng phai
Biển hồ lấp cạn mới sai lời thề
Trăm năm lòng gắn dạ ghi
Dầu ai đem bạc đổi chì cũng không
Quạ kêu nam đáo chữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương

Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm

Muốn nằm đã có võng đào
Dài lưng có áo cẩm bào vua ban

Đi đâu cho Thiếp đi cùng.
Đói no Thiếp chiụ.
Lạnh lùng thiếp cam.

Hỡi cô ta't nươ'c bên đàng
Sao cô mu'c a'nh trăng vàng đổ đi ?

Trăng lên đỉnh nu'i trăng nghiêng
Nhơ' em anh những sầu riêng một mình

Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê em bé, không nằm với em
Đến năm mười tám đôi mươi
Em nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường, gẫy một còn ba
Em về nói với mẹ cha
Chồng em nay đã giao hòa cùng em

Lấy chồng từ thuở mười ba
Đến năm mười tám thiếp đà năm con
Ra đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi ngang chỗ lội đánh rơi mất chồng

Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ, gánh gồng đi chơi
Giữa đường quang đứt, lọ rơi
Bò ra lổn ngổn, chín nơi chín chồng

Hai tay bưng dĩa muô'i gừng
Gừng cay muô'i mặn xin đừng phụ nhau

Ngọt ngào câu ha't ca dao
Mà nghe cay đă'ng xo't đau chu't gì ?
Thương yêu tro'i buộc làm chi ?
Đọa đày một kiê'p tình si ngở ngàng
Nê'u mai thiê'p lỡ phụ chàng
Gừng cay muô'i mặn xin đừng tra'ch nhau
Cuộc đời lă'm nỗi bể dâu
Tình yêu lă'm nỗi cơ cầu ai hay ?

Tóc mai sợi vắn , sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm

Mượt mà biển hẹn xa xăm
Chuốt trau chi cũng lời ngầm đó thôi
Tình yêu nếu phải vẻ vời
Trăng cao núi biếc lả lơi chút tình
Bọt bèo phận số linh đinh
Lấy nhau không đặng chỉ mình thở than
Đò xưa bến cũ ngỡ ngàng
Xa nhau ngàn da+.m còn mang nỗi sầu

Em nói với anh như rựa chém xuống đất
như mật rót vào tai
Bây giờ em đã nghe ai
Thấy anh ngả nón nghiêng vai chẳng chào

Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu

Chiêù chiê``u chim vịt kêu chiêù
Bâng khuâng nhớ bạn chín chiêù ruô.t đau ..

Thò tay bứt cọng rau ngò
Thương anh đứt ruô.t giả đò nhó lợ.

Lòng đâu lòng nhớ ngươì dưng
Dạ đâu dạ nhớ ngươì dưng lạ lùng ..

Quyết lòng chờ đợi trò thi
Dầu ba mươi tuổi lỡ thì cũng ưng

Dốc một lòng lấy chồng hay chữ
Để ra vào kinh sử mà nghe

Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ

Quay tơ thi giữ mối tơ
Dầu năm bảy mối cũng chờ mối anh

Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mơ thiếp khêu

Hai tay bưng quả bánh bò
Giấu cha giấu mẹ cho trò đi thi

Tóc em dài em cài bông hoa lý
Miệng em cười có ý thương anh

Lên non bẻ lá họa hình
Họa cho thấy mặt kẻo tình nhớ thương

Cây trên rừng hóa kiểng
Cá dưới biển hóa long
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng
Đến đây trời khiến đem lòng thương em

Đi ngang nhà má
Tay tôi xá chân tôi qùy
Lòng thương con má xá gì thân tôi

Củi đậu nấu đậu ra dầu
Lấy em không đặng cạo đầu đi tu

Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy em không đặng thương hoài ngàn năm

Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưả
Mận hỏi thời đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!...

mưa xưa lác đác vườn đào
công anh đắp đâ't ngăn rào trô`ng hoa
ai làm gió táp mưa sa ?
cho cây anh đô? cho hoa anh tàn ...

Khen thay cho đóa hoa đào
Dung nhan khả ái làm nao đất trời
Chim xanh xin hỏi đôi lời
Nhụy đào đã bẻ cho người nào chưa?

(ST)
 

Điểm mặt những ngôi chùa Khmer độc đáo

Điểm mặt những ngôi chùa Khmer độc đáo

Những ngôi chùa của người Khmer Nam Bộ có kiến trúc vô cùng độc đáo không nơi nào có được. Chính vì thế, không chỉ là nơi sinh hoạt tinh thần của đồng bào, những ngôi chùa này ngày càng được đông đảo du khách đến thăm quan, chiêm ngưỡng.

Hiện khu vực ĐBSCL có khoảng 600 ngôi chùa Khmer. Trong số đó có rất nhiều chùa cổ vài trăm tuổi được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia và trở thành điểm đến hấp dẫn với nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Đất Việt xin giới thiệu một số ngôi chùa nổi tiếng dưới đây:

Chùa Dơi

Chùa Dơi được xây dựng năm 1569 với tên khai sinh theo ngôn ngữ Khmer Sêrây Têchô Mahatúp, còn được gọi theo tiếng Việt là Chùa Mã Tộc. Chùa nằm trên địa phận tỉnh Sóc Trăng. Cái tên chùa Dơi được nhân dân quen gọi hơn cả vì có một đàn dơi hàng vạn con cư trú trong vườn chùa.

Chùa Dơi nổi tiếng với kiến trúc đẹp và đàn dơi lạ hàng vạn con trú trong vườn chùa.

Chùa Dơi còn nổi tiếng là một quần thể kiến trúc đẹp vào bậc nhất với mái hai lớp ngói mầu. Phía đầu hồi, bốn đầu mái được chạm trổ tinh xảo hình rắn Naga cong vút. Trên đỉnh chùa có một ngọn tháp nhọn. Hàng cột đỡ bao quanh chùa, mỗi cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực như đang cất lời đón chào khách thăm viếng…

Ngay từ cổng vào cho đến kiến trúc mái chùa đã toát lên nét tinh xảo đặc trưng. Những họa tiết vẽ trên cột, trần, khu nhà có tượng Phật nằm tuy không có nhiều tiểu tiết, nhưng cũng đủ mô phỏng tín ngưỡng của người Khmer. Những bức họa lớn do các Phật tử từ nhiều nơi thực hiện gần kín hết các bức tường phía ngoài.

Chùa Tổng Quản

Chùa thuộc xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, có tuổi đời trên 300 năm. Nơi đây không chỉ là nơi sinh họat văn hóa tinh thần gắn liền với lịch sử cộng đồng dân cư, mà ghi dấu lịch sử cách mạng suốt  2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Cuối thế kỷ thứ 17, dưới sự trụ trì của hòa thượng Danh Hoàng (Tà Hoang), đồng bào người Khmer và phật tử ở đây đã khai phá rừng hoang, đuổi thú dữ, dựng lên một ngôi chùa thờ Phật. Khi mới dựng, ngôi chùa có tên gọi theo tiếng Khmer là KOMPÔNG KROBÂY (Chùa Bến Trâu). Đến năm 1948, chùa Tổng Quản được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố (chỉ giữ cột kèo cũ) với lối kiến trúc đặc sắc của ngôi chùa khmer truyền thống.

Từ năm 1952, chùa được gọi là WATT SARÂY SUASĐÂY (Chùa Tự do – Hạnh phúc) đồng bào địa phương cũng quen gọi là chùa Tổng quản.

Chùa Chén Kiểu

Chùa có tên tiếng Khmer làWath Sro Loun, hay Wath Chro Luông, là một ngôi chùa nằm trên Quốc lộ 1A, cách thị xã Sóc Trăng 12km về hướng Tây, hướng từ thị xã Sóc Trăng đi Bạc Liêu.

Chùa đeoh và đặc sắc bởi được trang trí từ những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường. 

Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1815. Theo những người già kể lại, địa điểm xây dựng chùa Sà Lôn đã được dời chỗ 3 lần và đến lần thứ 3 ở ngay địa điểm hiện tại.

Tên của chùa được lấy tên từ một tên của một con sông chạy dọc theo đường làng trước kia, có tên Chro Luong (lối), nên lúc đầu mới xây dựng, chùa được gọi là Wath Chro Laung, về sau đọc chại thành Sro Lôn, hay Sà Lôn.

Sở dĩ chùa Sà Lôn có tên gọi là Chén Kiểu docó nét đặc sắc là những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường để trang trí.

Trong Chiến tranh Việt Nam, ngôi chánh điện của chùa bị sập do bom đạn. Năm 1969, chùa được trùng tu, đến năm 1980 thì hoàn thành. Trong khi trùng tu lại phần sau ngôi chánh điện, do thiếu kinh phí nên các vị sư sãi cùng ban quản trị chùa đã nảy ra sáng kiến lấy những mảnh vỡ chén kiểu đắp vào. Khi du khách thập phương đến chùa tham quan, đã thấy được sự khác biệt trong việc sáng tạo phong cách xây dựng chùa nên gọi chùa Sà Lôn là Chén Kiểu.

Chùa Ghôsitaram

Chùa thuộc ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu. Hòa thượng Hữu Hinh, trụ trì Ghôsitaram, cho biết chùa được xây dựng năm 1860, là cái nôi của phong trào tu học. Đến nay, đã đào tạo thành danh hơn 3.500 tăng sinh và học sinh. Chùa không chỉ là nơi tu học, rèn đức luyện tài cho giới tăng sinh, mà còn tổ chức các lớp học bổ túc văn hóa cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Ngoài những ngọn tháp cao chót vót, chùa còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc

Năm 2001, chùa được trùng tu và xây mới phần chính điện theo kiến trúc cổ kết hợp với kiến trúc hiện đại, hài hòa giữa kiến trúc truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer với tinh hoa văn hóa dân tộc.

Ngoài những ngọn tháp cao chót vót còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc. Bên ngoài và phía trong của chánh điện được điêu khắc tỉ mỉ với hàng trăm hình tượng khác nhau theo truyền thuyết Tam tạng kinh của Phật giáo. Khắp nơi trong chánh điện đều được chạm trổ, đắp đường nét hoa văn phức tạp và độc đáo bằng bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Khmer, tạo thành một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Để hoàn thành chạm trổ hoa văn cho ngôi chánh điện, nghệ nhân Danh Sà Rinhông đã mất khoảng 4 năm.

Công trình sẽ trường tồn để làm nơi tu hành, làm lành, lánh dữ theo con đường thiện pháp của Phật giáo. Ngoài chánh điện, nhiều hạng mục phụ khác cũng được xây dựng như đôi cột phướn, hai nhà tháp thờ hài cốt tập thể, đài hỏa táng, nhà để ghe ngo.

Chùa Vàm Ray

Chùa Vàm Ray khánh thành năm 2010 tại tỉnh Trà Vinh. Đây là ngôi chùa Khmer đến thời điểm hiện tại là lớn nhất Việt Nam do ông Trầm Bê tài trợ phục chế và cải tạo, trong thời gian 3 năm với tổng kinh phí hơn 1 triệu USD.

Chùa Vàm Ray mang đặng trưng kiến trúc Angkor và hiện là ngôi chùa Khơ me lớn nhất Việt Nam.

Chùa Vàm Ray mang đặng trưng kiến trúc Angkor của người Campuchia với hai cấp sân rộng bao quanh ngôi chánh điện, được tráng xi măng. Mái  có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có tháp nóc.

Chi tiết, hoa văn được chạm khắc tỉ mỉ bằng đất sét, đặt trên 1 bàn lớn, xong họ áp vữa – bê tông vào để đổ thành khuôn, họ dùng những khuôn này để tạo nên những chi tiết, hoa văn trên công trình.

Đỉnh cao nghệ thuật ở chùa thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang, như tượng đầu vị thánh bốn mặt Maraprum là tiền thân của Brahma, vị thần sáng tạo ra thế giới, nữ thần Kayno nửa người nửa chim, chim thần Marakrit. Trên những hàng cột là phù điêu các tiên nữ và quái vật; thánh bốn mặt Maraprum “đội đèn” ở chi tiết lan can; những hàng cột phía ngoài chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc cổ Cô-ranh, phía trên tiếp giáp giữa đầu cột với mái chùa có tượng thần Krud mình người đầu chim, mỏ ngậm viên ngọc với hai tay đỡ mái chùa…

theo Đất Việt

 

Bức huyết thư của một công chúa

Việc một công chúa dùng máu viết câu đối tặng ngôi chùa mà mình từng đáo qua thuở còn nguy nan, bất trắc quả là chuyện xưa nay hiếm trên đời. Bút tích ấy càng trở nên có giá trị vì những lời trong câu đối ấy như soi rọi, minh chứng cho cái tâm của người xuất gia.

Nằm trên đất Trấn Biên xưa (nay là thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), nhắc đến chùa Đại Giác, khách hành hương và người mộ đạo phương xa thường liên tưởng đến ngôi cổ tự u tịch hơn 300 năm tuổi còn giữ nguyên dáng kiến trúc xưa cùng bản “lý lịch” nhuốm màu thăng trầm, hư hư thực thực.

 Theo bước chân của những người lòng đang hướng về đất Phật đến vãn cảnh Đại Giác tự, bên cạnh những hiểu biết sơ sài ấy, chúng tôi may mắn được nhiều bậc cao niên bật mí rằng không chỉ từng lưu dấu bước chân quân vương, Đại Giác tự còn sở hữu những bảo vật vua ban, đặc biệt là câu đối được viết bằng máu của công chúa Ngọc Anh, con gái vua Minh Mạng. Đâu là sự thật?
 Cách thành phố Biên Hòa khoảng 1km và cách TP HCM khoảng 30km về hướng Đông Nam, theo các bậc cao niên, xưa kia chùa Đại Giác thuộc địa phận thôn Bình Hoàng, xã Hiệp Hòa, tổng Trấn Biên (nay thuộc ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa). Bên dòng Đồng Nai chở đầy phù sa đang ngày đêm tắm mát Cù Lao phố (tên gọi xưa nơi phát tích chùa Đại Giác), bà Hà Thị Hải, pháp danh Chơn Nguyên, Phật tử chùa Đại Giác, bật mí: “Nghe các bậc cha chú truyền kể, chùa Đại Giác lúc ban sơ có kiến trúc nhỏ hẹp với vách ván, cột gỗ lợp ngói âm dương. Sau này chùa bề thế, được nhiều người tìm đến hương khói nhờ lệnh kiến tạo, trùng tu của 2 đời vua Gia Long, Minh Mạng và công chúa Ngọc Anh”. 
Theo tư liệu xưa còn lưu tại Giáo hội Phật giáo Đồng Nai, vào giữa thế kỷ XVII có 3 nhà sư đến Đồng Nai hoằng hóa Phật giáo. Men theo vùng đất ven sông Đồng Nai, nhà sư Thành Nhạc cùng một số Phật tử dựng lên chùa Long Thiền vào năm 1664 (nay là xã Bửu Hòa). Nhà sư thứ 2 có pháp danh Thành Trí theo đoàn di dân làm nghề khai thác đá trên núi Bửu Long và tạo dựng nên chùa Bửu Phong (1679). Vị sư cuối cùng là Thành Đẳng và một số người chèo ghe đến Cù Lao Phố khẩn hoang và dựng nên chùa Đại Giác vào năm 1665.
Pho tượng Phật vua ban ở chùa Đại Giác.

Bên tượng Phật bằng đá cẩm thạch dưới gốc cây bồ đề cổ thụ cao hơn 30m, cội rễ u nần ước hơn 200 năm tuổi gắn với truyền khẩu “vào những đêm trăng sáng tượng phát ra ánh hào quang huyền hoặc, những ai được thấy luồng ánh sáng ấy thì bao dã tâm, toan tính sẽ lắng đọng, một lòng hướng thiện, từ bi, những tham-sân-si từ đây chỉ là khái niệm xa lạ”, cụ bà ngoài 80 tuổi pháp danh Nguyên Sa bật mí, chùa Đại Giác còn được dân gian gọi là “chùa Phật Lớn”. Căn nguyên của tên gọi này bắt nguồn từ bảo vật vua ban cho chùa là một tượng Phật khổng lồ vào năm 1802.

Để minh chứng lời nói của mình có cơ sở, bà cụ gửi tặng chúng tôi quyển kỷ yếu về chùa do Ban quản lý Di tích danh thắng Đồng Nai xuất bản. Theo nội dung của quyển sách này, vào năm 1779, trên đường trốn chạy sự truy kích của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh cùng công chúa thứ 3 là Nguyễn Thị Ngọc Anh đã đến trú ngụ tại chùa. Khi lên ngôi vua lấy niên hiệu Gia Long, nhớ ơn xưa, vào năm 1802 (Gia Long nguyên niên), Nguyễn Ánh đã ban chiếu trùng tu ngôi chùa và cho tạc pho tượng A Di Đà bằng gỗ quý cao 2,25m.

Để cận cảnh bảo vật vua ban, chúng tôi lần bước vào chánh điện và ngay lập tức bị vóc dáng thư thái, gương mặt nhân từ, siêu linh cùng ánh vàng huyền bí của pho tượng khổng lồ hơn 200 năm tuổi, hút chặt. Tượng với gương mặt nhân từ, mắt nhắm nghiền thoát tục, đầu tỏa hào quang, toàn thân toát nên vẻ thanh thoát, bình yên, với màu vàng huyền bí, được bố trí ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất của chánh điện, phía dưới là hàng chục tượng cổ bằng các chất liệu đất nung, gỗ quý được tạc từ gỗ nguyên khối của các loài danh mộc như lim, sến, gụ, trắc… như tượng các vị Ngọc Hoàng, Thiên Bồng, Tiên Tướng, Nam Tào, Bắc Đẩu…

Kiến trúc cổ kính của chùa Đại Giác là điểm dừng chân của biết bao tao nhân mặc khách.

Theo tâm tình của các bậc cao niên, qua bao biến chuyển của thời cuộc và ánh mắt cú vọ của những kẻ săn tìm vàng mà pho tượng còn được bảo vệ nguyên vẹn đến hôm nay là cả kỳ công của bao thế hệ sư trụ trì chùa và người dân vùng đất Trấn Biên. Các cụ xưa kể lại khi thôn tính Nam Kỳ, thực dân Pháp tổ chức vơ vét nhiều của cải, đặc biệt là các cổ vật ở các đình-đền-chùa-miếu. Để bảo vệ pho tượng vua ban tránh nạn bị mang đi hoặc đập phá để xem trong thân tượng có giấu vàng, lúc bấy giờ lớp sơn vàng của pho tượng đã được tiền nhân thay bằng màu xanh, đỏ nhìn cứ như tượng được đắp bằng bê tông. Cũng từ tâm tình của bà Hải, chúng tôi được biết người đời đồn đại rằng sở dĩ tượng A Di Đà vua ban cho chùa Đại Giác luôn toát ra mùi thơm thoang thoảng dễ chịu là nhờ ẩn trong thân tượng có trầm và kỳ nam. Chẳng biết thực hư chuyện này như thế nào nhưng điều mà bất kỳ cư dân cựu trào nào ở vùng đất Trấn Biên đều rành rẽ chuyện, tượng vua ban là bảo vật đặc biệt trong nhiều bảo vật khác của chùa Đại Giác.

Còn chưa hết ngỡ ngàng trước phong thái vô ưu và những tình tiết ly kỳ của pho tượng từng một thời được người đời râm ran là “tượng Phật vàng khổng lồ”, chúng tôi rất đỗi xúc động khi được một sư cô ở chùa cho biết chùa còn đang lưu giữ 2 di vật quý báu khác liên quan đến Công chúa Ngọc Anh. Báu vật đầu tiên là tấm hoành phi Đại Giác Tự dài khoảng 2m, chữ vàng nổi bật trên nền vải đỏ, được Công chúa Ngọc Anh phụng cúng vào năm 1820. Ni sư Thích Nữ Diệu Trí, trụ trì chùa, cho biết, vào năm 1820, vua Minh Mạng ban lệnh tu sửa lại chùa. Nhân dịp này, công chúa Ngọc Anh đã cúng chùa bức hoành phi treo trước chánh điện từ đó đến nay. Công chúa cũng cắn ngón tay dùng máu viết trên lụa tặng chùa câu đối. Hiện bút tích ấy của công chúa vẫn được nhiều thế hệ sư trụ trì trân trọng lưu giữ.

Bức hoành phi “Đại Giác tự” do công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh dâng cúng.

Không chỉ chúng tôi mà nhiều người khi biết được bí mật về bức huyết thư của công chúa Ngọc Anh, cảm giác bồi hồi, xao xuyến pha lẫn niềm xúc động cứ thế trào tuôn. Bức huyết thư được lồng trong khung kính, được tiền nhân phiên ngữ và tạm dịch với nội dung như sau:

Ưng-Ngọc Anh công chúa mệnh đề-Biên Hòa, Đại Giác cổ tự.

Đại than nguyên chính đạo, quán danh lợi vị phong trần bào ảnh đáo đầu, vô đắc vô minh, chư bàn thị huyễn.

Giác ngộ hóa huyền cơ, chiếu tham sân si sắc tướng chân như, cứu cánh bất sinh bất diệt, ngũ uẩn giai không.

Thiên vận Giáp Dần. Mạnh hạ cát nhật“.

Tạm dịch: “Kính ghi-Công chúa Ngọc Anh – Đại Giác cổ tự, đất Biên Hòa. Làm người trong chính đạo, phải xem danh lợi như gió bụi, như bóng nước xoáy vần, chẳng thấu vô minh, tất cả chỉ là huyễn.

Tỏ ngộ được huyền cơ, soi rọi được tham sân si, sắc tướng của chân như rốt cuộc chẳng sanh diệt, năm uẩn đều là không.

Vận trời năm Giáp Dần. Ngày tốt tháng đầu mùa hạ“.

Việc một công chúa dùng máu viết câu đối tặng ngôi chùa mà mình từng đáo qua thuở còn nguy nan, bất trắc quả là chuyện xưa nay hiếm trên đời. Bút tích ấy càng trở nên có giá trị vì những lời trong câu đối ấy như soi rọi, minh chứng cho cái tâm của người xuất gia. Không chỉ các thế hệ nhà sư tu hành tại chùa Đại Giác, những tăng ni, Phật tử qua bao đời đều xem ý nghĩa của những dòng tuyệt bút ấy của công chúa Ngọc Anh là kim chỉ nam dẫn dắt mình đến bến bờ của cõi Phật.

Chiều tà, trong ánh nến mờ mờ ảo ảo, đứng trước bức huyết thư được treo trang trọng trên thân cây cột bằng gỗ lim lên nước bóng loáng, như nhiều người khác, chúng tôi thấy lòng dạ mênh mang, như thấy thời gian quay ngược trở lại với bóng dáng đài các của cô công chúa tuy sống trong gấm vóc lụa là nhưng vẫn xem danh lợi như gió bụi, mọi của cải, quyền lực chỉ là huyễn mà thôi!

Chùa Đại giác có diện tích 3000m2. Khởi nguyên chùa được bố trí xây dựng hình chữ Nhị, qua nhiều lần trùng tu chùa có kiến trúc hình chữ Đinh. Năm 1952 (Nhâm Thìn), do lũ lụt chùa bị mối ăn nhiều nên các bô lão người địa phương vận động bá tánh đóng góp công của trùng tu. Đến năm 1960, trụ trì chùa lúc bấy giờ là Hòa thượng Huệ Minh cho trùng tu lại tòa bộ hệ thống cột, tường bao bằng vật liệu tạo nên quy mô kiến trúc như hiện tại. Sự kết hợp cảnh trí thiên nhiên hài hòa cùng các công trình kiến trúc nghệ thuật đã tạo nên vẻ đẹp hài hòa, uy nghiêm cho ngôi chùa. Chùa Đại Giác đã được Bộ văn hóa thông tin – Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 28/9/1990 theo quyết định số 933/QĐ. 
Theo sử liệu, vào năm 1679, do không chịu khuất phục nhà Thanh nên Tổng binh Trần Thượng Xuyên (triều Minh) đã cùng gia quyến, 3.000 lính thân tín đi trên 40 chiến thuyền xin chúa Nguyễn cho phép khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù Lao Phố ngày nay). Sau hơn 6 thập niên phát triển cực thịnh, trở thành trung tâm thương mại của cả vùng Gia Định, năm 1747 trở về sau, Cù Lao Phố dần suy yếu do các cuộc bạo loạn, binh biến.


Bích Kiều – CSTC tuần số 40
 – http://hoalinhthoai.com
 

Những sách Lịch sử Việt Nam

 

 

 

Quangduc.com

ICONFLASH.jpg (769 bytes) An Nam Chí Lược (pdf). Lê Tắc
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Đại Việt Sử Lược (pdf). Khuyết Danh
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (pdf). Lê Văn Hưu…
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Đại Việt Thông Sử (pdf). Lê Quý Đôn
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Hoàng Lê Nhất Thống Chí (pdf). Ngô Gia Văn Phái
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Khâm Định Sử Việt Thông Giám Cương Mục (pdf). Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Lam Sơn Thực Lục (pdf). Nguyễn Trải
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu (pdf). Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Sử Thi Anh Hùng Ca.(pdf) Trần Trí Trung 
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Thuyền Uyển Tập Anh (pdf). Kim Sơn – Lê Mạnh Thát
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Việt Điền U Linh Tập (pdf). Lý Tế Xuyên
ICONFLASH.jpg (769 bytes) Việt Sử Tiêu Án (pdf). Ngô Thời Sỹ

 

 

 

 

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM (TẬP 1)

Lịch sử tư-tưởng Việt-Nam
Tác giả: Giáo sư Nguyễn Đăng Thục

TỰA

Nhà bác học Pháp-Việt Maurice Durand, hội viên Trường Pháp Quốc Viễn Đông (E.F.E.O) mở đầu diễn thuyết ở Đà Lạt năm 1952 về đề tài “Quelques éléments de l`univers moral des Vietnamiens” (Vài yếu tố của vũ trụ tinh thần người Việt):

“Il est devenu classique de rire que l`âme Vietnamienne est dominée par une synthèmes: Confucianisme, Bouddhisme, Taoisme”.)- B.S.E.I.NS.T.XXVII-1952.

Ba đại truyền thống Á Đông trên đã từ Ấn Độ và Trung Hoa truyền vào Giao Chỉ (đất cổ Việt Nam) và trước khi Giao Chỉ tách ra thành Giao Châu và Quảng Châu năm 203 C.N. Giao Chỉ trong cõi Lĩnh Nam, nơi giao lưu qua lại và dừng chân của các trào lưu văn hóa và chủng tộc, điều kiện sinh tồn tồn tại đòi hỏi có sự tổng hợp sáng là điều dĩ nhiên như tục ngữ nói “Khôn sống, mống chết”.

Xét lịch sử tư tưỏng Việt Nam ngay từ buổi đầu ta thấy Sĩ Nhiếp (187-226) đã tổng hợp Nho giáo chính thống từ phương Bắc xuống với Phật giáo của Khang Tăng Hội từ phương Tây-Bắc Ấn Độ đến Giao Chỉ thế kỷ thứ III đem Thiền học Đại thừa Phật giáo “Thiền độ vô cực”, ví tâm như hoa sen nẩy nở trong nước luôn tươi sáng trong “gần bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn”.

Đồng thời với Khang Tăng Hội và một số đạo sĩ Bà La Môn từ phía Tây Nam đến, như Khâu Đa La tu đứng một chân theo khoa Yoga cổ truyền Ấn Độ đến Giao Chỉ, trung tâm phật học Luy Lâu (Bắc Ninh) có Mâu Bác làm sách “Lý hoặc luận ” để đối phó với các trào lưu tư tưởng tôn giáo đang du nhập và tranh chấp như lời Mâu Tử :

“Sau khi Hán Linh Đế mất rồi (189CN) thiên hạ loạn ly, chỉ có đất Giao Châu (Bắc Việt tách khỏi Quảng Châu sau 203 CN) còn tạm yên. Các Học giả xuất chúng phi thường phương Bắc kéo nhau di cư xuống đây nhiều người chuyên về học thuật Thần Tiên, tịnh cốc, trường sinh. Mâu Tử thường đem sách Ngũ Kinh vặn hỏi, các đạo sĩ và thuật sĩ không ai đối đáp được. Người ta ví ông với Mạnh Kha đối với Dương Chu và Mặc Dịch vậy.” (Tự Tựa Lý hoặc luận)

“Lý hoặc luận” là khái niệm đầu tiên tập đại thành của Văn hóa Giao Chỉ Lĩnh Nam, địa điểm ngã ba giao lưu của các dân tộc và văn hóa. Mâu Tử đã ví các trào lưu tư tưởng, tín ngưỡng tôn giao như ánh sáng “mặt trời, mặt trăng cùng sáng, mỗi đằng có sức chiếu riêng” (nhật nguyệt tinh minh các hữu sở chiếu).

Tập đại thành đòi một nguyên lý chung tổng quát, đại đồng để hệ thống hóa, nhất quán các chủ nghĩa khác nhau. Mâu Tử đã tìm thấy nguyên lý ấy ở Phật giáo Giao Châu, ông viết :

“Tuy đọc ngũ Kinh thích thú, lấy làm hoa, nhưng chưa thành quả vậy. Đến khi tôi coi đến lý thuyết của kinh Phật, xem đến yếu lý của Lão tử, sống đức tính điềm đạm, nghiệm đức hạnh vô vi. Bây giờ quay lại nhìn sự đời khác nào đứng giữa trời cao mà nom xuống ngòi lạch, trèo lên đỉnh núi nhìn xuống gò đống. Sách Nho, ngũ Kinh ví như năm vị, đạo Phật như năm thứ thóc. Từ khi tôi được biết đến nay, thực như vén mây thấy mặt trời, cầm đuốc soi vào nhà tối vậy.”

Đây là hợp sáng đầu tiên ý thức hệ Tam giáo Nho-Đạo-Thích ở Việt Nam xưa, tức Giao Chỉ mà Sĩ Nhiếp đã thi hành vào chính trị ở chức vụ Thái thú Giao Chỉ, kinh đô Luy Lâu (Bắc Ninh).

Sĩ Nhiếp người Thương Ngô, Quảng Tín, tiên tổ vốn người nước Lỗ lánh nạn xuống Lĩnh Nam (Giao Chỉ), truyền đến Sĩ Nhiếp là đời thứ 6, tức là dân bản xứ. Tác phong Thái thú của ông nghiễm nhiên như một ông vua Bà La Môn hùng cứ một châu rộng khắp vạn lý, uy tôn hơn hết, ra vào chuông trống vang lừng, xe ngựa chật đường, các sư sãi tháp tùng cầm nhang có hàng mươi vị, đương thời quý trọng, chấn phục hàng trăm dân Mán dân Mường, thực Triệu Đà xưa cũng không hơn được. Dân Việt tôn xưng Sĩ Vương Tiên, hiện còn đền thờ ở Bắc Ninh, Sử việt tôn làm “Nam Giao Học Tổ” (Ông Tổ học thuật Giao Chỉ Lĩnh Nam). Ông Tổ đây không phải người đem Hán học đầu tiên vào Việt Nam, mà là ông vua đầu tiên thực hành ý thức hệ chính trị Tam giáo khai phóng Khổng, Lão, Phật.

Và cái ý thức hệ ấy đã trở nên truyền thống dân tộc chi phối tư tưởng thời Lý, thời Trần với tinh thần thâu hóa sáng tạo ra thiền phái Việt Thảo Đường và Trúc Lâm An Tử, hai dòng độc đáo, tích cực nhập thể chính trị với các vua thiền sư. Vua Lý Thánh Tông đại biểu ý chí Quốc Gia Đại Việt, thôn nữ Ỷ Lan Quan Âm Nữ đại biểu tình yêu sùng bái của nhân dân nông nghiệp, cùng Thảo Đường Đạo sĩ đại biểu quyền phép thiên nhiên, cả ba tập đại thành Thiền Tông Thảo Đường, lấy chùa Một Cột (Diên Hựu) tượng trưng cho Hoa Sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đấy là tập đại thành thứ hai sau Nam Giao Học Tổ.

Tập đại thành thứ ba là dòng thiền Trúc Lâm An Tử với nhà vua Trần Nhân Tông, Tam Tổ thánh hiền, một vua thánh với Pháp Loa, Huyền Quang, hai nhà hiền với tôn chỉ:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tạc xôn hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tâm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vân thiên

(Ở trong đời hiện thực vui với tâm đạo siêu nhiên; đói thì ăn, mệt thì ngủ yên;
Trong mình cá nhân có Phật tính quý báu đừng đi tìm ở bên ngoài;
Đứng trước cảnh vật mà không có lòng tư hữu, đấy là Thiền còn hỏi làm chi nữa.) (Trần Nhân Tông)

Đấy là tinh thần tam giáo Nho Đạo Thích như vua Trần Thái Tông tuyên bố:
Vị minh nhân vọng phần tam giáo
Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.

(Người chưa giác ngộ đạo lý lầm phân biệt có ba giáo lý Nho, Lão, Phật khác nhau. Khi giác ngộ được tới nơi thì chỉ có một tâm linh vũ trụ.)
Và cái tinh thần Thiền ấy đã cáo chung với Thượng Thừa Thiền của Nguyễn Trãi,
“Ta nếu ở đâu vui thú đấy
Người xưa ẩn cả (Đại Ẩn Thiền Sư) lọ lâm tuyền”
Tự Thán

Sau Nguyễn Trãi, ý thức hệ Thiền Tam giáo khai phóng thời Lý Trần cũng cáo chung. Nhà Lê độc tôn Nho giáo theo Tống Nho “tịch Thích Đạo” bài Phật giáo và Lão giáo, tạo nên ở Việt Nam trong triều đình bè phái tàn sát lẫn nhau gây nên tranh giành, nào Lê Mạc, Lê Trịnh, Trịnh Nguyễn suốt hai trăm năm cho đến ngày mất chủ quyền với thực dân.
Tuy nhiên, trong giới sĩ phu, phản đối chính quyền lại trở về với truyền thống Tam giáo như thiền sư Hương Hải chẳng hạn:

Nguyên lai Tam giáo đồng nhất thể,
Nhậm vận hà tằng lý hữu thiên.

Lịch sử tư tưởng Việt Nam cho ta thấy vận mệnh của dân tộc do truyền thống tập đại thành, thâu hóa sáng tạo, khai phóng hơn là đóng cửa bế quan. Cái tinh thần văn hóa ấy đã phản ánh trong thi phẩm trứ danh của thi sĩ Java là Sutasoma tantular với khẩu hiệu: “Bhimeka Tungal Ika” (Đồng nhất trong sai biệt) tương đương quan niệm của Lê Quý Đôn: “Thù đồ nhi đồng quy, bách lự nhi nhất trí” (Vân Đài loại ngữ) (Đường đi khác nhau mà cùng về một mục đích chung, trăm ý nghĩ mà cùng tới một lý).

Tác giả cẩn chí !

Download trọn bộ tại đây —> http://www.mediafire.com/?b2dfczpl2hxdmd4

—————-
Lịch sử tư-tưởng Việt-Nam
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục
Tập Một
*********

Tập Một

Tư Tưởng Bình Dân Việt Nam

Mục Lục

Tựa
Lời mở đầu
Ý Thức Thần Thoại Và Triết Học
Hai Nguồn Gốc Tư Tưởng Việt Nam
Văn minh Đông Sơn với trống đồng
– Trống đồng – Tài liệu khảo cổ học
– Tài liệu sử ký, thần thoại
– Ngụ ý triết học của Trống đồng
Văn minh Lạch Trường Với Nhà Mồ Thiên Động
– Tín ngưỡng Thiên Động với dân Việt Nam
– Triết lý Thiên Động với quan niệm Thần Tiên
Kết luận

TƯ TƯỞNG BÌNH DÂN

I.- Trạng Thái Sống Tình Cảm Nông Dân
Mùa xuân với đời sống tình cảm Việt Nam
Trẩy hội hành hương

II. – THẦN THOẠI VỚI TÍN NGƯỠNG VẬT LINH
Ý nghĩa Vật Tổ (Totemisme)
Thần thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh
Truyện Đổng Thiên Vương với Sùng Bái
Anh Hùng Dân Tộc
Truyện Tây Qua hay Dưa Hấu, với sự mâu thuẩn giữa Nhân Văn và Thiên Nhiên

III. – QUAN NIỆM VAI TRÒ LÃNH ĐẠO Ở XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP XƯA
Quan niệm vai trò lãnh đạo
Trong xã hội nông nghiệp
– Tổ chức xã thôn với cái Đình Làng
Ý Nghĩa Thần Thoại Trầu Cau, tức Tân Lang với Truyện Man Nương
Tục thờ Cây Đá ở Việt Nam
– Thổ Thần với cây cối
– Nữ Thần với cây cối

IV. – TRƯỜNG ĐẠO NỘI
Đạo lý tự nhiên
– Sự tích Chử Đồng Tử
– Kỳ tích có tinh thần dân tộc ái quốc
– Sùng bái ma thuật
– Tháng tám giỗ Cha: Đức Thánh Trần
– Tháng ba giỗ Mẹ: Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Tục lên đồng với Triết Lý Lên Đồng
– Ý nghĩa của đồng cốt
– Phân tích Văn Chầu Lên Đồng
– Tâm lý lên đồng

V. – PHẬT GIÁO BÌNH DÂN VIỆT NAM
Phật giáo Bình Dân ở Việt Nam
Tín ngưỡng Phật Giáo Bình Dân Việt Nam
Tôn chỉ Nam Hải Quan Âm
– Sự tích Phật Bà Chùa Hương Tích
– Quan Âm Thị Kính

VI. – TRIẾT HỌC BÌNH DÂN TRONG TỤC NGỮ PHONG DAO
– Tư tưởng suy luận bình dân
– Quan niệm Trời, Đất, Người
Trời: Tâm lý và Siêu nhiên
Đất: Ý nghĩa thiên nhiên vật lý
Người: Thái đô
Gia đình
Vợ chồng
Cha con, mẹ con
Quốc gia xã hội

KẾT LUẬN – TỪ VẬT LINH ĐẾN TAM GIÁO
Tiếng nói tượng trưng với những cách biểu thị về siêu nhiên
Đồ biểu cơ cấu xã hội Việt Nam

Download trọn bộ tại đây —> http://www.mediafire.com/?b2dfczpl2hxdmd4
Nguồn trich dẫn: http://truclamyentu.info/


 

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.